Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

ẤN ĐỒNG Ở VIỆN BẢO TÀNG LỊCH SỬ

SATurday - 29/11/2014 08:44
Đối với công tác nghiên cứu giải mã các văn bản Hán Nôm, việc tìm hiểu nghiên cứu về ấn triện là đề tài trực tiếp liên quan đến việc giải mã các văn bản có mang ấn triện. Để thực hiện đề tài nghiên cứu đó, được sự giúp đỡ của cơ quan chủ quản, chúng tôi đã có dịp bước đầu giới thiệu đối với những ấn triện bằng đồng khắc chữ Hán hiện có ở Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam.
Môn hạ sảnh ấn được coi là quả ấn đồng cổ nhất có niên đại rõ ràng ở nước ta. Ấn hiện đang được lưu giữ ở Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

Môn hạ sảnh ấn được coi là quả ấn đồng cổ nhất có niên đại rõ ràng ở nước ta. Ấn hiện đang được lưu giữ ở Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

Tại đây chúng tôi đã tiến hành giám định ngoại hình ấn và rập được những con dấu nguyên vẹn nói chung ít bị sứt sẹo. Số lượng ấn đồng còn lại trong kho là 14 quả, trong đó có 11 quả to và 3 quả nhỏ. Về ngoại hình chúng đều có chung một kiểu, trên ấn không chạm trổ hình gì đặc biệt. Cán ấn tuy to nhỏ, cao thấp, tròn dẹt khác nhau nhưng đều làm theo kiểu chuôi vồ, một chiếc làm kiểu tay quai và 3 quả nhỏ làm theo dạng như quả cân (hình thang). Bề dày mặt quả dầy nhất là 1.5cm và nhỏ nhất: là 0,5 cm. Chiều cao quả cao nhất là 9cm và thấp nhất là 2,2cm. Kích thước quả lớn nhất cỡ 8x8cm và quả nhỏ nhất cỡ 1,9x1,9cm. Hình dấu có 3 cái hình chữ nhật, còn tất cả đều là hình vuông. Bên ngoài mép làm theo khung đường viền, loại to đậm để nét đậm và loại nhỏ để nét mảnh. Tự dạng ấn đều được khắc bằng chữ Triện, một dạng chữ vuông vức và một dạng chữ mềm cong.
 
Về niên đại được khắc trên ấn, tổng số 10 (trên 14 quả) có khắc ghi niên đại ở phần bên trên quả ấn (trong đó có 2 quả phải xác định lại). Ba quả đời Mạc ký hiệu: LSb2529 ghi năm Đại Chính 5 (1534); LSb2531 ghi năm Cảnh Lịch 2 (1549), LSb2530 ghi năm Thuần Phúc 3 (1564). Năm quả đời Nguyễn ký hiệu: LSb2526 ghi năm Minh Mệnh 3 (1822), LSb2528 ghi năm Minh Mệnh 12 (1831), LSb2522 ghi năm Minh Mệnh 15 (1831), LSb2524 ghi năm Minh Mệnh 16 (1835), LSb2418 ghi năm Thiệu Trị thứ nhất (1841). Quả bị mờ chữ đầu có ký hiệu LSb2527 có khả năng là năm Thịnh Đức (1656). Một quả chỉ ghi năm Tân Hợi, mang ký hiệu LSb2525 có thể là năm Quang Trung 4 (1791). Bốn quả còn lại ký hiệu: LSb2519, LSb2520, LSb2521,và LSb2523 không được ghi niên đại.

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
 
Trong số 14 quả ấn đồng này có 5 quả ghi trọng lượng, chúng đều thuộc triều Nguyễn. Ba quả ấn nhà Mạc và 1 quả mờ (Thịnh Đức), có ghi cơ quan sản xuất ấn: "Thượng bảo ty tạo".
 
Bố cục chữ trong dấu sắp xếp vẫn theo kiểu viết chữ Hán: từ trên xuống dưới và từ phải sang trái; có nhiều dạng bố cục, khi giới thiệu từng quả xin trình bày rõ.
 
Ba quả ấn nhà Mạc là những quả ấn có niên đại cổ hơn cả. Quả mang ký hiệu LSb2529; ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, chiều cao 9 cm và dầy 0,8 cm. Trên ấn phía bên trái khắc 6 chữ "Đại Chính ngũ niên nguyệt nhật": (大 正 五 年 月 日) Bên phải khắc 2 dòng chữ liền nhau, dòng ngoài mờ chữ đầu còn 5 chữ: "hải hậu sở chi ấn" (海 後 所 之 印). Dòng bên cạnh khắc 4 chữ "Thượng bảo ty tạo" (尚 寶 司 造) Dấu hình vuông cỡ 7,5x7,5cm chữ Triện, xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ(1).
 
 
 
5 3 1
6 4 2
 
 
 
Như vậy niên đại đã được ghi rõ là năm Đại Chính 5 (1534) đời Mạc Đăng Doanh. Giải mã là 6 chữ: "Hoành hải hậu sở chi ấn" (横 海 後 所 之 印 ).
 
Những chữ khắc trên cũng giúp cho việc giải mã chính xác, và việc giải mã chữ cũng giúp ra tìm ra chữ bị mờ là chữ "Hoành". Tạm dịch là: "Ấn của viên quan hậu sở"(2) thuộc Hải quân nhà Mạc.
 
Ấn thứ hai, ký hiệu LSb 2531, ngoại hình cũng cán chuôi vồ dẹt, cao 9 cm và dầy 0,7cm. Trên ấn bên trái niên đại đề năm Cảnh Lịch 2 (1549) đời Mạc Phúc Nguyên. Bên phải dòng ngoài khắc 6 chữ "Thanh tái tả sở chi ấn" (清 塞 左 所 之 印) dòng bên cũng khắc 4 chữ "thượng bảo ty tạo". Dấu hình vuông cỡ 7,7x7,7cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ (như dấu trên): là 6 chữ "Thanh tái tả sở chi ấn", tức là ấn của viên quan Tả sở Thanh tra các vùng biên tái (Xem ảnh 2).
 
Ấn thứ 3, ký hiệu LSb2530 cán chuôi vồ tròn, cao 9 cm và dầy 0,6 cm. Trên ấn bên trái ghi năm Thuần Phúc 3 (1564) đời Mạc Mậu Hợp. Bên phải khắc 9 chữ hơi bị mờ, riêng chữ thứ 7 mờ hết nét "Khuông trị vệ Lăng Xuyên tiền [sở] chi ấn" (匡 治 衛 凌 川 前 所 之 印 ) dòng bên khắc 4 chữ "Thượng bảo ty tạo". Dấu hình vuông cỡ 8x8. Chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 9 chữ. Những chữ khắc trên tuy bị mờ nhiều và một chữ mất hẳn cũng giúp cho việc giải mã được chính xác và việc giải mã cũng giúp ta khẳng định những chữ mờ và tìm ra chữ mất hẳn là chữ Sở(3). Như vậy 9 chữ mờ dấu là: "Khuông trị vệ Lăng Xuyên tiền sở chi ấn", là ấn của viên quan Tiền sở Lăng Xuyên, thuộc vệ Khuông Trị (quân đội nhà Mạc). Bốn chữ "Thượng bảo ty tạo" của 3 quả ấn này đều giống nhau cho biết chúng đều được sản xuất ở một nơi là Ty thượng bảo.
 
Thời kỳ này nhà Mạc đang xây dựng và củng cố chính quyền riêng, tăng cường thế lực quân sự, chiến đấu với những lực lượng đối lập. Những chiếc ấn này của chức quan thuộc về quân sự, nó cũng giúp ích thêm cho việc nghiên cứu giai đoạn lịch sử lúc đó.
 
Triều Nguyễn với số lượng ấn nhiều hơn, xin giới thiệu 5 quả ấn đã ghi niên đại (Tạm xếp theo thứ tự niên đại).
 
Quả có ký hiệu LSb2526, cán chuôi vồ trên to dưới thuôn, cao 6,5cm và dầy 1,5cm. Phía trên ghi năm Minh Mệnh 3 (1822) và khắc 4 chữ "Vũ khố phụng tạo" (武 庫 奉 造 ) Nơi sản xuất ấn là Vũ khố. Dấu hình vuông cỡ 6x6cm, viền ngoài đậm 0,5cm với 4 chữ triện xếp kiểu vuông góc. Đó là 4 chữ "An lập huyện ấn" (安 立 縣 印). Tức là dấu hành chính huyện An Lập(4).
 
Quả thứ 2, ký hiệu LSb2528, cán chuôi vồ thắt đáy, cao 7cm và dầy 1,2cm. Phía trên ghi năm Minh Mệnh 12 (1831) và ghi trọng lượng nặng 12 lượng, 5 tiền, 3 phân. Dấu hình vuông cỡ 7,5x7,5cm, viền ngoài đậm 1cm, 8 chữ triện xếp theo 4 hàng dọc "Hưng hóa Bố chính sứ ty chi ấn" (興 化 布 政 使 司 之 印) nét chữ hơi cong mềm, khuôn chữ nhỏ và dài để cân đối với bố cục dấu hình vuông. Đây là dấu quan Bố chính sứ trấn Hưng Hóa(5).
 
Quả thứ 3, ký hiệu LSb 2522: Đây là quả ấn đồng duy nhất có cán kiểu tay quai, cao 3,5cm và dầy 1,2cm. Niên đại ở dấu ghi năm Minh Mệnh 15 (1834), trọng lượng ghi nặng 7 lượng, 3 tiền, 6 phân. Dấu hình chữ nhật cỡ 5,8x4,3cm, viền ngoài nét nhỏ 1mm với 5 chữ triện xếp theo bố cục dấu nhân (x) chữ thuôn dài, riêng chữ ở giữa (3) dài gấp 2 lần những chữ kia, thể hiện bố cục cần đối lấp chỗ trống, 5 chữ "Kỷ Sơn thừa đồ ký" (祈 山 丞 圖 記 ). Đây là dấu Huyện thừa huyện Kỳ Sơn(6).
 
 
 
4 1
5 2
 
 
 
Quả thứ 4, ký hiệu LSb2524, cán chuôi vồ thắt dây, cao 7cm và dầy 1,2cm, trên dấu ghi năm Minh Mệnh 16 (1835) nặng 12 lượng. Dấu hình chữ nhật cỡ 7,8x4,8cm viền ngoài đậm 0,3cm, 8 chữ triện "Hưng Hóa phó lãnh bình quan quan phòng" (興 化 副 領 兵 關 防) xếp theo chiều dọc 3 hàng (2 chữ) ở giữa dài gấp rưỡi những chữ kia là dấu của quan phó lãnh binh trấn Hưng Hóa
 
Quả thứ 5 ký hiệu LSb2418, cán chuôi vồ thắt dây, cao 7cm và dầy 1,3cm. Ghi năm Thiệu Trị thứ nhất (1811), nặng 12 lượng. Dấu hình vuông cỡ 6x6cm, viền ngoài đậm 0,5cm, 4 chữ triện: "Hạ Hồng huyện ấn" (下洪縣印). chữ xếp kiểu hình vuông, giống quả LSb2526. Đây là dấu hành chính huyện Hạ Hồng(7)
 
Quả ấn phải xác định lại niên đại mang ký hiệu LSb2527 cán chuôi vồ dẹt, dưới to trên nhỏ dần, cao 8,5cm và dầy 1cm. Dấu hình vuông cỡ 6,5x6,5cm. Trên ấu phía bên trái đề 6 chữ (mờ chữ đầu) " ?? Đức tứ niên nguyệt nhật" ( … 德 四 年 月 日) bên phải dòng ngoài bị mờ, dòng trong đề 4 chữ "Thượng bảo ty tạo". Chữ đầu niên đại bị mờ, qua nét chữ còn lại cộng với việc xác định 15 trường hợp niên đại có chữ thứ 2 là "đức" chúng tôi thấy có khả năng đây là chữ "Thịnh Đức" (盛 德). Năm Thịnh Đức thứ 4 là năm 1656 đời Lê Thần Tông. Ty thượng bảo vẫn tồn tại ở thời kỳ Hậu Lê, đấy là nơi sản xuất ra quả ấn này. Ấn có dấu hình vuông cỡ 6,5x6,5cm, viền ngoài để đậm 0,5cm, 4 chữ triện xếp theo hình vuông cỡ 2,4x2,4cm, khắc vuông vức rõ nét, đó là 4 chữ "khâu xuyên chi ấn" (丘 川 之 印). "Khâu Xuyên" là sông Khâu có thể là sông Khâu Ôn(8) mà người ta lấy chữ Khâu Xuyên làm địa danh những vùng đất có sông Khâu chảy qua và một trong những quận vương nào đó được phong đất ở địa hạt này. Khả năng đây là dấu của chức quan coi địa hạt vùng Lạng Sơn.
 
Quả ấn mang ký hiệu LSb2525 niên đại ghi không rõ, cán chuôi ngắn to tròn, dưới thuôn dần. Cao 4,5cm và dầy 0,9cm. Dấu hình chữ nhật, cỡ 9,6x6,2cm trên ấn phía bên phải khắc chữ "Tân Hợi niên đông tạo" (辛 亥 年 冬 造 ) và 10 chữ bên trái "Suất trung lương nhị vệ tam hiệu Trung lang tướng" (率 忠 良 二 衛 三 校 中 郎 將). Việc xác định niên đại quả ấn này không dễ dàng, vì có nhiều năm Tân Hợi. Qua những tư liệu có được với nhận xét sơ bộ chúng tôi thấy các con dấu thời Lê, Mạc và Nguyễn chữ cuối cùng trong dấu thường dùng chữ ấn (印), quan phòng (關 防). Đồ ký (圖 記)... ngay cả trong quân sự. Riêng thời Quang Trung không dùng. Tại phòng trưng bày ở Viện Bảo tàng lịch sử, có một quả ấn đồng thời Tây Sơn được ghi là đúc năm Quang Trung thứ 4 (1791) với 9 chữ khắc trên mặt "Suất hùng cư quan hệ ngũ hiệu đô ty". Về ngoại hình, độ mòn cũ và kiểu chữ khắc trên dấu giống như quả ấn ký hiệu LSb2525 này. Do đó năm Tân Hợi ghi trên ấn có khả năng là năm Tân Hợi niên hiệu Quang Trung 4 (1791), ấn được đúc vào mùa đông năm đó. Dấu có viền ngoài để đậm 0,7cm, chữ Triện uốn theo hình chữ nhật 3 hàng 10 chữ. Việc giải mã thuận lợi do được những chữ khắc trên ấn, dùng để so sánh 10 chữ triện của dấu là 10 chữ khắc ở trên: "Suất trung lương nhị vệ tam hiệu Trung lang tướng". Đây là dấu của viên Trung lang tướng ở hiệu quân thứ 3, vệ thứ 2 hàng trên Suất Trung lương (trong đội quân của Quang Trung Nguyễn Huệ).
 
Bốn quả ấn đồng còn lại không được ghi niên đại. Quả có ký hiệu LSb2523 chỉ ghi trọng lượng nặng 15 lượng, chiều cao 5,5cm và dầy 1,5cm. Dấu hình vuông cỡ 6,5x6,5cm. Qua ngoại hình ấn cộng với chữ ghi trọng lượng và hình thức dấu nói chung giống những quả ấn triều Nguyễn trên, nên chỉ có thể xác định ấn thuộc về đời Nguyễn. Ba quả ấn còn lại có ký hiệu LSb2519, LSb2520, LSb2521 là những quả ân nhỏ hình thang (4 cạnh) có cùng chiều cao 2,2cm, mặt trên cỡ 1,3x1,3cm, mặt dưới cỡ 1,9x1,9cm. Chữ dấu 2 quả bị mờ, còn 1 quả rõ hơn là dấu hình vuông cỡ 1,9x1,9cm, 2 chữ triện xếp theo bố cục chiều ngang là 2 chữ An Lập (安 立). Đây là dấu rút gọn của ấn "An Lập huyện ấn" (安 立 縣 印)... LSb2526 đã trình bày ở trên hai chữ "huyện ấn" đã được lược đi. Như vậy niên đại của ấn này cũng được xác định một cách tương đối, chắc chắn nó có niên đại khoảng năm Minh Mệnh thứ 3 (1822). Hai quả ấn nhỏ kia có ngoại hình kích thước và kiểu chữ triện giống như ấn này, nên chỉ có thể khẳng định chúng được làm ra ở triều Nguyễn.
 
Liên quan đến số ấn đồng mà chúng tôi giới thiệu trên đây, tại viện Bảo tàng Lịch sử còn có một quả ấn ngà duy nhất, ký hiệu LSb463/GI.253 về ngoại hình giống 3 quả ấn đồng nhỏ, phía trên không ghi niên đại. Dấu hình vuông cỡ 2,5x2,5cm, viền ngoài nét nhỏ 1mm, 4 chữ triện "Hưng Hóa Án sát" (興 化 按 察). Như quả ấn đồng nhỏ đã nói trên, đây cũng là con dấu rút gọn của ấn lớn "Hưng Hóa Án sát sứ ty ấn" (興 化 按 察 使 司 之 印 ) tức là ấn của quan Án sát sứ(9) trấn Hưng Hóa.
 
Số ấn gỗ có nhiều nhưng vì là ấn gỗ nên nhiều cái bị vỡ dập, sứt mòn, đem in lại thì nhiều chữ bị mờ nhòe. Những dấu ấy đều không ghi niên đại, hơn nữa độ tin cậy của những con dấu gỗ ấy ra sao thì còn phải nghiên cứu thêm, trong bài này chúng tôi chưa đề cập đến.
 
Nguyễn Công Việt

----------------------------------
 
Chú thích:
 
(1) Dạng bố cục chữ trong dấu, chúng tôi sắp xếp theo kiểu như trên, để sau này tiện cho phân loại. Đơn cử 1 dấu, các dấu tiếp theo sẽ không kẻ ô số nữa.
 
(2) (3) Từ đời Lê Thánh Tông trở về sau, trong biên chế quân đội dùng chế độ Vệ 衛 , Sở 所 .
 
(4) An Lập hay Yên Lập thuộc tỉnh Phú Thọ cũ nay là Vĩnh Phú.
 
(5) Quan Bố chính sứ xem về việc Hộ, dưới chức quan Tổng đốc.
 
(6) Dưới chức quan lớn, thường là các quan nhỏ như phần phủ Huấn đạo... dùng lấy chữ Kiềm ký hoặc Đồ ký.
 
(7) Địa danh Hạ Hồng thường biết với tên phủ (Phủ Hạ Hồng là phần đất phía đông nam trấn Hải Đông xưa, ở đây tác giả gọi là Hạ Hồng huyện (?) (Lời của người biên tập).
 
(8) Sông Khâu Ôn sau đổi thành sông Kỳ Cùng, thuộc tỉnh Lạng Sơn.
 
(9) Án sát sứ là viên quan đứng thứ 3 trong tỉnh coi về Hình ngục.
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc