Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

BÀI HỊCH CỦA VĂN THÂN NGHỆ TĨNH NĂM TỰ ĐỨC GIÁP TUẤT

SATurday - 29/07/2017 12:38
TỐ AM NGUYỄN TOẠI
Hình minh họa

Hình minh họa

Năm 1990, có xuất bản quyển “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 - 1885, dịch từ một quyển tiếng Pháp của ông Yoshiharu Tsuboi. Tác giả, người Nhật Bản, Giáo sư đại học ở Đông Kinh, đã viết sách này, nguyên từ một luận án Tiến sĩ đệ tam cấp, đề biện ngày 17.6.1982 tại Trường Cao học Khoa học xã hội bên Pháp. Trong sách, khi nói về vụ nổi dậy của Văn thân Nghệ Tĩnh vào năm Giáp Tuất, Tự Đức thứ 27 (1874), do các Tú tài Trần Tấn và Đặng Như Mai lãnh đạo, tác giả có chép vào sách tờ hịch của Văn thân ngày mồng hai tháng năm, Tự Đức thứ 27, bằng chữ Hán, tìm thấy trong kho lưu trữ Archives dóutre mer AOM, tại thành phố Aix của Pháp. Tờ hịch được phóng ảnh và dịch ra tiếng Pháp. Trong quyển dịch ra tiếng Việt, tờ này đã được phiêm âm và dịch nghĩa, song có suyễn mậu. Đây là một sử liệu quý, các sử gia nước ta cho đến nay chưa đề cập tới. Bài hịch làm theo thể tứ lục, ý không chặt, lời không đẹp, nhưng có giá trị sử liệu lớn, nên xin phiên lại, dịch lại kèm vài chú thích, để tiện học giới cùng xem.
Phiên âm:
Tự Đức nhị thập thất niên nhị nguyệt sơ nhị nhật - Văn thân hịch tổng sao ký
A. Cái văn:
1. Thệ đồng cừu nhi bào trạch, ngô nho địch khái chi hùng phong; Tam đầu bút nhi nhung hiên, quân tử dụng quyền chi năng cử.
2. Nghĩa như năng vãng, chung quân do thả thỉnh anh; Đạo hữu khả hành, tổ Địch thượng văn kích tiếp.
3. Cái tang bồng hồ thỉ, nan tử sơ tâm; nhi nghĩa phủ nhân can, thiên hạ vô địch.
B. Thẩm tư Gia Tô nhập vu ngã quốc:
4. Ngữ kỳ thuật tắc xưng thiên xưng thánh, tủng cô ngu mông; Ngữ kỳ giáo tắc vô phụ vô quân, khuyển dương tộc loại.
5. Xả khúc trực dĩ ngôn cường nhược, mạn khoa bác khả phá sơn; Phế trung dũng nhi thiệp ba đào, lãng thuyết thuyền năng nhập thủy.
6. Tự Đinh Ty, duyên biên vi hoạn, phong đãn tứ kỳ xương cuồng; Kinh nhung thần phấn lữ nhi tiền, thú dĩ thư kỳ cuồng phệ.
7. Phụng Hoàng thượng phấn nhiên duệ đoán, phương dục hữu vi; Nại hà nhân tự nhĩ thân an, cẩu cầu vô sự.
8. Tấn Đại Phu chi sách, lập hỗ lợi nhi hại tùy; Tống Tướng quốc chi mưu, kiến thiết hòa nhi ngạch khởi.
C. Toại sử:
9. Tây huynh nam đệ, nhẫn cam thành hạ chi minh; Giáp quyển nhung tàng, thùy phấn quân trung chi dũng.
10. Dẫu chiên cừu vu quốc ấp, kê thê phượng tập, ngưu hỗn kí quần; Nhập tinh sú vu bang đỉnh, hổ bị khuyển khi, long vi hà hí.
11. Lục tỉnh chi thần dân hà tội, hàm oan nhi diện cách triều đình; Nhất phương nhi thủy hỏa thùy tô, tố khổ nhi thanh đằng vũ trụ.
12. Hạ xuân đài nhi đồ thán, sĩ dân cô giáp đạo chi hoài; li thiên nhật nhi âm hàn, phụ lão nhất cử phan chi vọng.
D. Huống hựu:
13. Trưởng ác bất thoan, vi hại thậm đại.
14. Sách tăng tuế tệ, dương tiều bản quốc cao chi; Sức cấu tạo đường, âm dụ ngã bang lê thứ.
E. Tư tháo ngã tinh: giảng dụy đạo đồ:
15. Phụ trệ mẫu khuyển chi phong, tự ô danh giáo; Chúa Lời Chi Thu chi thuyết, phục uế thính văn.
16. Dữ kì cảm nhĩ hoành hành, ngã diệc khởi nhiên an tọa.
17. Bỉ kì lâm thời thương thốt, đồ di hậu sự chi ưu; Hà như tảo cập đồ hồi; dụng hiệp tiên ưu chi nghĩa.
F. Phù
18. Khuyển Dương nan tín, cầm độc nan thân.
19. Mạo Đốn Hán dương, Kim Liêu Tống thỉ.
20. Ngã nhược khai môn nghinh khấu, mỗi thủ dĩ tùng; Bỉ tương vu mãng phục nhung, phệ tề hà cập.
G. Thinh quý biệt:
21. Mộc dục hưu phong, tao phùng thịnh thế.
22. Hoặc triều đình quan tước, dự tại giản ti; hoặc khoa mục trung nhân, tằng kinh nô cưỡng.
23. Hoặc viên tử ấm tử, quan thanh nhi ti lạp giai ân; Hoặc thí sinh, khóa sinh, thánh trạch nhi trương tương thức hóa.
H. Dĩ chi:
24. Phú gia vật lực, quân hoàng cực chi dụng phu; Tổng lý hương hào, tịnh hoàng ân chi phổ cập.
25. Hữu tư khả chấp, Chu Công phương thả ưng chi; Kiến nghĩa bất vi, Khổng Tử viết vô dũng dã.
26. Miễn dịch hàn thu chi tiết, dụng trinh kính thảo chi phong.
27. Chỉnh ngã bằng đồ, tiễn bỉ vũ dực.
28. Sử Tây tặc vô môn khả nhập, nhi dương di hà xứ đắc lai.
29. Lý Cương bãi triều nhi Thái học chi nho sinh kiến cổ; Bào Tuyên hạ ngục nhi bác sĩ chi tử đệ cử phan.
I. Huống:
30. Sự thuộc an nguy, Lự quan đắc thất.
31. Cổ kim cộng phẫu, Thiên địa bất dung.
32. Phàn hữu trung nghĩa chi tâm, sinh nhị tự hứa; Cẩu vi xã tắc chi lợi, tử thả bất từ.
33. Tuy kim nhật vi chỉ hành sự tự tri đắc tội ư Cửu trùng; Đệ hậu lai phục khuyết thính tru, do đắc tấu công ư Liệt Thánh.
K. Vô khả đồ ngôn, thủ vũ ngoại địch
Chí như kế tương an xuất, lánh hữu hậu ngôn. Cảm cáo đồng minh, nguyện phu minh giám.
Dịch nghĩa:
Tự Đức năm thứ 27 tháng 2 ngày mồng hai (19 - 3 - 1874)
Sao ghi: Hịch của văn thân
A. Vì nghe:
1. Thề cùng thù mà áo bào, áo trạch(1) đó là hùng phong của nhà nho ta giận quân địch; Tạm ném bút mà theo việc binh nhung(2), đó là việc dấy lên của người quân tử dùng quyền.
2. Theo nghĩa mà khá làm được, Chung Quân(3) còn xin cái dây. Theo đạo có thể thi ra, Tổ Địch(4) còn nghe đập mái chèo.
3. Vì cung dâu tên cỏ(5) là sơ tâm của người nam tử; Mà mật nghĩa gan nhân, thiên hạ không dịch được.
B. Huống này gia Tô vào nước ta:
4. Nói về thuật thì xưng là trời là thánh, điếc mù ngu tối; Nói về giáo thì không cha không vua, loài giống chó dê.
5. Bỏ cong thẳng mà nói mạnh yếu, ngạo mạn khoe đại bác có thể phá núi; Bỏ trung dũng mà vượt sóng, nói mẽ thuyền có thể lặn vào trong nước.
6. Từ năm Đinh Tỵ (1857), bờ cõi phải lo, đàn ong đã phóng tú rông rỡ; Trải việc vũ thần mạnh bạo dấn quân tiến lên loài thú đã bớt sủa bậy.
7. Vâng đức Hoàng thượng: phấn khởi quyết đoán sáng suốt, muốn cho được việc; Làm sao người ta lại tự mình trộm yêu, cẩu thả mong vô sự.
8. Sách lược của Đại phu nhà Tấn(6), năm lợi mà hại đi theo; Mưu kế của Tướng quốc nhà Tống(7), một hòa mà cái khó khởi ra.
C. Thanh ra:
9. Anh chỉ tây, em ở nam, nhẫn chịu lời thề ở dưới thành(8); Cuốn áo giáp cất binh khí, ai phấn khởi lòng dũng của quân binh.
10. Dẫn bọn áo chiên áo cừu(9) vào trong nước, gà đậu với đàn chim phụng, trâu lẫn với đám ngựa ký; Đem hôi tang vào nơi sân vua, hổ bị chó khinh, rồng bị tôm cợt.
11. Thần dân sáu tỉnh tội gì, ngậm oan mà mặt xa triều đình; Nước lửa một phương ai cứu, kể khổ mà tiếng vang vũ trụ.
12. Rời đài xuân mà lầm than, sĩ dân mất long mong đứng ở ven đường; Lìa mặt trời mà tối lạnh, phụ lão mất lòng mong rời gót, đón gót.
Đ. Huống lại:
13. Nuôi thêm tội áo không dừng, gây hại rất lớn.
14. Đòi tăng tiền bạc hàng năm, ngoài thì muốn tiêu hao mơ mầu của nước ta; Sức làm nhà đạo, trong thì muốn dụ dân nước ta.
E. Nay đến tỉnh ta, dạy dỗ dân đạo:
15. Cái thói cha lợn, mẹ chó(10), tự làm nhơ danh giáo; Cái thuyết Chúa Lời, Chi Thu(11), lại làm bẩn tai nghe.
16. Hắn dám làm ngang như thế; Ta há cứ vẫn ngồi yên.
17. Để đến lúc vội vã, chỉ để cái lo cho việc sau; Sao bằng sớm kịp kéo lại, để cho hợp với cái nghĩa phải lo trước(12).
18. Chó dê khó tin, muông thú khó thân.
19. Mạo Đốn(13), dê nhà Hán; Kim, Liêu, lợn nhà Tống.
20. Nhược bằng ta mở cửa đón giặc, cúi đầu mà theo; Chúng sắp phục binh nơi rậm, cắn rốn sao kịp(14).
G. Xin các vị:
21. Tắm gội gió lành, gặp được đời thịnh.
22. Hoặc là quan tước của triều đình, được kén vào việc(15) cơ quán; Hoặc là người trong khoa mục, đã từng được thưởng vàng tiền(16).
23. Hoặc là viên tử, ấm tử, tiếng nhà quan mà hạt gạo sợi tơ(17) đều là ơn vua; Hoặc là thí sinh khóa sinh, ơn thánh mà lễ văn để được giáo hóa(18).
H. Cả đến:
24. Nhà giàu có của, đều là hoàng cực mà rải đến; Tổng, lý, hương hào, đều là ơn vua rộng kịp(19).
25. Có lời được khen ngợi(20), Chu Công mới cho là phải; Thấy nghĩa không làm(21), Khổng Tử báo là không dũng.
26. Gắng theo tiết trời thu lạnh(22), để làm cho cái dáng của cỏ cứng(23).
27.Sắp đặt anh em bạn ta, cắt lông cánh của chúng.
28. Để giặc Tây không cửa mà vào, mà sợ ngoài biển xứ nào đến được.
29. Lý Cương(24) bị bãi triều mà nho sinh nhà Thái học nổi tiếng. Bào Tuyên(25) bị hạ ngục mà bác sĩ đệ tử giương cờ.
I. Huống:
30. Việc thuộc an nguy, Lo đến được mất.
31. Xưa, nay đều giận; trời, đất không dung.
32. Phàm có lòng trung nghĩa, đem cái sống ra tự hứa; May được lợi cho xã tắc, có chết cũng không từ.
33. Tuy ngày nay, làm việc mà trái chỉ nhà vua, tự biết là có tội với cửu trùng; Rồi sau này, cúi mình cửa khuyết mà chịu tội chết, còn được đem công tâu lên liệt thánh.
K. Không thể nói suông, để ngoại địch khinh cho.
Còn như mưu kế sẽ đưa ra thể nào, sẽ có lời sau. Dám cáo với các vị có cùng lời thề, nguyện tin sự soi sáng.
CHÚ THÍCH
(1) Đồng cửu, bào trạch: chữ Kinh Thi, Tần phong: “Khởi viết vô y, dữ tử đồng bào, vương vu hưng sư, tu ngã quân mâu, dữ tử đồng cừu (…) Dữ tử đồng trạch, vương vu hưng sư, tu ngã mâu kích = há bảo không áo, với người cùng áo bào, vua đem quân đánh, sửa cái qua cái mâu của ta, với người cùng chung một kẻ thù (…) Với người cùng áo trạch, vua đem quân đi đánh, sửa cái mâu, các kích của ta”. “Bào” và “Trạch” là hai thứ áo dùng trong quân.
(2) Đầu bút: ném bút. Lấy điển Ban Siêu đời Hán ném bút mà nói: “đại trượng phu nên học Trương Khiên, Phó Giới tử… lẽ nào cứ kéo dài việc nghiên bút”.
Nhung hiên: binh khí và xe, ý nói việc binh. Thơ Ngụy Trưng đời Đường: “Đầu bút sự nhung hiên = ném bút theo việc quân”.
(3) Chung Quân: tên người. Thỉnh anh: xin cái dây. Đời Hán Vũ Đế đánh Nam Việt, Chung Quân mới 20 tuổi, bác sĩ đệ tử, xin đem cái dây sang trói Vua Nam Việt.
(4) Tổ Địch: tên người. Kích tiếp: đập mái chèo, Tổ Địch đời Tấn (317-420), qua sông giữa dòng đập mái chèo mà thề sẽ quét sạch giặc khôi phục vùng Trung nguyên (Tấn thư bản truyện).
(5) Tang bồng hồ thỉ: cung bằng dâu; tên bằng cỏ bồng. Nghĩa phủ can nhân: mật nghĩa gan nhân chữ “phủ” dùng thay chữ “đảm”, vì chữ “đảm” là quốc húy (tên vua Minh Mạng).
(6) Tấn đại phu: Ngụy Giáng nước Tấn làm đại phu, nói với Tấn hầu nên hòa Nhung (hòa với rợ Nhung), có năm điều lợi.
(7) Tổng Tướng Quốc: Tần Cối làm Tể tướng đời Cao Tông nhà Nam Tống, chủ hòa với nước Kim và giết tướng giỏi là Nhạc phi.
(8) Thành hạ chi minh: thề ở dưới thành, ý nói hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhượng ba tỉnh Nam Kỳ cho nước Pháp.
(9) Chiên cừu: áo dệt bằng lông, người Di ở Tây Bắc Trung Quốc thường mặc. Ý nói người Pháp cũng là một loài rợ.
(10) Giáp đạo: lấy ở sách Chu Lễ (Thu quan, Khanh sĩ): “Súy kỳ thuộc giáp đạo nhi rất tam công = sai thuộc hạ, ra hai bên đường, dẹp đường để tam công đi”. “Tất” là dừng việc đi lại cho sạch đường, chữ dùng để nói vua ra đi.
Cử phan: tức “cử ngọc chỉ, phan ngọc chỉ = cất gót ngọc, vin gót ngọc”. Tả truyện: Tấn Hiếu Công bảo Triển Hỉ: quả nhân nghe ông thân cất gót ngọc.
Cha lợn, mẹ chó (phu trệ mẫu khuyển): ý muốn nói đến giáo dân gọi linh mục là cha, gọi các nữ tu là mẹ.
(11) Chi Thu: sách cũ của giáo sĩ phiên tên Jesus là Chi Thu, sau lại phiên là Gia Tô, rồi Giê Su.
(12) Nguyên văn: tiên ưu chi nghĩa (nghĩa phải lo trước), do câu: “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu” của Phạm Trọng Yêm đời Tống, trong bài ký Nhạc dương lâu, nghĩa là lo trước cái lo của thiên hạ.
(13) Mạo Đốn: tên Thiên vu (vua) Hung Nô (210-174 nước Tây lịch) lúc đầu triều Hán. Kim liêu: nước Kim, nước Liêu, đều do chiến tranh với nước Tống.
(14) Nguyên văn: “Phệ tê hà câp” (cắn rốn sao kịp). Tả truyện: Sở Văn Vương đánh nước Thân, đi qua nước Đặng. Các cháu Đặng hầu xin giết vua Sở, Đặng hầu không cho, các cháu bảo: “làm mất nước Đặng là người này, không sớm tính đi, sau này phải cắn rốn” (ân hận).
(15) Nguyên văn: “Giản ti” (kén vào các chức).
(16) Thảng cưỡng: tiền vàng và xâu tiền (của Nhà nước).
(17) Dịch chữ: “ti lạp” là sợi tơ và hạt gạo.
(18) Nguyên văn: “Chương tương thức hóa” tức lễ văn để giúp vào việc giáo hóa (tạm dịch chưa rõ điển).
(19) Nguyên văn: “Hoàng cực chi dụng phu”, chữ Kinh Thư, thiên Hồng phạm: “Hoàng kiến kỳ hữu cực, liễm thời ngũ phúc, dụng phu tích quyết thứ dân = vua có được đức hoàn toàn tối cao, được hưởng năm phúc, đem chia cả cho nhiều dân”.
(20) Nguyên Văn: “Hữu tử khả chấp”, tức lời khen khá được ThiênQuân Trần trong Kinh thư: “Chung hữu từ vu vĩnh thế = các đời sau mãi mãi có lời khen người”. Thành Vương nhà Chu sai ông Quân Trần ra cai trị đất phương đông, hãy bảo làm dậy các lời rộng lớn của Chu Công, để được tiếng tốt.
(21) “Kiến nghĩa bất vi”: Thấy nghĩa mà không làm. Luận ngữ (Vi chính) có câu: “Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã = thấy nghĩa mà không làm, không phải là có dũng khí”.
(22) Nguyên văn: “Hàn thu chi tiết”, lấy ý ở câu: “Tuế hàn nhiên hậu tri tùng bá chi hậu điêu dã = khi có lạnh của mùa đông trong năm, mới biết cây tùng cây bá rụng lá sau các cây khác” (Luận ngữ, Tử Hãn).
(23) Nguyên văn: “Kính thảo chi phong”, lấy ý ở câu thơ cổ “tật phong tri kính thảo = gió mạnh mới biết cỏ cứng”.
(24) Lý Cương: Khâm Tông nhà Tống (1126 - 1127) phong Lý Cương làm Thượng thư Tả thừa để cầm quân đánh nước Kim, vì Lý Cương chủ chiến. Quân Kim đánh vào gấp quá, sai vua quan nghị hòa, Lý Cương chống hòa nghị, vua bãi chức Lý Cương. Thái học sinh Trần Đông và mấy chục vạn dân kinh đô đến cửa khuyết xin vua tiếp tục dùng Lý Cương. Vua nghe theo. Lý Cương đánh lui quân Kim (Tống sử).
(25) Bào Tuyên: đời Hán Ai đế, Bào Tuyên lam Tư lệ, can vua rồi bị tội; Bác sĩ đệ tử tên Hàm cầm cờ phan đến nhà Thái học, gọi học trò cả nghìn người dâng thư lên vua, vua vì thế giảm tội cho Bào Tuyên(Hán thư: Bào Tuyên truyện).
Liệt thánh: chỉ các vua đời trước của triều đại.

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc