Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

BỘ SƯU TẬP VĂN CHƯƠNG HÀN CÁC TÙNG ĐÀM

FRIday - 16/01/2015 10:16
Tiến sĩ Hoàng Văn Lâu (1940 - 2005)

Tiến sĩ Hoàng Văn Lâu (1940 - 2005)

HÀN CÁC TÙNG ĐÀM là một sưu tập văn xuôi, hiện lưu giữ tại kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.768, 1 - 2. Sách gồm 2 tập (tập I, 152 tờ; tập II 161 tờ) khổ 29x20cm, mỗi tờ viết 2 trang, mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng 20 chữ. Sách do Trường Viễn đông Bác cổ Pháp thuê chép lại khoảng nửa đầu thế kỷ này.
 
Những thông tin đầu tiên về bộ sách này được ghi trong bộ Thư mục Hán Nôm (in rônêô), Phần I, tập 1, Thư viện KHXH, Hà Nội, 1969, tr.157, số sách 589. Lời tóm tắt nội dung sách ghi: “Các bài ký, bia, chiếu, biểu...”, tiếp đó, nêu tên 4 bài ký, 6 bài văn bia, 6 bài biểu, 6 bài văn, 3 bài chiếu, 3 bài chí, 1 bài tiểu sử, 3 bài phú, 2 bài tự của Việt Nam và 6 bài chiếu của Trung Quốc là ví dụ. Ngoài ra, không có một chỉ báo gì gợi ý cho người đọc về tác giả và lai lịch sách.
 
Bộ sách ghi được nhiều tác phẩm hay trong lịch sử như Chiếu đời Lý, phú đời Trần, chế, chiếu, biểu đời Lê sơ... Nhưng vì không ghi tên tác giả và niên đại biên soạn, nên khi đánh giá và sử dụng tư liệu trong đó, người đọc không khỏi dè dặt, phân vân. Bài viết này là cố gắng bước đầu trong việc tìm tác giả và niên đại biên soạn, cùng một vài đặc điểm biên tập sách.
 
Nếu không kể 17 bài chiếu các đời Hán, Đường, Tống của Trung Quốc ghi phụ ở phía sau sách và những bài sao chép trùng lặp, thì cả bộ sách có 170 bài văn thuộc nhiều thể loại. Bài có niên đại sớm nhất là Thiên đô chiếu(1) (Chiếu dời đô) của Lý Thái Tổ công bố năm 1010. Bài có niên đại vào loại muộn nhất là Văn tế Trần Huy San, chết năm Giáp Tý, niên hiệu Tự Đức thứ 17 (1864), văn tế Nguyễn Văn Lý, chết năm 1868. Mặt khác, cả bộ sách do 2 người sao chép (mỗi người chép 1 tập) nhưng cả hai tập đều thấy viết theo lối kiêng húy đời Tự Đức rất chặt chẽ(2). Từ đó, có thể ước đoán niên đại biên tập sách vào khoảng các năm 1868 - 1883.
 
Những ghi chú trong sách cung cấp những thông tin quan trọng.
 
Thí dụ: Bài Quảng văn đình ký, có những dòng chú như sau: “Tổ ta là ngài Thượng thư, nắm việc Bộ, họ Bùi, tên Xương Trạch” (Ngô tổ Thượng thư chưởng bộ công, tính Bùi, húy Xương Trạch). Bài Cai quốc tấu bản ghi chú: Tổ họ ta là Tiên quận công, chức Thượng thư, họ Bùi, tên là Bỉnh Uyên (Ngô tổ Tiên quận Thượng thư, tính Bùi, húy Bỉnh Uyên).
 
Bùi Xương Trạch đỗ Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 9 (1478) làm Thượng thư coi việc 6 bộ, tước Quảng quận công. Bùi Bỉnh Uyên tục gọi là Nho Sét, làm Thái bảo, tước Tiên Quận công. Cả hai người đều thuộc họ Bùi Huy Bích ở Thanh Trì, nay thuộc ngoại thành Hà Nội(3). Từ những lời chú này có thể thấy tác giả của bộ sách thuộc dòng họ Bùi ở Thanh Trì.
 
Họ Bùi ở Thanh Trì là một dòng họ lớn, nối đời đỗ đạt cao, có nhiều chính khách tao nhân nổi tiếng. Trong số họ, ai là tác giả của bộ sưu tập văn chương đáng lưu ý này ?
 
Xét về tính chất, có thể thấy Hàn các tàng đàm là 1 tuyển tập văn chương. Trong số 170 bài được chọn tuyển, có 2 bài thuộc đời Lý (Thiên đô chiếu của Lý Công Uẩn, Di chiếu của Lý Nhân Tông), 8 bài thuộc đời Trần (Ma nhai kỷ công văn của Nguyễn Trung Ngạn, Thanh hư động ký của Nguyễn Phi Khanh, Nghệ tông ngự chế bi minh của Trần Phủ, Dự chư tì tướng hịch của Trần Quốc Tuấn, Ngọc tỉnh liên phú của Mạc Đĩnh Chi; Bạch Đằng giang phú và Khai nghiêm tự bi ký của Trương Hán Siêu, Thiên Hưng trấn phú của Nguyễn Bá Thông). Số bài văn thời Lê chiếm phần lớn, khoảng 100 bài(4), bao gồm nhiều thể loại khác nhau: Chiếu, chế, sách văn, biểu, khải, công văn, ký, minh, văn tế, trướng, tự, phú... Văn đời Nguyễn có khoảng 50 bài(5), chỉ có văn tế và trướng mừng, ghi vào cuối tập I, thành một phần khá riêng biệt.
 
Ở ngay bài đầu tiên của tập I, bài Ma nhai kỷ công văn của Nguyễn Trung Ngạn, có lời chú ở đầu bài, và lời "án" ở cuối bài. Lời “án” như sau: “Bài này khắc trên vách đá”. Hồi ta làm Tham hiệp Nghệ An vâng mệnh cùng tướng hiệu bản đạo cứu viện Trấn Ninh đóng quân ở đó, nên mới được thấy!”(Thử văn tại huyền nhai thượng, dư vi Nghệ An tham hiệp thì, phụng mệnh dữ bản đạo tướng hiệu viện Trấn Ninh thích đồn thú vu thử, thủy đắc kiến chi”.
 
Bài Đề Bạch ty sơn thần quân chí lược bạt có lời chú: “Năm trước ta làm Hiệp Trấn Nghệ An...” (tạc tuế ngô hiệp trấn Nghệ An...). Đề Bạch ty sơn thần quân chí lược bạt là tác phẩm của Bùi Huy Bích. Điều này được chính Bùi Huy Bích khẳng định trong bộ Hoàng Việt văn tuyển đã khắc in của ông. Nhiều tư liệu lịch sử xác nhận Bùi Huy Bích có thời gian là Tham hiệp Nghệ An. Sự kiện cứu viện Trấn Ninh xảy ra khoảng năm 1769 - 1770 khi Bùi Huy Bích nhận lệnh phối hợp với tướng lĩnh ở Nghệ An đánh quân Lê Duy Mật.
 
Từ những cứ liệu trên, có thể đi tới nhận định là: Phần cơ bản (bao gồm các bài văn đời Lý, Trần, Lê) của bộ sách Hàn các tùng đàm là do Bùi Huy Bích tuyển chọn và biên tập thành sách. Phần văn tế, trướng mừng (khoảng 50 bài) thời Nguyễn là do người sau bổ sung. Sách được chép lại vào những năm niên hiệu Tự Đức (1848 - 1883).
 
Nếu tách 50 bài văn tế và trướng mừng thuộc đời Nguyễn ra, thì Hàn các tùng đàm hiện diện như là một “dị bản” của bộ Hoàng Việt văn tuyển đã được khắc in năm 1825. Đối chiếu hai bộ sách này, ta thấy:
 
Về số lượng: Bộ Hàn các tùng đàm có 120 bài văn đời Lý, Trần, Lê. Bộ Hoàng Việt văn tuyển có 111 bài. Hai bộ trùng hợp nhau tới 93 bài. Bộ Hàn các tùng đàm không có các bài Phóng cuồng ca của Trần Tùng(6) và Dục Thúy sơn linh tế tháp ký của Trương Hán Siêu là hai tác phẩm đời Trần, cùng 16 bài khác thuộc đời Lê (1 bài phú, 2 bài ký, 2 bài minh, 5 bài văn tế, 3 bài sách văn, 3 bài tản văn) như ở Hoàng Việt văn tuyển. Nhưng Hàn các tùng đàm lại có bài Nghệ Tông ngự chế bi minh của Trần Phủ, Bình Ngô tấu cáo văn ghi năm Thiên Khánh thứ 2 (niên hiệu của Trần Cảo) cùng 6 bài chiếu khác đời Lê Lợi; bài văn bia Đỉnh tạo lục kiều công đức bi, Sỷ vương từ bị ký, Biểu tạ ơn của Trạng nguyên Nguyễn Thực, Nguyễn Nghiêm Tư, Tiến sĩ Nguyễn Bá Ký... mà Hoàng Việt văn tuyể n không tuyển chọn.
 
Về cách sắp xếp: Hoàng Việt văn tuyển sắp xếp theo thể loại, chia thành 10 mục như sau: Cổ phú (15 bài); Ký (15 bài); Minh (9 bài); Văn tế (8 bài); Chiếu văn (6 bài); Chế văn (9 bài); Sách văn (10 bài); Biểu, tạ; khải (22 bài); Tản văn (11 bài); Biểu tấu, công văn (6 bài).
 
Trong Hàn các tùng đàm thì chưa có sự sắp xếp phân loại rõ ràng như vậy: ở tập 1: Bài đầu tiên là Ma nhai kỷ công văn (Hoàng Việt văn tuyển xếp vào mục thứ 9: Tản Văn). Bài thứ 2 là Quảng văn đình ký, Bài thứ 3 là Chu Văn Trinh công miếu bi (Hoàng Việt văn tuyển xếp vào mục thứ 2: ký). Bài thứ 4 là Trung tân quán bi minh tính tự (Hoàng Việt văn tuyển xếp vào mục thứ 3: Minh) Bài thứ 5 là Cai Quốc tấu bản (Hoàng Việt văn tuyể xếp vào mục thứ 10: biểu tấu công văn)...
 
Ở tập 2: Bài đầu là Tượng đầu đoạn tụng ký (Hoàng Việt văn tuyển xếp vào mục thứ 2: ký). Bài thứ 2 là Nghệ An xứ đốc suất Đoan nghiêm hầu Bùi Thế Đạt thăng quận tước chế (Hoàng Việt văn tuyển xếp vào mục thứ 6: chế) Bài thứ 3 là Nghĩ Bắc triều hoàng đế phi tư lại vấn ngã quốc tuế phong dân ninh như hà ngã quốc tạ biểu (Hoàng Việt văn tuyển xếp vào mục 10: Biểu tấu công văn)...
 
Lại nữa, ở Hàn các tùng đàm, 2 bài chiếu đời Lý xếp ở tập 2, trong khi 7 bài chiếu của Lê Lợi xếp ở tập 1. Bài Dụ chương tỳ tướng hịch của Trần Hưng Đạo xếp vào cụm các bài chiếu thì Hoàng Việt văn tuyển vào mục Tản văn.
 
Từ cách sắp xếp, có thể thấy Hàn các tùng đàm còn giữ lại dạng sưu tập ban đầu của tác phẩm. Các bài văn tuyển chọn mới đặt gần nhau thành cụm, có tính đến yếu tố thời gian, mà chưa sắp xếp theo thể loại đã cố định như trong bản in Hoàng Việt văn tuyển sau này.
 
Về đầu đề bài văn tuyển chọn: Đầu đề các bài văn trong Hàn các tùng đàm thường dài hơn, chi tiết hơn, hàm ẩn những thông tin đáng lưu ý. Ví dụ: Bài văn tấu cáo thái miếu của Nhữ Đình Toản, trong Hàn các tùng đàm có đầu đề là Chủ soái Minh vương (hậu truy tôn An vương miếu hiệu Nghị tổ chinh tây tấu cáo thái miếu văn. Hoàng Việt văn tuyển đã rút gọn là Phụng nghĩ chinh Tây cáo Thái miếu văn. Bài Phật Tích sơn Thiên Phúc tự Hiển Thụy am bi minh tính tự trong Hàn các tùng đàm thì ở Hoàng Việt văn tuyển có tên là Phật Tích sơn Hiển Thụy am bi minh. Có thể thấy, khi biên tập để khắc in, các đầu đề đã được rút gọn lại.
 
Về chú thích Hàn các tùng đàm chưa có phần chú âm và chú nghĩa. Phần chú giải về xuất xứ tác phẩm có nhiều chỗ ghi về dòng họ Bùi, về kinh lịch của người biên soạn. Ví như lời chú: “Tổ ta là... họ Bùi, húy...” đã dẫn ở trên; hoặc như lời “án” trong bài Ma nhai kỷ công văn ghi rõ hoàn cảnh sưu tầm được bài văn của người biên soạn. Những lời chú liên quan đến dòng họ và bản thân người biên soạn sách như trên, đến Hoàng Việt văn tuyển đều bị lược bỏ. Nhưng Hoàng Việt văn tuyển vẫn giữ lại những lời chú xuất xứ tác phẩm, giúp hiểu rõ tác phẩm, tác giả, cũng gợi cho thấy phương pháp sưu tập tác phẩm. Ví như lời chú về xuất xứ bài Ma nhai kỷ công văn ghi: “Ma nhai kỷ công văn ở thôn Trầm Hương, phủ Trà Lân, xứ Nghệ An. Kỷ Trần Hiến Tông, Thái thượng hoàng cầm quân đi đánh Ai Lao xuống chiếu sai Nguyễn Trung Ngạn mài đá khắc chiến công. Nay xét thấy niên đại ghi trong văn bia khác với trong sách sử. Đó là do sách sử chép lầm”. Về sự kiện này, Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, Quyển VII, tờ 6a) chép vào năm Giáp Tuất, niên hiệu Khai Hựu năm thứ 6 (1334). Nhờ điều tra “thực địa” (xem lời “án” đã dẫn ở trên). Bùi Huy Bích đã đính chính được sai lầm trong sách sử: Văn bia ghi “khắc đá vào ngày tháng 12 nhuận, mùa đông năm ất Hợi, niên hiệu Khai Hựu thứ 7 (1337)” (Thời Khai Hựu thất niên ất Hợi đông nhuận thập nhi nguyệt nhật lặc thạch). Bộ sử của triều Nguyễn Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (Chính biên, quyển 9) biên soạn sau này cũng ghi theo văn bia là năm ất Hợi. Lời chú trên đây cùng với lời “án” đã dẫn, cho thấy khi sưu tập văn chương làm quyển tập, họ Bùi đã “đi đến nơi, tìm đến chốn” chứ không phải ngồi một chỗ mà “dọn” lại tác phẩm của người khác!
 
Từ những điều trình bày ở trên, có thể đi tới nhận xét: Hàn các tùng đàm thuộc dạng bản ban đầu của bộ Hoàng Việt văn tuyển đã được khắc in. Bộ sách giữ được một số bài chưa đưa vào Hoàng Việt văn tuyển, việc sắp xếp chưa rõ ràng theo thể loại hay thời gian, chú giải chưa gọn, nhưng còn giữ được một số chỉ dẫn cần thiết về tác giả và tác phẩm. Sau khi tác giả mất, nhà họ Bùi vẫn giữ được bản Hàn các tùng đàm chép tay. Sách được sao đi chép lại, mỗi lần sao chép, người ta đã “bổ sung” thêm. Bản A768/1 - 2 giới thiệu trên đây sao chép lại từ một bản “biên tập lại” của nhà họ Bùi những năm 1868 - 1883.
 
Có một điều cũng cần tìm hiểu thêm là, Bùi Huy Bích đã “rút” các tác phẩm từ nguồn nào để làm nên bộ tuyển tập văn chương Hàn các tùng đàm hay Hoàng Việt văn tuyển của ông? Có phải ông đã “dọn” lại bộ sách Hoàng Việt văn hải của Lê Quí Đôn; rút lấy một phần rất ít để tạo thành cuốn văn tuyển “sơ giản” của ông như có người đã nói(7) ?
 
Lời chú, nhất là lời “án” bài Ma nhai kỷ công văn cho thấy Bùi Huy Bích đã “rút” bài văn này ngay tại vách núi thôn Hương Trầm, Nghệ An chứ không phải từ trong sách của Lê Quí Đôn. Các tác phẩm của Bùi Xương Trạch, Bùi Bỉnh Uyên và cha ông Bùi Huy Bích thì hẳn là ông “rút” từ ghi chép của dòng họ mình. Một số lớn chiếu, chế, biểu, khải, sách vắn, công văn đời Lê... ông lấy từ bộ sưu tập các văn kiện đời Lê, bộ Hoàng các di văn do chính Bùi Huy Bích tổ chức sắp xếp, phân loại và biên tập, từ kho lưu trữ văn kiện trong Hoàng các khi ông giữ chức Tể tướng đứng đầu Hoàng các triều Lê(8). Còn chính tác phẩm của Bùi Huy Bích hoặc các tác phẩm xuất hiện sau khi Lê Quí Đôn đã mất mà họ Bùi đã đưa vào “văn tuyển” của mình, thì hẳn là ông không rút từ trong sách của thầy học!

Hoàng Văn Lâu

----------------------------------------------

 
 
Chú thích:
 
(1) Trong sách ghi là Tỷ đô chiếu.
 
(2) Ví dụ: Chữ “Nhiệm” viết bớt nét, chữ “Thì” viết đảo nét...
 
(3) Xem: Thanh Trì Bùi thị gia phả A.640; Đại tông Bùi thị gia phả A.958; Thịnh Liệt Đông ấp, Bùi Thị Giáp chi liệt tổ hành trạng A.942...
 
(4) và (5) Có một số bài chưa giám định được niên đại.
 
(6 ) Hoàng Việt văn tuyển ghi là của Trần Quốc Tảng.
 
(7) Thơ văn Lý Trần. Tập I, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1977, tr.135.
 
(8) Xem: Hoàng các di văn - Một bộ sưu tập các văn kiện đời Lê có giá trị; Tạp chí Hàn Nôm, số 1, năm 1987./.
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc