Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

HIỂU THÊM VỀ SỰ TÍCH BÀ CHÚA KHO

FRIday - 27/09/2013 13:34
HIỂU THÊM VỀ SỰ TÍCH BÀ CHÚA KHO

HIỂU THÊM VỀ SỰ TÍCH BÀ CHÚA KHO

Bài viết này nhằm cung cấp thêm một số tư liệu Hán Nôm do chúng tôi vừa sưu tầm hiện tại các địa phương hiện thờ Bà Chúa Kho, mong góp phần tìm hiểu sự tích của Bà, một vấn đề mà hiện nay nhiều người đang quan tâm tới.
HIU THÊM V S TÍCH BÀ CHÚA KHO
Nguyễn Huy Thức
 

Đồ vàng mã được ban quản lý đền gom lại để đốt... dâng Bà Chúa Kho
 
Từ các nơi người ta đang đổ xô về Thị Cầu, Bắc Ninh để đến với Bà Chúa Kho theo những tiếng gọi thầm kín khác nhau, nhưng sự tích của bà, mặc dù đã có hai cuốn sách vừa xuất bản(1), đến nay vẫn cứ còn là một dấu hỏi lớn.
Bài viết này nhằm cung cấp thêm một số tư liệu Hán Nôm do chúng tôi vừa sưu tầm hiện tại các địa phương hiện thờ Bà Chúa Kho, mong góp phần tìm hiểu sự tích của Bà, một vấn đề mà hiện nay nhiều người đang quan tâm tới.
Ở địa bàn Bắc Ninh hiện nay qua chuyến khảo sát của chúng tôi, có khá nhiều nơi thờ Bà Chúa Kho.
Đáng chú ý nhất là các nơi sau đây:
1.Ở phường Vệ An phía tây thị xã Bắc Ninh, có đền “ Trung cơ linh từ “thờ bà Chúa, vùa được sửa chữa trang nghiêm. Trong đền hiện có một số đồ tế tự và ba đôi câu đối:
- Vị liệt Thánh trung thiên chủ khố;
Anh linh thần nữ thế gian vô.
(Ở ngôi Thánh làm chủ kho trời,
Là nữ thần linh thiêng, thế gian chẳng có)
- Anh dục tú chung thế xuất nữ trung Nghiêu Thuấn.
Linh thông hiển ứng danh tôn thiên hạ Thánh Thần (Núi sông chung đúc nên bậc Nghiêu Thuấn(2) trong giới nữ ở, Hiển ứng linh thiêng tên tuổi được tôn xưng là Thánh Thần thiên hạ).
- Vị liệt nữ trung thần cơ trọng Tùng thành thương khố chủ,
Đức vi thiên hạ mẫu trường thùy Bắc trấn hiển linh thanh..
(Ngôi thần trọng vọng trong giới nữ, (Bà) là chủ kho tàng chốn Thành Tùng(3)
Đức xưng là mẹ thiên hạ, để lại mãi sự lĩnh thiêng nơi trấn Bắc).
Truyền thuyết ở đây nói rằng ngôi đền thờ Bà Chúa ở vào phía cửa tiền thành Bắc Ninh. Nên khi mở của thành, bao giờ cũng phải mở cửa hậu trước. Ngược lại, nếu mở của tiền trước, thì thường xảy ra ốm đau tang tóc ở địa phương. Phải chăng đây là ý niệm chỉ sự linh thiêng về việc phụng thờ Bà.
2. Ngôi đền thứ hai thờ Bà Chúa được dựng trên sườn núi Kho, làng Cô Mễ, xã Vũ Ninh, ở phía Bắc thị xã Bắc Ninh. Ngôi đền mới được xây dựng lại rất khang trang rộng rãi, gồm cung thờ Linh từ Thánh Mẫu Bà Chúa Kho, hai bên tả hữu là Ban Chầu Bà, Ban Đức Ông. Phía trước là Tam tòa Thánh Mẫu. Gian ngoài là Hoàng Bơ, ban công đồng tứ phủ, Hoàng Bẩy, Bát lô sơn trang, Ban Cô, Ban Cậu. Ngoài sân có đài Cửu thiên, bể hóa vàng… Xem cách bài trí tổng thể, gần như là một bàn thờ theo tín ngưỡng Tứ phủ. Trong đền có đầy đủ đồ tế khí trang nghiêm. Có ba tấm hoành phi:
- Chủ Khố từ (Đền Chúa Kho)
- Chủ Khố linh từ (Đền thiêng Chúa Kho)
Và ba đôi câu đối”
- Lê triều chưởng khố chương hồng liệt,
Nữ giới di danh trọng phúc thần (4)
(Giữ kho tàng nhà Lê, công tích lớn lao rạng rỡ,
Tên tuổi Bà còn để lại, là vị Phúc Thần đáng kính)
- Nguyệt Đức chí kim lưu thắng tích,
Doanh sơn tự cổ tráng thanh thiên.
(Sông Nguyệt Đức tới nay còn lưu lại thắng cảnh,
Núi Doanh Sơn tự xưa đã hùng tráng sánh trời xanh)
- Chủ khố linh từ lưu đà tích
Anh linh thần miếu liệt cao sơn(5)
(Đền thiêng Bà Chúa Kho còn lưu dấu vết Phật ,
Miếu thần anh linh lẫm liệt chốn núi cao)
Ngoài số câu đối giới thiệu trên, đền không còn một văn bản Hán Nôm nào liên quan đến sự tích Bà Chúa cả.
3. Ngôi đền thứ ba tại làng Quả Cảm, xã Hòa Long, huyện Yên Phong, kề ngay ngoại vi thị xã. Đây là nơi mà truyền thuyết và sách vở thường nói là quê hương Bà Chúa. Ngôi đền thờ Bà được dựng ngay trên khu đất núi nhưng bằng phẳng ở đầu làng. Truyền thuyết nói hài cốt Bà chôn ở nơi này nhưng xưa nay dân làng vẫn giữ kín. Ngôi đền không to lớn, đồ sộ, nhưng rất thoáng đãng, lại đầy vẻ trang nghiêm. Trong đền hiện còn giữ hai loại tư liệu quý. Một là tượng Bà và các đồ tế khí. Hai là 8 đôi câu đối, 2 bức hoành phi, 3 đạo sắc phong và một cuốn Thần Phả ghi sự tích Bà cùng 1 bài văn tế Nôm gọi là: “ Văn tế Bản Đức”, dùng để đọc vào các ngày lễ hội kỵ bà hằng năm.
- Hoành phi thứ 1 ghi:
Phúc quả linh từ (Đền thiêng quả phúc)
- Tấm hoành phi thứ 2 ghi bằng chữ Nôm:
Linh từ Đức Vua Bà
Trong 8 đôi câu đối, đáng chú ý, có hai câu sau:
- Bản Đức nguyên tòng dung nghi thù tục,
Trần triệu phong tặng ngôn hạnh cao tôn.
Bản Đức vốn theo nét dung nghi khác tục,
Triều Trần phong tặng là bậc ngôn hạnh cao vời)
- Quả hữu địa linh tinh tử khí ,
Cảm kỳ thần huệ hóa văn phong
(Quả có đất thiêng nên làm khí đẹp.
Cảm được ơn thần cải hóa văn phong)
Sắc phong gồm:
- Một đạo đời vua Cảnh Hưng thứ 44 (1783);
- Một đạo đời vua Gia Long thú 9 (1810);
- Một đạo đời vua Khải Định thứ 9 (1924)(6)
Bà được bao phong với các mỹ tự sau:
Hà Dương, Phương Khiết, Trai Trang Thục Thân Công Chúa. Trong bài văn tế Bà, cũng ghi rõ tự hiệu, Mỹ tự như trong sắc phong và được đọc vào các dịp lễ hội tế Bà.
Cuốn Thần tích của Bà, gồm 3 trang giấy dó, khổ 25x15cm. Mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng khoảng 20 chữ Hán hoặc Nôm. Thần tích được ghép lại vào năm Gia Long 9 (1810). Dịch nghĩa như sau(7):
“Bản Đức là người làng Quả Cảm. Người ra đời vào năm Thiên Ứng Chính Bình thứ tư (1235) (?) Người có dáng dấp đặc biệt, tư thái khác thường. Cha mẹ Người đã từng làm nhiều việc thiện. Ông Bà sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, có thêm buôn bán nhỏ, suốt đời chịu khó lam làm, không hề tranh cạnh với ai. Năm ấy tuổi đã ngoại ba mươi mà điềm lành về con cái lại chưa thấy có. (Một hôm) ông nói nhỏ với bà rằng: “Trời đất rất mực công bằng, cớ sao về đường con cái ta lại muộn mằn thế ? Hay là ta đi cầu đảo, xem sao!” Thế rồi Ông Bà đến cầu xin trước cửa Phật. Mấy ngày sau một đêm xuân vào khoảng quá canh ba, Bà bỗng thúc Ông trở dậy, nói với Ông về ý mình và hỏi xem Ông có cảm thấy mùi hương quẩn quanh trùm lên chăn gối không, Ông liền trả lời Bà rằng: “Không dè trong giấc mộng vừa rồi, ta cũng cảm thấy điềm phúc tràn trề ấy”. Bà vui sướng hỏi gạn Ông: “ Cớ sao vậy?” Ông nói “Đêm khuya thanh vắng, ta gặp một bà lớn đĩnh đạc trên tòa sen, Bà ban cho vợ chồng ta một đám mây đẹp. Ta cúi đầu lạy tạ, và mang đóa mây về đây”. Bà bảo lại ông rằng: “Thiếp cũng gặp giấc mộng như thế ! Từ đó bà ung dung nghỉ ngơi. Đến khi no ngày đủ tháng, Bà sinh hạ được một người con gái. Khi còn là một đứa trẻ trong lúc chơi đùa cùng bè bạn, nàng bao giờ cũng đàng hoàng đĩnh đạc. Lớn lên, nàng tài sắc hơn người. Vào đời vua Anh Tông (1293 - 1329), nàng theo mẹ đến Trường An(8) buôn bán. Một hôm, vừa sớm tinh mơ, mẹ con nàng đang đi thì gặp xe vua. Ngẩng đầu nhìn, thấy xe rèm rủ kín mít. Mẹ con nàng đành tạm lánh ra bên đường mà không còn nhìn rõ gì ở xung quanh đó nữa. Rồi bỗng thấy sứ giả tới truyền lệnh rằng: “Nơi này xuất hiện một mây trắng chính là mặt trời chỉ báo. Ai ẩn náu ở đây phải ra ứng chỉ ngay!” Mẹ con nàng bàng hoàng, chân tay bủn rủn, đành sửa lại xiêm áo rồi bước tới trước mặt nhà vua, theo lệnh lên xe, cùng về. Sau đó nhà vua lại cho phép nàng đưa mẹ hiền về quê phụng dưỡng. Vài năm ở nơi cung cấm quen dần, nàng luôn được nhà vua sủng ái và ban ơn huệ cho cha mẹ. Được ít lâu nàng mang thai. Nhà vua phong nàng làm Hoàng Phi đệ tam cung và cấp cho 72 trang làm bổng lộc riêng. Làng Quả Cảm quê hương nàng vì vậy cũng được thơm lây. Năm ấy sao dời, nàng mắc bệnh vì mang thai rồi qua đời. Nhà vua đích thân tới tận nơi khóc lóc thảm thiết làm lễ tang và truy tặng nàng làm Hoàng Hậu. Sau đó lại cho phép dân thuộc 72 trang, nơi hưởng bổng riêng của nàng được thờ nàng làm phúc thần. Nhà vua còn ra lệnh cho quan trọng thần đem theo quân tướng, ngựa voi hộ tống thi hài nàng về quê, xây lăng an táng nàng tại đất đầu núi Hoàng Nghênh làng Quả Cảm…(9)
Ngoài các văn bản vừa giới thiệu, trên núi Kim Sơn làng Quả Cảm còn tấm bia mộ chí của song thân Bà Chúa. Tấm bia này hiện được đưa về bảo quản tại đình làng trên bia ghi dòng chữ: “Tiên khảo tỷ Trần Dương mộ chí”. (mộ chí của cha mẹ ông họ Trần và bà họ Dương). Bia có 4 mặt, khổ 50x25cm, chất liệu đá xanh. Mỗi mặt có chín dòng, mỗi dòng có khoảng mười tám chữ Hán xen Nôm. Bia được dựng vào đời Lê Cảnh Hưng (1740 - 1786), nội dung nói về sự tích cụ họ Trần và cụ họ Dương là song thân của Bà Chúa. Vì bia để ngoài trời khá lâu bị mưa gió xâm thực, nên nhiều chữ mất nét khó đọc.
Ở thôn Xuân Ái ngay bên cạnh Quả Cảm còn có một khu lăng mộ đá, dân địa phương nói là lăng Hoàng Tử, người con trai của Bà Chúa. Kề sát là thôn Xuân Viên, có tên Nôm là Vườn Đào, tương truyền là vườn hoa của Bà Chúa. Cả con ngòi “Ba Huyện” ở đây cũng tương truyền là dòng sông Bà Chúa khơi để đi dạo chơi lúc rảnh rỗi .
Trong số trang ấp được vua Trần ban cho làm bổng lộc riêng, có ba làng Lẫm (kho) là Lẫm Thượng Đồng thuộc Tiên Trung Đồng thuộc Việt Yên và Hạ Đồng thuộc Tiên Sơn, đều trong địa bàn Hà Bắc ngày nay. Dân trong ba thôn này hiện vẫn coi nhau như anh em một nhà.
Vào những ngày lễ Thánh, họ thường cùng nhau hợp tác tổ chức lễ hội coi như ngày lễ chung. Truyền thuyết kể rằng do được lộc Bà Chúa ban cho, dân làng Quả Cảm ít làm ruộng, chỉ quen làm nghề bánh trái hoặc trồng cây ăn quả. Còn lúa gạo thì cứ đến các làng Lẫm hoặc Cô Mễ lĩnh về dùng. Hiện nay dân Quả Cảm vẫn sống chủ yếu bằng nghề trồng cây ăn quả và làm hàng quà bánh để bán.
Thôn Thượng Đồng, xã Vạn An cùng huyện, xưa gọi là “Đại Tảo xứ, Thượng Đồng Thôn”, cũng thờ Bà Chúa làm phúc thần. Tại đình làng nơi thờ Bà hiện còn một tấm bia lớn, hai mặt khổ 65x120cm, dày 20cm, bằng chất liệu đá xanh. Trán bia trạm “Lưỡng long triều nguyệt” (hai rồng trầu nmặt trăng) , xung quanh viền hoa dây. Dưới trán bia khắc bốn chữ lớn “Thượng đẳng tối linh” (Linh thiêng tuyệt đỉnh). Lòng bia gồm 24 dòng, mỗi dòng khoảng ba mươi chữ Hán xen Nôm. Nội dung bia nói về thần tích hai vị phúc thần thờ ở đình làng là Đức vua Bà (Bà Chúa Kho) và Đức Cao Sơn. Sự tích Vua Bà được khắc ở mặt trước phía bên phải của tấm bia. Số chữ và nội dung đúng như bản thần tích. Bà chúa Kho hiện có ở đền thờ Bà tại làng Quả Cảm. Cuối bia ghi thời hiệu Tự Đức thứ 21 (1868). Chúng tôi cho rằng văn bản tấm bia này là chép từ bản thần tích Quả Cảm. Qua các tài liệu trình bày trên đây, ta thấy vấn đề sự tích Bà Chúa Kho cho đến nay vẫn là một vấn đề nan giải. Bởi vì sách vở chính thống không ghi chép mà chủ yếu dựa vào truyền thuyết thì cũng có thể đúng và cũng có thể không đúng. Ví như đền Bà Chúa ở làng Cô Mễ, truyền thuyết nói là Bà sống ở đời Lý, nhưng đôi câu đối thờ ở đền lại ghi Bà sống vào đời Lê, chưa kể không biết là Lê nào.
Ngay như cuốn Thần Phả Bà Chúa Kho ở đền làng Quả Cảm cũng còn điểm tồn nghi. Thần phả ghi là Bà sinh vào năm Thiên Ứng Chính Bình thứ tư triều Trần, tức vào năm 1232. Vậy mà mãi đến đời vua Trần Anh Tông (1232 - 1329) mới ban cho Bà làm Hoàng Hậu. Vậy lúc này Bà chẳng đã quá lớn tuổi rồi sao?
Dù vậy, qua số tư liệu tìm thêm được mà chúng tôi cho là rất quý, ta vẫn có thể hình dung được Bà Chúa Kho xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo khó ở làng Quả Cảm. Bà hay lam hay làm, biết tổ chức cuộc sống vì dân, đã cai quản 72 trang trại, dẫn dắt dân các nơi này khai hoang lập ấp, xây dựng cuộc sống ấm no, góp phần bảo vệ an ninh đất nước. Ở vào thời buổi ấy, công lao của Bà thật không nhỏ. Bà xứng đáng được nhân dân địa phương tôn kính. Cho đến ngày nay, nhiều người còn gửi gắm niềm tin ở Bà, mong Bà ban cho những điều tốt lành, để cho cái thiện mãi mãi vượt lên trên cái ác.
Thiết nghĩ các cơ quan hữu trách cần có kế hoạch cụ thể để phát huy vẻ đẹp truyền thống quê hương Bà Chúa Kho, chiếc nôi sinh của các điệu hát Quan họ nổi tiếng. Mặt khác, cũng cần gạt bỏ những quan niệm sai lầm hoặc lợi dụng tiếng thơm Bà Chúa mà làm những việc không đúng gây ảnh hưởng xấu cho quê hương Bà.
CHÚ THÍCH
(1) Xem Lịch sử Đền Bà Chúa Kho, Giáo hội Phật giáo Hà Nội xuất bản, 1991; và Đền Bà Chúa Kho của Hoàng Hồng Cẩm, Nxb. Văn hóa dân tộc, H. 1992.
(2) Nghiêu Thuấn: hai vị vua hiền tài trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, theo truyền thuyết.
(3) Thành Tùng: chỉ Thị xã Bắc Ninh.
(4)(5): Hai câu đối này có chép lại ở sách Đền Bà Chúa Kho. Nhưng chỉ có phần phiên âm.
(6) Tất cả các văn bản Hán Nôm ở di tích này hiện đều do cụ Nguyễn Văn Khương, chủ tịch mặt trận bảo quản.
(7) Vì văn bản dài, xin lược phần phiên âm Hán Việt.
(8) Chỉ Kinh đô Thăng Long (Hà Nội).
(9) Cuốn Thần phả, có chép các sắc phong đã giới thiệu trên bia./.

Total notes of this article: 4 in 2 rating
Click on stars to rate this article

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc