Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

HIỆU ĐÍNH CUỐN LỊCH ĐẠI NIÊN KỶ BÁCH TRÚNG KINH

THUrsday - 04/12/2014 21:24
Hình minh họa

Hình minh họa

Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh(1) (sẽ viết tắt là LĐNK) là cuốn tích niên lịch, ghi lịch cuối thời Lê Mạc, thời Tây Sơn, đầu thời Nguyễn; từ năm Canh Thân, Cảnh Hưng nguyên niên (1710) đến năm Quý Mùi, Tự Đức 36 (1883), gồm 144 năm.
Khác với cuốn Bách trúng kinh(2) - một cuốn lịch thời Lê, phần lớn được in ván, phần nhỏ được chép tay; cả 2 phần đều có chất lượng rất tốt - đã là chỗ dựa của chúng tôi để khảo cứu lịch Lê - Trịnh(3); cuốn LĐNK này là cuốn lịch hoàn toàn chép tay, chữ đẹp và rõ, nhưng đáng tiếc là có nhiều sai sót; tuy vậy thông qua phân tích lô-gich, vận dụng một cách định tính lý thuyết mã của lý thuyết thông tin để sửa chữa hầu hết các lỗi thì vẫn có thể khôi phục lại gần như nguyên dạng để làm cơ sở khảo cứu lịch Tây Sơn và lịch đầu thời Nguyễn.
Cần nhấn mạnh một thực tế là, cuốn lịch này gần như là một cuốn duy nhất ghi lịch thời cuối Lê, Tây Sơn và đầu Nguyễn mà chúng tôi được đọc. Bởi vậy việc hiệu đính cuốn LĐNK rất có ý nghĩa để trả lại giá trị cho cuốn lịch, và điều đó đã trở thành mục đích chính của bài báo này.
Cuốn LĐNK là cuốn lịch do Viễn đông Bác cổ xưa để lại, mang ký hiệu A. 1237, nay ở kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thuộc Ủy ban khoa học xã hội. Đáng tiếc là chúng tôi chưa xác định được tác giả, năm soạn và năm chép cuốn LĐNK này.

*1*

Cuốn LĐNK được viết trên giấy dó, không kể tờ bìa ghi tên sách, còn lại 65 tờ (130 tr) khổ 20,5x31,0cm. Trang đầu của tờ đầu được xem như trang bìa ghi cột chữ lớn: Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh, nhất bản. Tiếp theo, trang đầu tờ 1 ghi cột chữ: Trùng đính lịch đại niên kỷ bách trúng kinh; rồi đến bài ca quyết tính giờ; sau đó ghi niên đại các triều đại từ Hồng Bàng đến Nguyễn; cứ thế tiếp cho đến hết tờ 5 ghi các niên hiệu nhà Lê, Tây Sơn và Nguyễn.
Từ tờ 6 đến tờ 65 ghi lịch. Mỗi trang ghi được hơn một năm lịch, cứ hết năm này sang năm khác, khiến cho nhiều năm phải ghi trên 2 trang liên tiếp. Ở giữa tờ giấy, chỗ gấp nếp, nối 2 trang lại, là một cột ghi niên hiệu và số thứ tự của tờ, cột này nhiều khi nằm lọt vào giữa một năm lịch.
Trong 32 năm đầu, từ năm Canh Thân (1740) đến năm Tân Mão (1771) và năm Giáp Tý (1814) có để 2 dòng phía trên cùng ghi niên hiệu và niên thứ của nhà Thanh và nhà Lê, nhà Nguyễn.
Các năm lịch đều dành cột đầu, viết cao lên, để ghi tên theo năm can chi. Bắt đầu từ năm Giáp Tý (1804) thỉnh thỏa ng có năm ghi những hiện tượng thời tiết đặc biệt; chẳng hạn chính năm đó có ghi cột chữ nhỏ “thị niên hạ lục nguyệt hồng thủy”; các năm gần đó như Tân Mùi (1811), Canh Thìn (1820), Kỷ Sửu (1829), Nhâm Thìn (1832), Quý Tỵ (1833), Kỷ Dậu (1849), ... cũng có ghi những hiện tượng bất thường như lụt, hạn hán... Mấy năm cuối lại còn ghi sự xuất hiện của sao chổi: năm Tân Tị (1881) vào tháng 4, năm Mậu Ngọ (1882) vào tháng 8.
Từ cột thứ 2 ghi lịch các tháng lần lượt từ trên xuống dưới rồi từ phải sang trái: mỗi cột ghi được 2 tháng; mỗi tháng ghi nguyệt sóc (can chi của ngày sóc) và các tiết hậu thuộc tháng đó. Việc ghi các tiết hậu này không thống nhất. Chỉ có 6 năm cuối cùng, từ năm Mậu Dần (1878) đến năm Quý Mùi (1883) là ghi đủ 24 tiết hậu; còn lại thường chỉ ghi một số trong 12 tiết khí, không ghi các trung khí. Ở 16 năm đầu, từ năm Canh Thìn (1740) đến năm Ất Hợi (1755) đều ghi 12 tiết khí. Tiếp đó là 30 năm chỉ ghi từ 4 đến 6 tiết khí; khi ghi 4 ngày tiết khí thì ghi các tiết Lập xuân, Lập hạ, Lập thu, Lập đông; khi ghi 5 thì thêm Thanh minh; khi ghi 6 thì thêm Mang chủng; riêng có 3 năm: Bính Tý (1756), Kỷ Mão (1759), Quý Mùi (1763) chỉ ghi mỗi một tiết Lập xuân. Trong 72 năm gần cuối, từ Bính Dần (1806) đến Đinh Sửu (1877) thường ghi từ 6 đến 12 tiết khí. Tuy ghi chệch choạc, thiếu sót như vậy, nhưng rất có chọn lọc: khi ghi càng ít thì chọn những tiết hậu càng quan trọng, người quen dùng lịch có thể từ đó tìm lại các tiết hậu không được ghi.
Trong văn Hán có hiện tượng kiêng húy, song tuân thủ không triệt để. Ngay trang đầu có chữ “thì” vẫn để nguyên, không kiêng húy Tự Đức, mấy trang tiếp theo có khoảng 20 chữ “Tông”, thì đều viết thiếu một nét gạch ở giữa, kiêng húy Thiệu Trị. Chữ “hồng” trong “hồng thủy” có ghi ở các năm Canh Tý (1804), Nhâm Thìn (1832), Quý Tỵ (1833)... lại để nguyên, không kiêng húy Tự Đức. Việc kiêng húy Gia Long (có tên là Chủng) khi viết tiết Mang chủng lại phức tạp hơn. Có 10 năm, từ năm Ất Sửu (1745) đến năm Giáp Tuất (1754) không kiêng húy, vẫn viết là “Mang chủng”. Năm Mậu Dần (1878) sau khi đã viết chữ “trưởng” rồi lại gạch đi để viết chữ “chủng”. Năm năm đầu, từ Canh Thân (1740) đến Giáp Tý (1747) và năm Kỷ Mão (1879) thì kiêng húy mà viết thành “mang thực”. Riêng năm Canh Thìn (1880) lại viết thành “Mang trướng”. Các năm còn lại, trừ những năm không ghi tiết Mang chủng, thì đều ghi là “Mang hiện”; riêng năm Ất Hợi (1754) chữ “hiện” viết đầy đủ có cả bộ “vượng” kiến ở bên, còn các trường hợp khác chỉ viết chữ.
Chúng tôi sơ bộ đoán định rằng, cuốn lịch này có thể được biên soạn vào đời Thành Thái (1889 - 1907) vì ở cuối tờ 5 có ghi cột chữ “Thành Thái, kỷ nguyên Kỷ Sửu, chung..., cộng...”, còn bỏ trống chỗ để ghi năm cuối đời Thành Thái và tổng số năm. Người biên soạn có thể sống vào khoảng thời gian đó, nên đã nhớ rõ (cũng có thể lấy từ sử sách) và thấy cần ghi chép các hiện tượng thời tiết bất thường; những năm cuối lại còn ghi cả sự xuất hiện của sao chổi. Tác giả có thể đã căn cứ từ nhiều cuốn lịch, tối thiểu từ 3 cuốn lịch khác nhau: một cuốn có lịch Lê, một cuốn có lịch Tây Sơn, một cuốn có lịch Nguyễn và dường như có ý định ghi chép tiếp. Lịch dừng ở năm Tự Đức thứ 36, là năm cuối đời Tự Đức, nhưng ở tờ 5 đã ghi cột “Thành Thái kỷ nguyên...”. Đáng chú ý là khoảng trống này, tuy chỉ có 6 năm nhưng trải qua 5 đời vua (Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh). Những cuốn lịch mà tác giả dựa vào để biên soạn cuốn này, có thể có quy cách khác nhau; chẳng hạn cuốn đầu tiên là cuốn lịch Lê, có thể chính là cuốnBách trúng kinh(4), trang lịch chia làm 2 khung, viết hết khung trên từ phải qua trái, rồi mới xuống khung dưới; khi biên soạn thì theo một quy cách thống nhất: viết hết cột bên phải với 2 tháng lịch mới sang cột bên cạnh (có thể việc phải chuyển quy cách như vậy cũng là nguyên nhân gây ra những sai sót trong cuốn lịch). Trải qua 5 đời vua ngắn ngủi, và ở Bắc Kỳ đã bị Pháp chiếm từ năm 1884, kỷ cương phong kiến đã lỏng lẻo, việc kiêng húy không còn nghiêm ngặt nữa, người soạn không còn thấy phải tuân theo, những chỗ có kiêng, chẳng qua là do thói quen mà viết thế.
Viễn đông Bác cổ được thành lập năm 1901 và đến năm 1904 bắt đầu có việc sao chép các thư tịch. Cuốn lịch này chắc là được chép lại vào dịp đó, từ cuốn lịch đang biên soạn dở dang. Người chép đã không nghiêm túc tuân theo quy cách thống nhất của người biên soạn ra, đã lược bỏ đi nhiều chỗ, nhất là ở giữa cuốn lịch. Chỉ sau 32 trang đầu, người chép bỏ hẳn niên hiệu và niên thứ nhà Thanh và nhà Nguyễn. Ở giữa cuốn lịch lại có nhiều tiết hậu bị lược bỏ không chép. Đáng tiếc hơn cả là bản chép có quá nhiều sai sót, bắt buộc chúng ta phải bàn đến việc chỉnh lý lại.

*1*

Cơ sở lý luận để chỉnh lý là lý thuyết mã, mà chúng tôi trình bày sơ lược những điều cần vận dụng dưới đây.
Ngôn ngữ mỗi dân tộc gồm 2 hệ thống tín hiệu: hệ thống tín hiệu thứ nhất là tiếng nói; hệ thống tín hiệu thứ hai là chữ viết (nói rộng ra, ngoài tiếng nói và chữ viết, ngày nay còn nhiều phương tiện diễn đạt tổng hợp khác, khiến ta có thể nói đến: ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ điện ảnh... chẳng hạn như người diễn kịch câm, không nói, không viết mà chúng ta vẫn hiểu). Khi ngôn ngữ được dùng vào những mục đích khác nhau, nó lại có những đặc thù riêng: ngôn ngữ văn học khác với ngôn ngữ dùng trong khoa học kỹ thuật... Từ khi có máy tính, lại xuất hiện những ngôn ngữ đặc biệt để trao đổi giữ người và máy tính, cũng như giữa các máy tính với nhau. Quen thuộc hơn cả, ta thường nghe nói đến mật mã trong truyền đưa thông tin, trong công tác cơ yếu, bảo mật.
Thực ra mọi ngôn ngữ có thể coi là các bộ mã khác nhau. Khi muốn diễn đạt một ý tứ gì ta phải mã hóa, để hiểu được nhau ta phải giải mã.
Các bộ mã thường có độ dư thừa thông tin nhất định, nhờ đó nhiều khi “mới nói nửa lời, ta đã hiểu nhau...”. Độ dư thừa thông tin mà càng lớn thì câu chuyện càng dài dòng; nhưng độ dư thừa thông tin mà bé quá nhiều khi trở nên khó hiểu và dễ gây hiểu lầm. Vấn đề là cần phải biết dùng một bộ mã với những độ dư thừa thông tin vừa đủ. Với mục đích tiết kiệm, sao cho việc truyền tin nhanh nhất, người ta xây dựng những bộ mã có độ dư thông tin tối thiểu, gọi là mã tối ưu. Còn với mục đích “chống nhiễu”, người ta xây dựng những bộ mã có độ dư thông tin tương đối lớn, để khi nhận được một bản tin, nếu có sai ta phát hiện được, khôi phục đúng nguồn tin ban đầu, đó là các loại mã sửa sai.
Trở lại vấn đề ghi lịch, mỗi cách ghi là một cách mã hóa với những đặc thù riêng, với những ưu khuyết điểm vốn có của nó. Quan trọng là chọn một dư thừa thông tin vừa đủ, một cách bố trí khoa học: đơn nhất, chặt chẽ, rõ ràng và hợp lý. Cách ghi lịch của Trần Viên trong cuốn Trung Tây Hồi sử nhật lịch(5) có độ dư thừa thông tin quá lớn, tra cứu dễ dàng nhưng quá dài dòng, cần đến hơn 1000 trang để ghi 2000 năm lịch. Cách ghi của Nguyễn Trọng Bỉnh trong cuốn Bảng đối chiếu âm dương lịch 2000 năm và niên biểu(6) có tiết kiệm hơn, chỉ cần 260 trang, độ dư thừa thông tin bé hơn, nhưng đáng tiếc là thiếu chặt chẽ thiếu nhất quán, quy tắc tra cứu quá phức tạp, đúng như giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã phê bình(7) tr.73, 74. Rút kinh nghiệm từ các cách ghi khác nhau chúng tôi đã đề xuất một cách ghi lịch mới, độ dư thừa thông tin rất nhỏ, dùng 130 trang chúng tôi in được 2000 năm lịch mà rất dễ tra cứu. Cách ghi lịch này được công bố trong cuốn Lịch văn hóa tổng hợp (1987 - 1990)(8).
Để đọc lịch, nhất là để đính chính lại các sai sót, ta phải hiểu rõ quy tắc bố trí và quy tắc tra cứu; tức là quy tắc mã hóa và quy tắc giải mã. Dựa vào các quy tắc đó mà phân tích chúng tôi đã có thể phát hiện được nhiều sai sót ở một vài lịch. Ở bài báo này, chúng tôi vận dụng lý thuyết mã vào việc đọc và hiệu đính lại cuốn LĐNK.

*1*

Trong cách ghi lịch của cuốn LĐNK có hai tín hiệu quan trọng ở mỗi tháng mà chúng phải luôn luôn thống nhất với nhau, đó là: tính thiếu đủ của một tháng (tháng đủ thì ghi chữ “đại”, tháng thiếu thì ghi chữ “tiểu”), và can chi của ngày sóc (tức là ngày mùng một hàng tháng) của tháng đó. Nói một cách chặt chẽ thì tính thiếu đủ cùng với can chi của ngày sóc của tháng trước phải hoàn toàn phù hợp với can chi của ngày sóc tháng sau. Nếu ta biết tháng trước thiếu (29 ngày) hay đủ (30 ngày) và can chi của ngày sóc của nó thì ta suy ngay ra được can chi của ngày sóc tháng sau. Chẳng hạn, nếu một tháng nào đó đủ (30 ngày), có can chi sóc là Giáp Tý, thì can chi của sóc tháng sau phải là Giáp Ngọ. Nếu ta không biết tháng trước là thiếu hay đủ, mà chỉ biết can chi sóc của nó là Giáp Tý chẳng hạn, thì can chi của sóc tháng sau chỉ có thể là một trong hai khả năng, hoặc là Giáp Ngọ (nếu tháng trước đủ) hoặc là Quý Tỵ (nếu tháng trước thiếu). Như thế là khi biết can chi sóc tháng trước thì ta biết sơ bộ can chi sóc tháng sau chỉ có thể là 2 khả năng trong số 60 cặp can chi của bảng lục thập hoa giáp. Rút ra các kiểu ràng buộc như vậy, dựa vào đó chúng ta dễ dàng phát hiện sai và sửa được các sai sót do “tam sao thất bản”.
Tín hiệu ghi lại can chi ngày sóc, nếu dùng con số từ 1 đến 60 như giáo sư Hoàng Xuân Hãn ghi trong cuốn Lịch và lịch Việt Nam(9), có những đặc trưng sai sót riêng mà chúng tôi đã vận dụng và liệt kê các lỗi in ở bài Lịch Lê - Trịnh(10). Cách ghi can chi bằng chữ Hán như trong LĐNK lại có những đặc trưng sai sót khác, vả lại còn phụ thuộc vào trạng thái tâm lý và thói quen của người chép (nguồn nhiễu). Thực ra khi chép dưới dạng chữ, các tín hiệu can và chi này được tách biệt ra làm 2, giữa chúng còn một mối ràng buộc khá lỏng, khiến cho mỗi tín hiệu có những đặc điểm riêng và do đó khả năng xuất hiện sai sót khác nhau. Các tín hiệu hàng can ít sai sót hơn (như sau này ta thấy) về chu kỳ 10 của nó là ước của 30 (tháng đủ 30 ngày) và con số 29 (tháng thiếu) chỉ lệch khỏi con số 30 có 1 ngày. Nếu tháng trước đủ thì can của ngày sóc hai tháng giống nhau, nếu tháng trước thiếu thì can của sóc tháng sau là hàng can liền kề phía trước (theo thứ tự của 10 can) với can của sóc tháng trước. Hàng chi có chu kỳ 12 không phải là ước số của 30 hay 29 nên khi chép dễ sai nhiều hơn. Biết rằng một nửa của 12 là 6, mà 6 lại là ước số của 30. Nhận xét này cũng giúp ích rất nhiều cho người hiệu đính.
Phân tích một cách chi tiết ta thấy có 3 tín hiệu riêng biệt nhau là: tính thiếu đủ, can của sóc và chi của sóc. Về nguyên tắc chúng phải thống nhất (tương ứng) với nhau. Nếu có sự bất nhất của 3 tín hiệu này là có sai sót.
Vây, khi phát hiện ra sai sót rồi thì sửa chữa, hiệu đính lại như thế nào?
Theo lý thuyết thông tin thì: nếu như khả năng sai một tín hiệu là 1:100 thì khả năng sai hai tín hiệu đồng thời sẽ là 1: 10.000 và khả năng sai 3 tín hiệu đồng thời là 1: 1.000.000. Với xác suất sai sót như vậy, ta tạm coi là mọi sai sót đều là sai 1 tín hiệu. Từ đó ta có một quy tắc để làm chỗ dựa mà sửa sai tạm gọi là “đa số đúng, thiểu số sai”. Theo quy tắc này, nếu có sự bất nhất, thì một tín hiệu nào đó đi chệch khỏi sự thống nhất chung, thì nó cần được sửa lại cho thống nhất với 2 tín hiệu kia. Đó là khi ta coi các tín hiệu sai sót một cách “độc lập”, tín hiệu này sai không liên quan, không do hay không kéo theo sự sai sót của một tín hiệu khác. Nhưng trong thực tế có khá nhiều trường hợp sai sót “hệ thống”, sai cả một cụm, đó là trường hợp sai sót “phụ thuộc”. Chẳng hạn có trường hợp sai hoặc thiếu đồng thời cả cặp can chi như ở năm Mậu Dần (1878), thậm chí có trường hợp thiếu hẳn một tháng như năm Ất Sửu (1805) mà chúng tôi sẽ nói đến sau này. Những trường hợp này phân tích và lý giải có phức tạp hơn.

*1*

Dựa vào các lý luận trên chúng tôi đã tiến hành hiệu đính cuốn LĐNK và bây giờ xin nêu ra các kết quả đã đạt được.
1. Bảng 1: thống kê 38 trường hợp viết sai, trong đó có 19 trường hợp viết thiếu chữ “đại” (tháng đủ) hoặc chữ “tiểu” (tháng thiếu), (ở cột cuối bảng chúng tôi ghi chú bằng chữ T) và 19 trường hợp viết nhầm“tiểu” thành “đại” hoặc ngược lại (cột cuối chúng tôi ghi chữ N). Thiếu còn nhẹ hơn nhầm, và thiếu dễ phát hiện và cũng dễ sửa hơn nhầm. Những trường hợp này can và chi của ngày sóc đều đúng cả.
Bảng 1: Sửa lại tính thiếu đủ của tháng
1
TT Năm Viết là Sửa thành Ghi chú
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
8
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
Nhâm Tuất
Giáp Tuất
Đinh Sửu
Canh Thìn
Nhâm Ngọ
_
Quý Mùi
Giáp Thân
_
_
Ất Dậu
Bính Tuất
Tân Mão
Nhâm Thìn
_
Ất Mùi Mậu Tuất
Kỷ Hợi
Canh Tý
Đinh Mùi
Mậu Thân
Tân Hợi
Nhâm Tý
_
Giáp Dần
_
_
Kỷ Mùi
Nhâm Tuất
Đinh Mão
Quý Mùi
Giáp Ngọ
Quý Mão
Nhâm Ngọ
Đinh Mão
Tân Mùi
Nhâm Thân
Quý Dậu
1742
1754
1757
1760
1762
_
1763
1764
_
_
1765
1766
1771
1772
_
1775
1778
1779
1780
1787
1788
1791
1792
_
1794
_
_
1799
1802
1807
1823
1834
1843
1858
1867
1871
1872
1873
Thập nhị nguyệt
Hựu nhị nguyệt đại
Thập nhị nguyệt đại
Chính nguyệt
Chính nguyệt
Ngũ nguyệt đại
Thất nguyệt
Ngũ nguyệt 
Thất nguyệt
Cửu nguyệt đại
Lục nguyệt đại
Nhị nguyệt đại
Nhị nguyệt
Lục nguyệt
Thất nguyệt
Thất nguyệt tiểu
Thập nhị nguyệt đại
Thất nguyệt đại
Tứ nguyệt tiểu
Thập nhất nguyệt
Bát nguyệt
Tứ nguyệt tiểu
Thất nguyệt đại
Thập nhất nguyệt
Lục nguyệt
Thất nguyệt đại
Thập nhất nguyệt
Thập nhị nguyệt
Lục nguyệt
Chính nguyệt
Tứ nguyệt đại
Thập nhị nguyệt
Thập nhất nguyệt tiểu
Thất nguyệt đại
Tứ nguyệt đại
Tứ nguyệt tiểu
Tứ nguyệt
Bát nguyệt đại
đại
tiểu
tiểu
tiểu
đại
tiểu
tiểu
tiểu
tiểu
tiểu
tiểu
tiểu
đại
tiểu
đại
đại
tiểu
tiểu
đại
đại
đại
đại
tiểu
tiểu
đại
tiểu
tiểu
tiểu
tiểu
đại
tiểu
đại
đại
tiểu
tiểu
đại
đại
tiểu
T
N
N
T
T
N
T
T
T
N
N
N
T
T
T
N
N
N
N
T
T
N
N
T
T
N
T
T
T
T
N
T
N
N
N
N
T
N
1 1
Ghi chú: để đơn giản, chúng tôi chỉ ghi các chữ cần sửa hay cần thêm vào ở cột thứ 5. Các lỗi này, cũng như các lỗi ở bảng 2, bảng 3 đều được sửa theo nguyên tắc “đa số đúng, thiểu số sai”.
2. Bảng 2: Thống kê 30 trường hợp viết sai chi của ngày sóc, nêu cách sửa lại cho đúng. Ở đây can của ngày sóc cũng như tính thiếu đủ của tháng coi như viết đúng, vì chúng phù hợp với nhau.
Bảng 2: Sửa lại hàng can chi của ngày sóc
1
TT Năm Viết là Sửa thành
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
Nhâm Tuất 1742
Nhâm Tuất 1742
Mậu Thìn 1748
Mậu Thìn 1748
Kỷ Tỵ 1749
Canh Ngọ 1750
Canh Ngọ 1750
Canh Ngọ 1750
Nhâm Thân 1752
Kỷ Mão 1759
Quý Mùi 1763
Kỷ Sửu 1769
Nhâm Thìn 1772
Nhâm Thìn 1772
Nhâm Thìn 1772
Canh Tý 1780
Canh Tý 1780
Canh Tý 1780
Ất Tỵ 1785
Bính Ngọ 1786
Tân Hợi 1791
Đinh Mão 1807
Bính Tuất 1826
Đinh Hợi 1827
Tân Hợi 1851
Đinh Tỵ 1857
Canh Thân 1860
Canh Thân 1860
Tân Dậu 1861
Quý Hợi 1863
Lục nguyệt đại Mậu Ngọ
Thất nguyệt tiểu Mậu Tý
Hựu cửu nguyệt đại Nhâm thọ
Thập nguyệt tiểu Nhâm Tý
Chính nguyệt tiểu Canh Ngọ
Cửu nguyệt đại Canh Ngọ
Thập nguyệt đại Canh Tý
Thập nhị nguyệt đại Canh Ngọ
Chính nguyệt đại Quý Mùi
Ngũ nguyệt đại Canh Tý
Chính nguyệt đại Kỷ Tỵ
Cửu nguyệt tiểu Canh Dần
Nhị nguyệt đại Bính Thìn
Tam nguyệt đại Bính Tuất
Tứ nguyệt tiểu Bính Thìn
Tứ nguyệt tiểu Kỷ Mão
Thất nguyệt tiểu Canh Thìn
Cửu nguyệt đại Bính
Thập nhị nguyệt đại Bính Dần
Hựu cửu nguyệt đại tân Dậu
Thập nhị nguyệt tiểu tân Dậu
Thập nhất nguyệt tiểu Mậu Thìn
Cửu nguyệt đại Kỷ Tỵ
Lục nguyệt tiểu Kỷ Mùi
Cửu nguyệt đại Quý Dậu
Thất nguyệt tiểu Canh Tuất
Chính nguyệt đại Bính Thân
Nhị nguyệt tiểu Bính Dần
Cửu nguyệt đại Bính Ngọ
Thập nguyệt đại Giáp Thân

Ngọ

Ngọ
Tuất

Ngọ

Hợi
Thìn
Mùi
Thìn
Dần
Thân
Dần
Dậu
Dần


Mùi
Sửu
Tuất
Mão
Hợi
Sửu
Thìn
Dần
Thân
Tuất
Tuất
1 1
3. Bảng 3: Có hai trường hợp viết sai can của ngày sóc, vào năm Ất Mão (1795), cần sửa như sau:
Bảng 3: Sửa lại hàng can của sóc.
1
Viết là Sửa thành
Bát nguyệt đại Tân Mão
Cửu nguyệt đại Tân Dậu
kỷ
kỷ
1 1
4. Bảng 4: Có một trường hợp ghi thiếu cả can lẫn chi của ngày sóc ở năm Mậu Dần (1878), cần thêm vào như sau:
Bảng 4: Thêm can chi ngày sóc
1
Viết là Thêm vào
Ngũ nguyệt tiểu Canh Tuất
1 1
Trên đây là 4 loại sai rất dễ xử lý. Cái khó ở đây là làm sao phát hiện cho ra những chỗ bất nhất, tức là những chỗ sai sót.
5. Bảng 5: Có hai trường hợp sai thuộc năm Mậu Thìn (1748) khó sửa hơn, vì cả 3 tín hiệu bất nhất với nhau, ở đây ta nhận xét như sau:
- Hàng chi của ngày sóc tháng 5 không phù hợp với tính thiếu đủ của tháng trước, nhưng nếu cho rằng chi của sóc tháng 5 và tháng 6 bị đảo lẫn sang nhau, thì thấy phù hợp.
- Phù hợp với điều đó nếu ta coi rằng tính thiếu đủ cũng bị đảo lẫn như vậy.
- Vì can của sóc 2 tháng giống nhau, cho nên có thể coi rằng có một sự đảo lẫn cả cụm 3 tín hiệu đó. Tóm lại có thể sửa như bảng 5.
Bảng 5: Đảo lại cả 3 tín hiệu.
1
Viết là Sửa thành
Ngũ nguyệt tiểu Giáp Dần
Lục nguyệt đại Giáp Thân
Đại Giáp Thân
Tiểu Giáp Dần
1 1
Kiểu sai này rất dễ xảy ra, khi bản chính viết theo lối các tháng đầu năm nằm ở khung phía trên, bản chép lại thì chuyển thành viết lần lượt các tháng từ trên xuống dưới rồi từ phải sang trái (như giả thiết chúng tôi đã nêu ở trên).
Cách sửa đó là chính xác. Khẳng định này có được là nhờ đem đối chiếu với Bách trúng kinh(11), một cuốn lịch sử triều Lê có giá trị văn bản học cao mà chúng tôi đã nêu ở bài Lịch Lê - Trịnh(12).
6. Năm Quý Tỵ (1773): Ở đây có hiện tượng chép đảo thứ tự của 2 tháng liên tiếp nhau; tháng 3 đứng trước tháng 2 nhuận. Nay cần phải sửa lại viết tháng 2 nhuận lên trước cho đúng. Loại viết đảo này có cùng một nguyên nhân như những sai sót xảy ra ở lịch năm Mậu Thìn (1718). Về “thông tin” có thể coi như không sai, nhưng nếu để nguyên như thế, khi tra cứu dễ mắc phải sai lầm.
7. Năm Đinh Hợi (1767): Tháng 9 nhuận viết không đúng chỗ quy định, mà viết vào chỗ dành cho các ngày tiết khí. Như vậy không sai, nhưng “nguy hiểm”, vì khi đọc dễ bị bỏ qua và khi tra cứu lịch có thể mắc sai lầm. Có thể lúc đầu người viết đã viết thiếu, sau đó mới phát hiện ra và điền tạm vào đó.
8. Viết thiếu hẳn một tháng năm Ất Sửu (1805)
Thiếu hẳn tháng 8 nhuận.
Về các tháng trong năm viết rất chuẩn xác, lại thấy trước đó 2 năm (năm Quý Hợi 1803) và sau đó 3 năm (năm Mậu Thìn 1808) có tháng nhuận, nên chắc năm này phải có tháng nhuận. Căn cứ vào can chi sóc tháng 8 và tháng 9 ta biết được nhuận tháng 8.
Do biết tháng 8 đủ, có ngày sóc là Tân Hợi, nên tháng 8 nhuận này phải có ngày sóc là Tân Tỵ. Biết ngày sóc tháng 9 là Canh Tuất ta suy ra tháng 8 nhuận là tháng thiếu. Bởi vậy ta phải thêm vào một cột như sau giữa tháng 8 và tháng 9:
Hựu bát nguyệt tiểu, Tân Tỵ.
Như vậy là: ngoài hai trường hợp, viết sai chỗ ở năm Quý Tỵ (1773) và năm Đinh Hợi (1767) chúng tôi đã trình bày 74 lỗi “tự sửa”, tức là các lỗi nhỏ do những “nhiễu” nhỏ gây nên, ta có thể lợi dụng độ dư thừa thông tin mà khôi phục lại thông tin ban đầu còn thiếu hay nhầm lẫn. Còn những sai sót lớn, tức là những nhiễu lớn, làm át đi hoàn toàn các thông tin nguyên thủy, ta không còn cách nào phục chế được, không thể tự sửa được, đó là trường hợp hai năm nêu dưới đây:
9. Bảng 6: Có hai năm là Mậu Dần (1758) và Quý Sửu (1798) có quá nhiều sai sót, nói một cách khác là “nhiễu quá lớn”. Lúc này lý thuyết mã cũng không giúp ích gì cho chúng ta nữa.
Năm Mậu Dần (1758) là năm Cảnh Hưng thứ 19 nhà Lê. Lịch triều Lê chúng tôi đã bàn kỹ trong bài và đi đến kết luận là có thể hoàn toàn tin cậy vào cuốn Bách trúng kinh(13), bởi vậy ta có thể lấy đó làm “ngoại viện” dùng lịch của Bách trúng kinh mà sửa lại năm này như bảng 6 dưới đây:
Bảng 6: Theo Bách trúng kinh mà sửa lại lịch năm Mậu Dần 1758
1
TT Viết là Sửa thành
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Tam nguyệt đại Nhâm Thìn
Tứ nguyệt tiểu Nhâm Tuất
Ngũ nguyệt tiểu Tân Mão
Lục nguyệt đại Tân Dậu
Thất nguyệt tiểu Tân Mão
Bát nguyệt đại Canh Thân
Cửu nguyệt đại Canh Dần
Thập nguyệt tiểu Canh Thân
Thập nhất nguyệt đại Kỷ Sửu
Thập nhất nguyệt đại Kỷ Mùi
tiểu Đinh Hợi
đại Bính Thìn
Bính Tuất
Ất Mão
Ất Dậu
Giáp Dần
Giáp Thân
đại Giáp Dần
tiểu Giáp Thân
Quý Sửu
1 1
Thế là chỉ còn năm Quý Sửu (1793) tạm coi như không sửa được.

*1*

Đem bản LĐNK đã đính chính đối chiếu với lịch Lê - Trịnh(14) tức là cuốn Bách trúng kinh(15) với lịch Trung Quốc(16), với lịch mà Giáo sư Hoàng Xuân Hãn phục tính theo phép Đại Thống(17), cũng như với các sử liệu lấy trong Đại Nam thực lục(18), chúng tôi sơ bộ rút ra mấy nhận xét:
1. Phần lịch từ năm 1710 đến năm 1788 của LĐNK là lịch Lê - Trịnh; trừ năm Mậu Dần (1758) vừa nêu trên, còn lại đều trùng với bản Bách trúng kinh; cũng như cuốn Bách trúng kinh, cuốn này chỉ khác với cuốn Lịch và lịch Việt Nam ở năm Ất Sửu (1745) mà chúng tôi đã bàn trong bài Lịch Lê - Trịnh.
2. Từ năm 1789 đến năm 1801 LĐNK chép lịch Tây Sơn. Nếu ta đồng ý với phỏng đoán của giáo sư Hoàng Xuân Hãn rằng “Bắc Triều Tây Sơn dùng lịch nhà Thanh” (Hoàng Xuân Hãn, tr.70, Sđd) thì khi so sánh LĐNK với lịch Trung Quốc (Trần Viên Sđd) ta thấy có đại đồng (xem bảng 7: các tháng nhuận) và tiểu tị (xem bảng 8: các ngày sóc khác lịch Trung Quốc). Chúng tôi coi sự khác nhau về ngày sóc là sự khác nhau nhỏ, còn khác nhau về tháng nhuận là khác nhau lớn (Lê Thành Lân, Sđd).
Bảng 7: Các tháng nhuận từ năm 1789 đến năm 1812. TQ: là lịch Trung Quốc (Trần Viên - Sđd), HXH là lịch do Giáo sư Hoàng Xuân Hãn phục tính (Hoàng Xuân Hãn - SĐD), ĐNTL là sử liệu lấy ở Đại Nam thực lục
1
TT Năm TQ LĐNK HXH ĐNTL
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Kỷ Dậu 1789
Nhâm Tý 1792
Giáp Dần 1794
Ất Mão 1795
Đinh Tỵ 1797
Canh Thân 1800
Quý Hợi 1803
Ất Sửu 1805
Mậu Thìn 1808
Tân Mùi 1811
5
4

2
6
4
2
6
5
3
5
4

2
6
4
1
8
6
2
5
2
11

7
3
1
8
6
2
5
2
11

7
4
1
8
6
2
1 1
3. Từ năm 1802 đến năm 1812 ở LĐNK là lịch đầu thời Nguyễn dùng phép Đại Thống giống như Giáo sư Hoàng Xuân Hãn phục tính (Hoàng Xuân Hãn, tr.88, Sđd) trùng với sử sách nhà Nguyễn và rõ ràng khác lịch Trung Quốc (xem bảng 7).
4. Từ năm 1813 đến năm 1883 ở LĐNK là lịch Nguyễn dùng phép thời hiến, giống như Trung Quốc. Ta chỉ thấy có một ngày sóc là khác Trung Quốc vào năm Quý Dậu (1819) như đã nêu ở bảng 8
1
TT Ngày sóc Ghi theo dương lịch
LĐNK TQ
1
2
3
4
1-10 Ất Mão
1-5 Bính Thìn
1-4 nhuận Canh Thân
1-8 Kỷ Dậu
12-11-1795
6-6-1796
23-5-1800
16-9-1849
11-11-1795
5-6- 1796
24-5- 1800
17-9- 1849
1 1
Bốn nhận xét trên cho ta thấy bản LĐNK đã đính chính có thể dùng được và đáng tin cậy, nó sẽ là một trong những tài liệu cơ bản để ta khảo sát lịch Tây Sơn và lịch Nguyễn mà chúng tôi sẽ trình bày vào một dịp khác.
Trên đây, chúng tôi mới chỉ bước đầu khảo cứu cuốn LĐNK theo một khía cạnh, trong một chừng mực nào đó. Cuốn sách này cần được khảo cứu sâu hơn về nhiều mặt, chẳng hạn như xác định tác giả, năm soạn, năm sao chép, cũng như nội dung và tác dụng của nó. Chúng tôi tin rằng còn nhiều cuốn lịch có giá trị khác ở các thư viện khác cũng như trong các gia đình, bởi vậy cần đặt vấn đề sưu tầm, đánh giá, hiệu đính chúng để góp phần giải quyết triệt để vấn đề lịch Việt Nam. Những phương pháp và lập luận nêu ở đây chúng tôi đã dùng hiệu đính nhiều cuốn lịch khác khi khảo cứu lịch Lê - Trịnh (trong bài báo đã dẫn) cũng như lịch Nguyễn (sẽ công bố) và có thể coi là một phương pháp hữu hiệu để khảo cứu lịch nói chung.

 Lê Thành Lân
--------------------


Chú thích:

(1) Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh. Bản A.1237, kho sách Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - UBKHXH.
(2) Bách trúng kinh. Bản A.2837. Kho sách Hán Nôm, Viện Hán Nôm - UBKHXH.
(3) Lê Thành Lân: Lịch thời Lê - Trịnh, chưa công bố.
(4) Bách trúng kinh - Sách đã dẫn.
(5) Trần Viên: Trung Tây Hồi sử nhật lịch, Trung Hoa thư cục xuất bản, 1962.
(6) Nguyễn Trọng Bỉnh, Nguyễn Linh, Bùi Viết Nghị: Bảng đối chiếu âm dương lịch 2000 năm và niên biểu lịch sử, Nxb. KHXH, H. 1976.
(7) Hoàng Xuân Hãn: Lịch và lịch Việt Nam, Tập san Khoa học xã hội, số 9, tháng 2 - 1982, Paris.
(8) Lê Thành Lân: Lịch 14 năm cuối thế kỷ và lịch thời châm cứu, Lịch văn hóa tổng hợp 1987-1990, Viện văn hóa, 1987, tr.18-23.
(9), (10) Sách đã dẫn.
(11), (12) Sách đã dẫn.
(13) Sách đã dẫn.
(14), (15), (16), (17) Sách đã dẫn.
(18) Sử quán nhà Nguyễn, Đại Nam thực lục, Chính biên. Tập 2, 3, 4, Nxb. Sử học, 1962 - 1965.

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc