Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

LÝ TỬ TẤN VÀ VĂN BẢN

TUEsday - 22/04/2014 19:57
TIẾN SĨ NGUYỄN NGỌC NHUẬN Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1999 - 2004)

TIẾN SĨ NGUYỄN NGỌC NHUẬN Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1999 - 2004)

Lý Tử Tấn nhà văn, tác giả yêu nước nửa đầu thế kỷ XV, nguyên tên là Tấn, tự là Tử Tấn, về sau lấy tự làm tên, thành tên Lý Tử Tấn, hiệu Chuyết Am, người làng Triều Đông, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Tân Minh, huyện Thường Tín, Hà Nội. Ông đỗ Thái học sinh năm Canh Thìn (1400) đời Hồ Quý Ly. Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh ông đến hành tại yết kiến Lê Lợi, được nhà vua khen là người học rộng, cho giữ việc văn thư. Ông làm quan đến Hàn lâm ở Kinh diên trải các triều vua Lê Thái Tông, Nhân Tông(1)...











Các học giả xưa nay như Lê Quí Đôn, Phan Huy Chú, Trần Văn Giáp... đã giới thiệu về Lý Tử Tấn. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu thêm về tiểu sử và sáng tác của ông qua các tích cổ nơi quê hương ông và văn bản thơ văn của ông còn lại trong kho sách Hán Nôm.
Chúng tôi tới xã Tân Minh, nơi Lý Tử Tấn sinh ra và lớn lên cách đây hơn 5 thế kỷ.
Xã Tân Minh gồm 3 xóm nhỏ, xóm 1 chính là thôn Triều Đông xưa kia. Ngày nay thôn Triều Đông còn lại 3 khu vực di tích đáng lưu ý:
- Nền đình cổ thôn Triều Đông.
- Khu văn chỉ xã.
- Chùa Đại Bi nằm trên đất thôn(2).
Mỗi thôn nằm trong xã Tân Minh trước đây đều xây dựng một ngôi đình. Ngôi đình cổ thuộc thôn Triều Đông đã bị phá hủy trong những năm chiến tranh chống Pháp Mỹ, nay còn lại nền đình, bệ đá nằm ven bờ sông Nhuệ.
Đến Triều Đông, người ta được nghe kể một câu chuyện truyền tụng trong dân gian về Chuyết Am tiên sinh:
"Sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lý Tử Tấn được phong quan tước(3). Như các nho sĩ làm quan đương triều thuở trước, ai nấy đều muốn "áo gấm về làng". Vào một ngày đẹp trời, theo đường thủy, ông từ Kinh đô Thăng Long ngược sông Hồng vào sông Nhuệ về thăm chốn cũ. Thuyền cách làng chừng 5 dặm đường. Thấy một ngôi đình ven bờ sông phong cảnh nên thơ, ông dừng thuyền vào thăm, ở lại một, hai ngày. Sau dời neo bơi ngược về làng, đến ngôi đình của thôn nhà, ông cùng tùy tùng vào lễ và dâng đồ thờ. Dân làng, kỳ mục chức sắc ra đón "tiên sinh" từ hôm trước, vì lỡ hẹn nên không gặp. Bận việc quan, ông lại xuống thuyền quay trở về Kinh đô. Sau lần đó, Chiết Am không còn dịp về làng".
Có lẽ công việc nội chính, bang giao thuở ấy khá bận rộn nên Lý Tử Tấn chưa thỏa được cái chí tiêu dao sông nước, thăm chốn cố hương(4).
Trên một quả gò nhỏ, cách nền đình thôn không xa, dân làng xưa xây dựng một khu văn chỉ. Phần kiến trúc văn chỉ hình chữ nhật, rộng 5m, dài 6m, có tường thấp bao quanh, hiện còn nhà bia, hai ngai thờ hai bên, bệ thờ chính giữa. Tại nhà bia lưu được 3 tấm bia (2 tấm bia thời Nguyễn), 1 tấm bia thời Lê). Một trong hai tấm bia thời Nguyễn đề niên đại: Ngày mùng 7 tháng 9 năm thứ 2 niên hiệu Khải Định (1917)(5). Đầu đề khắc như sau: "Tư văn bi ký" (Bia ghi của hội Tư văn). Nội dung chép những thể lệ cúng tế vào tuần tiết trong năm của Hội tại văn chỉ. Hai dòng đầu người làm bia viết(6): "Chức sắc, kỳ mục, lý dịch cùng Hội trưởng tư văn ba thôn thuộc xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín đứng ra lập bạ lệ. Nguyên xã ta địa linh nhân kiệt, đời đời nối tiếp trâm anh. Trước đây có Bảng nhãn Lý Tử Tấn, Tiến sĩ Đào tiên sinh"(7).
Về địa danh tấm bia cho biết, đến niên hiệu Khải Định (1916-1925) 3 thôn đây còn được gọi là xã Triều Đông.
Theo Lịch triều đăng khoa lục thì Lý Tử Tấn đỗ Đệ nhị giáp khoa Canh Thìn Thánh Nguyên thứ nhất triều nhà Hồ (1400)(8). Việc ghi dòng "Bảng nhãn Lý Tử Tấn" như tấm bia trên, ta có thể tạm lý giải: từ ý muốn đề cao những nhân vật quê hương mình mà người làm bia đã viết như vậy.
Tấm bia thứ hai khắc đầu đề "Từ Vũ bi" dòng đầu ghi: "Tạo lập từ vũ bi ký" (Bia ghi việc xây dựng khu đền thờ ở Văn chỉ). Nội dung có đoạn viết: (9) Nay xã Triều Đông ta chốn trời Nam từ khi (...)(10) những người ứng khoa đỗ đạt, thờ chúa giúp dân không thiếu (...). Vào ngày mùng một tháng 3 năm Nhâm Thìn bắt đầu khởi công xây (văn chỉ), đến ngày 14 tháng 4 hoàn tất (...). Tiến sĩ Đào Như Hổ thời Cảnh Thống làm quan đến chức (...)(11).
Khoảng ghi niên đại dựng bia bị mờ, không đọc được. Dựa trên hoa văn trang trí hai bên diềm bia, chúng tôi cho rằng bia được dựng sau thời Cảnh Thống, vào thời Chính Hòa niên hiệu vua Lê Hy Tông năm Nhâm Thìn (1652); đây cũng là năm xây dựng khu Văn chỉ lần đầu.
Khi xem lại một số tư liệu liên quan tới tiểu sử, văn bản tác giả, chúng tôi thấy cần bàn thêm một đôi nét về Chuyết Am.
Hợp tuyển thơ văn Việt Nam(12) ghi lại rằng: Lý Tử Tấn sinh năm 1378 mất năm 1457, Từ Điển văn học(13) lại cho rằng ông mất năm 1454, không rõ dựa vào những sách nào mà các tác giả đoán định như vậy. Trong một bài tựa của Lý Tử Tấn đặt ở đầu sách Việt âm thi tập(14) in lại năm 1729 có ghi rõ ông viết vào năm Diên Ninh thứ 6 (1439). Như vậy Lý Tử Tấn có thể mất sau năm 1459, ông thọ trên 80 tuổi.
Một khía cạnh khác trong cuộc đời Lý Tử Tấn, là tình bạn giữa Nguyễn Trãi với ông. Cùng xấp xỉ nhau về tuổi tác, hai người cùng huyện Thượng Phúc, kể theo đường tắt qua cánh đồng cách nhau không quá 8 cây số đường chim bay. Hai ông lại đỗ cùng khoa thời nhà Hồ (1400).
Những năm cuối cuộc kháng chiến chống giặc Minh, Lý Tử Tấn đến hành tại ra mắt Lê Lợi, được nhà vua dùng vào việc thảo văn thư chế cảo. Ông đến với nghĩa quân Lam Sơn sau Nguyễn Trãi ít lâu và nhanh chóng trở thành một cộng sự rất ăn ý với Nguyễn Trãi. Mối thâm giao, sự đồng cảm còn được thể hiện trong những câu thơ Lý Tử Tấn đề tặng Ức Trai:
Tâm kính tương phùng khải ngẫu nhiên.
Biệt khai thành thị nhất lâm tuyền.
(Đề Ức Trai bích)

Tạm dịch:
Có tầm lòng trong sáng như gương mới gặp được chốn này, đâu phải ngẫu nhiên,
Ông mở riêng ở đây một cảnh lâm tuyền giữa nơi thành thị.
(Thơ đề lên vách nhà ông Ức Trai)

Lý Tử Tấn được vua Lê Thái Tông giao cho viết, thông luận sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, thông luận sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi. Những chỗ ghi: "Lý Thị nói" là do ông viết, đây là những chú giải cần thiết, giúp người đọc hiểu thêm giá trị nhiều mặt của một công trình khảo cứu công phu.
Cùng với các học giả nổi tiếng đương thời, Lý Tử Tấn đã hiệu chính, phê điểm, viết bài tựa cho bộ sưu tập thơ Việt âm thi tập của Phan Phu Tiên(15). Trong bài tựa ông nêu quan điểm sáng tác thơ văn của ông như sau:
"Tôi cho rằng: phép làm thơ thật khó lắm thay! Thơ luật chỉ có năm mươi sáu chữ, thơ tuyệt cú lại chỉ có hai mươi tám chữ, mà đủ mọi thể cách. Muốn thơ cổ kính, thanh đạm thì lại gần với thô; muốn đẹp đẽ, phong phú thì lại gần với loè loẹt; hào phóng thì dễ tới chỗ buông thả, thật thà thì dễ tới chỗ quê mùa. Cho nên lời ý giản dị đầy đủ, mạch lạc thông suốt, chất phác mà vẫn nhã, mới lạ mà không trúc trắc, trung hậu nhưng không thô kệch, cao siêu mà vẫn có giọng ôn hoà, đó là những điều rất khó có thể đạt được. Bởi vậy không chỉ hạn chế trong một lẽ và cũng không thể chỉ lấy được ở một thể"(16).
Lời bàn về thơ khá sâu sắc, khiến người đời nay cũng phải suy ngẫm trước quan điểm sáng tác các thể loại của Chuyết Am(17).
Lý Tử Tấn sáng tác rất nhiều thơ, văn. Số thơ còn lại được chép trong:
Việt âm thi tập 30 bài
Tinh tuyển chư gia luật thi(17) 40 bài.
Toàn Việt thi lục(18) 73 bài, kể cả bài thơ trường thiên Pháp Vân cổ tự bi ký (Bài ký ghi về ngôi chùa cổ Pháp Vân) kể chuyện về Man Nương(19).
Hoàng Việt thi tuyển(20) 8 bài.
Trong số những bài thơ chép ở các sách kể trên, không khỏi có những bài nội dung xuất nhập, nhưng chúng đều thật đáng quý. Ngày nay trong kho sách cổ Hán Nôm còn giữ được 73 bài thơ của ông(21).
Khi bình về thơ của tiên sinh, Phan Huy Chú đã đánh giá "Thơ ông chuộng bình dị, phần nhiều mang ý thơ cổ"(22).
Ngoài thơ, ông còn sáng tác nhiều bài phú có giá trị cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Nhiều bài mang tình cảm yêu nước nồng thắm, vang dội không khí chiến thắng một thời chống giặc cứu nước như: Chí Linh sơn phú, Xương giang phú, Triều tinh phú(23).
Có những bài giàu tấm lòng lo nước thương dân như: Quân chu phú, Hội anh diện phú, Đại bảo phú(24).
Cũng có bài chứa đựng ý tâm sự lánh đời, ý tưởng "thanh khiết", muốn lui về ẩn cư tránh những ràng buộc chốn triều đình như: Điếu dài phú, Tảo mai phú, Trung thu nguyệt phú(25).
Có thể những bài này được viết vào giai đoạn cuối đời ông, khi triều đình nhà Lê đã có những biểu hiện suy thóai, lục đục, tranh giành ngôi thứ.
Khi viết phú ông sử dụng các thể Sở từ, phú lưu thủy; khi làm thơ, ông dùng thể ngũ ngôn cổ phong lẫn thơ luật. Thể tài nào ông vận dụng cũng khá đạt, nhuần nhụy trong ngôn từ, khóang đạt trong hình tượng. Tuy nhiên phú là thể tài khó, các tác giả phú Hán thường muốn trổ hết tài học của mình, trong các bài thường nhiều điển cố, nên hạn chế không ít tính chất sáng tạo của tác giả.
Phú của Chuyết Am còn lại 5 bài trong Hoàng Việt văn tuyển(26), 21 bài trong Quần hiền phú tập(27) mà chúng tôi kể ra sau đây:
1. Chí Linh sơn phú (Phú núi chí Linh)
2. Du Tiên nham phú (Phú dạo chơi núi tiên)
3. Hội Anh điện phú (Phú về điện Hội Anh)
4. Xương Giang phú (Phú sông Xương Giang)
5. Triền Tinh phú (Phú sao Triền Tinh)
6. Hà thanh phú (Phú sông Hoàng Hà trong)
7. Dưỡng chuyết phú (Phú nuôi dưỡng những sự vụng về)
8. Đại bảo phú (Phú đại bảo)
9. Quân chu phú (Phú ví vua như thuyền)
10. Văn Vương hựu phú (Phú Văn Vương)
11. Tứ tải phú (Phú về bốn phương tiện vận tải)
12. Hạ Hiến thiên thánh tiết phú (Phú mừng lễ thọ hiến thiên thánh tiết)
13. Thọ vực phú (Phú về cõi thọ)
14. Dục Nghi phú (Phú tắm sông Nghi)
15. Tịch trần phú (Phú về ngọc trên chiếu)
16. Trung lưu để trụ phú (Phú về cột đá giữa dòng)
17. Quảng cư phú (Phú về chọn nơi ở của bậc quân tử)
18. Hiệt cư phú (Phú về đạo hiệt cư)
19. Điếu đài phú (Phú về đài câu)
20. Tảo mai phú (Phú về cây mai sớm)
21. Trung thu nguyệt phú (Phú trăng đêm trung thu)(28).
Ngoài những bài phú của ông đã được công bố trên sách báo xưa nay, để kết thúc bài viết chúng tôi thích giới thiệu bài Quân chu phú của Chuyết Am để bạn đọc tham khảo.
Phiên âm:
Quân chu phú
Cổ nhân thiện dụ,
Di quyết yến mưu.
Vị quân dân chi tương bảo, Do chu thủy chi tượng tu.
Tất giới cụ dĩ cộng tế, Vô tư mịch dĩ oán thù.
Tý dân tâm chi ái đới, Vô khuynh phú chi thâm ưu.
Thử quân chu chi thứ thí, Sở dĩ vi dụ hậu chi lương đồ dã.
Thị chi dã.
Tài mỹ nhi thể bị, Dụng thực nhi tâm hư.
Hợp dĩ Càn kiện chi đức, Phối dĩ Khôn tái chi tư.
Phí kha hạm dư hoàng chi khoa mỹ.
Khởi hoàng long thanh tước chi xưng kỳ.
Duy nhân nghĩa kỳ nguy đà
Diệc lễ nhượng kỳ ly duy
Lồ chi dĩ Văn Võ thánh thần chi quảng vận
Đinh chi dĩ bình khang chính trực chi thời nghi.
Tế xuyên chi tài; Hoặc tả hoặc hữu
Bật vi chi trực, như dực nhữ vi...
Hà Kiệt Trụ chi bạo đức, Đồ túng dục dĩ hại dân.
Trác chiêu thiệp chi cảnh, Sát vô cô chi nhân
Thất vi quân chi chính đạo, Tùng oán lị vu nhất thân
Chỉ thần nhật chi hạt táng, Cánh Quỳnh đài chi kiến phần
Thi tri: dân tâm chi nham hiểm, hữu thậm ư thủy;
Nhi quân đức chi thịnh tắc tất sử chi thường hoài vu hữu nhân dã...

Dịch nghĩa:
Bài phú ví vua với thuyền(29)
Người xưa quả thật là khéo ví,
Để lại mưu hay cho đời sau.
Rằng vua tôi như thuyền với nước,
Phải giữ gìn bảo vệ lẫn nhau.
Cẩn thận giúp nhau tới bờ tới bến,
Chớ ghìm nhau để chuốc oán cừu
Phải khiến cho lòng dân yêu kính,
Thì không lo nghiêng đổ sập nhào.
"Vua như thuyền" trong câu ví đó,
Cốt để mưu hay giúp cháu con đời sau vậy!
Thuyền này: Chất liệu tốt đẹp, hình thể vẹn toàn.
Trong lòng khiêm hư, tác dụng đầy đủ.
Hợp với đức mạnh mẽ của trời,
Sánh cùng nết chở che của đất.
Chẳng khoe mẽ đẹp như thuyền to tầu lớn
Há phô vẻ kỳ tựa thanh tước, hoàng long(29)
Nhân nghĩa là bánh lái cột buồm,
Lễ nhượng là giây leo, rợ buộc.
Chèo bằng tài thánh thần văn võ.
Neo bằng đức chính trực bình khang.
Kẻ tả kẻ hữu, giúp đỡ vượt sông.
Người phù người trì, sửa cong uốn thẳng...
Kiệt Trụ sao mà bạo ngược vậy?(30)
Buông tuồng lòng dục mà hại dân,
Tàn sát biết bao người vô tội,
Ai lội sông sớm đều chặt chân,
Trái đạo đúng đắn của quân vương.
Chuốc lấy oán thù trông một thân,
Dân chỉ mặt trời mà nguyền rủa,
Nên bị thiêu cháy cùng đài Quỳnh.
Thế mới biết lòng dân nguy còn hơn cả nước.
Nhưng nếu nhà vua đức tốt thì ắt sẽ khiến dân luôn nhớ tới bậc có nhân(31).

NGỌC NHUẬN

_________________________


TS. NGUYỄN NGỌC NHUẬN
Tên gọi khác: Hải An, Ngọc Nhuận
Sinh ngày: 23 - 07 - 1943
Quê quán: Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Nhà ở hiện nay: số 2, Khâm Thiên, Hà Nội.
Tốt nghiệp Đại học Hán học năm 1968
Chuyên ngành: Hán Nôm
Bảo vệ luận án PTS Khoa học Ngữ văn năm 1997
Công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm từ năm 1970 đến nay.
Chức vụ cao nhất ở Viện: Phó Viện trưởng
Ngạch công chức hiện nay: Nghiên cứu viên chính
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
Sách
1. Thơ văn Phan Huy Ích "Dụ Am ngâm lục" (đồng tác giả). Nxb, KHXH, H, 1978
2. Thơ văn Nguyễn Trãi (đồng dịch giả). Nxb Văn học, H, 1980
3. Thơ đi sứ (đồng dịch giả). Nxb, KHXH, H, 1983
4. Quốc triều hình luật (đồng dịch giả). Nxb Pháp lý, 1991
5. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 9A (đồng tác giả). Nxb, KHXH, H, 1993
6. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 9B (đồng tác giả). Nxb, KHXH, H, 1993
7. Văn bia xứ Lạng, (đồng dịch giả). Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Lạng Sơn, 1993
8. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 10B (đồng dịch giả). Nxb, KHXH, H, 1997
9. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập I: từ Bắc thuộc đến đời Lý (đồng soạn giả). ÉcoleFrancaised' Extrême Orient. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Paris Hà Nội, 1998
...
Tạp chí
1. Góp thêm vài nhận xét về thơ chữ Hán của Phan Huy Ích trong Phan Huy Ích và dòng họ Phan Huy. Sở Văn hóa Thông tin Hà Sơn Bình, 1983
2. Một vài ý kiến về việc xử lí các văn bản Hán Nôm. In trong một số vấn đề Văn bản học Hán Nôm. Nxb, KHXH, H, 1983
3. Nhị Khê làng quê Nguyễn Trãi (viết chung) trong Hà Sơn Bình di tích và danh thắng, 1985
4. Những tấm bia và đôi điều về họ Nguyễn, họ Dương trên đất Nhị Khê (đồng tác giả). Nghiên cứu Hán Nôm, 1986
5. Xung quanh một tài liệu liên quan tới Lý Tử Tấn và văn bản. Tạp chí Hán Nôm, số 1 - 1987
6. Đà Nẵng những ngày đầu chống xâm lược Pháp qua thơ văn đương thời. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5& 6 - 1987
7. Nghiêm Bá Đĩnh và bài "Kim thanh ngọc chấn phú". Thông báo Hán Nôm học, Nxb, KHXH, H, 1997
8. Nguyễn Hành và tập Quan Đông hải. Thông báo Hán Nôm học, Nxb, KHXH, H, 1997
9. Lạng trình kỉ thực và một số vấn đề văn bản (đồng tác giả). Thông báo Hán Nôm học, Nxb, KHXH, H, 1998
10. Ba bài kí trong một tác phẩm của Nguyễn Hành. Thông báo Hán Nôm học, Nxb, KHXH, H, 1999.
...
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc