Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

MỘT BÀI KÝ CỦA LƯƠNG THẾ VINH MỚI PHÁT HIỆN

FRIday - 27/09/2013 05:10
MỘT BÀI KÝ CỦA LƯƠNG THẾ VINH MỚI PHÁT HIỆN

MỘT BÀI KÝ CỦA LƯƠNG THẾ VINH MỚI PHÁT HIỆN

Gần đây trong một chuyến đi khảo sát ở Thái Bình, chúng tôi phát hiện thêm một bài ký của ông, khắc trên tấm bia đá.
MT BÀI KÝ CA LƯƠNG TH VINH MI PHÁT HIN



Lương Thế Vinh sinh năm 1441, tên tự là Cảnh Nghị, hiệu là Thụy Hiên, người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam Ninh). Ông nổi tiếng thần đồng, 22 tuổi đỗ Trạng nguyên, làm quan đến Hàn lâm trực học sĩ thị thư, Chưởng viện sự… Chuyên soạn thảo giấy tờ bang giao với Trung Quốc. Ông là một tài năng kiệt xuất, một ngôi sao của văn đàn thế kỷ 15.
Tác phẩm của ông có Đại thành toán pháp, Thích điển giáo khoa Phật kinh thập giới, Đề tựa sách Nam Tông tự pháp đồ, và nhiều thơ xướng họa với Tao đàn Nguyên soái Lê Thánh Tông … Gần đây trong một chuyến đi khảo sát ở Thái Bình, chúng tôi phát hiện thêm một bài ký của ông, khắc trên tấm bia đá. Tấm bia này mất phần chóp bia. Toàn thân bia còn nguyên, được sử dụng làm bức tường chân hiên đền ở thôn An Phúc, xã Song An, huyện Vũ Thu. Bia một mặt, chữ xấu và đã bị mòn mờ, khắc bài văn viết vào năm Hồng Đức thứ 14 (1484), cách nay hơn 500 năm. Xin giới thiệu để bạn đọc cùng tham khảo.
Phiên âm:
GIA THỰC CÔNG CHÚA CHI MỘ KÝ
Gia Thục Công chúa, húy Thanh Toại, đế chi trưởng nữ; nhân mẫu Phạm Thị Trường Xuân cung Tu nghi. Chúa dĩ Quang Thuận kỷ nguyên chi tam, tuế tại Nhâm Ngọ, nhị nguyệt, Canh Ngọ nhật sinh. Dụ nguyệt nhi thất thị.
Đông Triều Hoàng Thái hậu thân cúc chi ngũ niên. Giáp Thân, thập nhị nguyệt, Kỷ Hợi thụ phong. Hồng Đức ngũ niên, Giáp Ngọ thập nhị nguyệt hạ giá Thái bảo Kiến Dương hầu Lê Cảnh Huy tử Tung. Minh niên, bát nguyệt, Kỷ Hợi trí kỳ phủ. Sinh nữ nhất, nam nhất, câu tảo thệ.
Thập thứ niên Qúy Mão, lục nguyệt, Tân Mùi bệnh hoăng. Thập nguyệt, Mậu Tý táng vu Thư-Trì, An Lão chi Ô Cách nguyên, Hoàng Thái hậu ngoại tổ hương dã.
Chúa túc căn chí tình nhu thuận từ nhân, tuy xuất đế cơ nhi khác tuần phụ đạo, vô hào phát sảng. Sở sự sở sử giai đắc hoan tâm, kiến nhân khốn cùng bất lận thí dữ. Hoăng chi nhật, kỳ nội phụ nữ thán tích y hi, chí hữu động khốc.
Hưởng niên tài nhị thập nhị. Đức khả xứng giả. Ký thử minh viết:
Thất bảo huy huy,
Lục thù phiên phiên.
Hốt lai thúc thệ,
Thục cứu huyền thiên.
Hồng Đức thập tứ niên, thập nguyệt, thập nhất nhật.
Hiển cung Đại phu Hàn lâm viện thị thư kiêm Sùng văn quán Tú lâm cục Tư huấn, thần Lương Thế Vinh đẳng phụng.
Dịch nghĩa:
Bài ký trên bia mộ Công chúa Gia Thục.
Công chúa Gia Thục húy Thanh Toại, là con gái đầu của vua; mẹ là Phạm thị, bặc Tu nghi(1) ở Trường Xuân.
Công chúa sinh ngày Canh Ngọ, tháng 2, năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Quang Thuận thứ 3 (1462). Qua tháng thì mẹ mất.
Được Đông Triều Hoàng Thái hậu tự tay nuôi nấng năm năm. Đến ngày Kỷ Hợi, tháng 12, năm Giáp Thân (1464) được vua phong. Tháng 12, năm Giáp Ngọ (1474), niên hiệu Hồng Đức thứ 5, gả cho Tùng là con của quan Thái bảo Kiến Dương hầu Lê Cảnh Huy. Đến ngày Kỷ Hợi, tháng 8 năm sau (1475) dựng phủ ở riêng.
Công chúa sinh một gái, một trai, đều mất sớm.
Ngày Tân Mùi, tháng 6, năm Qúy Mão (1483), niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (Công chúa) bị ốm và mất.
Ngày Mậu Tý, tháng 7, chôn cất ở cánh đồng Ô Cách, xã An Lão, huyện Thư Trì, là quê ngoại của Hoàng Thái hậu.
Công chúa vốn tính mềm mỏng, hiền hậu, tuy là con gái nhà vua mà vẫn kính giữ đạo người phụ nữ không dám buông lơi. Thờ phụng bề trên, sai bảo kẻ dưới khiến ai nấy thảy đều vui vẻ trong lòng, thấy người khốn khó nghèo túng chẳng tiếc tay bố thí.
Ngày công chúa mất, đàn bà con gái trong nước đều than thở tiếc thương, thậm chí có người khóc lóc thảm thiết.
(Công chúa) hưởng thọ mới được 22 tuổi, đức hạnh thực đáng ca ngợi. Nên có có bài minh rằng:
Mầu thất bảo(2) ngời ngời,
Áo lục thù (3) phơi phới.
Chợt đến rồi chợt đi,
Lẽ trời ai hiểu nổi?
Ngày 11 tháng 10 niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (1484).
Hiển cung Đại phu Hàn lâm viện Thị thư kiêm Sùng Văn quán Tú lâm cục Tư huấn.
Kẻ bầy tôi Lương Thế Vinh vâng mệnh soạn văn bia.
CHÚ THÍCH
(1) Tu nghi: một trong 9 bậc cung tần.
(2) Dịch thoát chữ thất bảo (bảy vật qúy) gồm san hô, hổ phách, xà cừ, mã não, kim ngân, trân châu và lưu ly.
(3) Áo lục thù là áo của người trên cõi trời Đâu Suất.

(Theo tạp chí Hán - Nôm)

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc