Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NIÊN ĐẠI BIA VIỆT NAM

SATurday - 06/12/2014 10:46
Tư liệu bi ký có ưu điểm là hầu hết đều mang niên đại. Tuy nhiên có nhiều sách ghi niên đại khác nhau, và đôi khi không rõ ràng... Điều đó đã hạn chế giá trị tư liệu trên bia, thậm chí gây nhầm lẫn phức tạp khi sử dụng tư liệu bi ký. Bài viết này cố gắng nêu lên những hiện tượng đó và bước đầu đưa ra một số kiến giải.
Bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội

Bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội

I. CÁCH GHI NIÊN ĐẠI
A. Vị trí dòng niên đại trên bia.
Dòng niên đại thường được ghi ở cuối minh văn. Có thể ở dòng cuối cùng mặt bia trước hoặc mặt bia sau. Có thể ở ngay cột đầu mặt bia trước như hầu hết bia Tiến sĩ ở Văn Miếu (Hà Nội) và một số bia gửi giỗ thời Nguyễn. Đôi khi dòng niên đại được khắc ở chính giữa mặt trước bia.
Dòng niên đại thường được ghi liền một mạch trên một mặt bia. Có khi được tách ra ghi trên hai mặt bia. Ví dụ dòng niên đại là “Hoàng triều Vĩnh Thịnh vạn vạn niên chi thất, tuế tại Tân Mão niên chính nguyệt, sơ thập nhật” được ghi ở mặt bia trước là “Hoàng triều Vĩnh Thịnh vạn vạn niên chi thất” còn lại ghi ở mặt bia sau. Vì thế những bia dựng sát tường chỉ đọc được một mặt hoặc những bản rập bia chỉ có một phần của dòng niên đại là không hoàn chỉnh(1).
B. Các cách ghi
Một dòng niên đại đầy đủ gồm năm, tháng, ngày, thậm chí cả giờ. Vì khuôn khổ bài viết và số tư liệu có được(2), ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến năm.
1. Ghi bằng năm can chi:
Năm can chi là năm tính theo chu kỳ của hàng can và hàng chi. Mỗi chu kỳ được gọi là một Giáp gồm 60 năm. Có thể ghi và tính thời gian theo can chi trong từng Giáp như năm Canh Tý, năm Tân Sửu hoặc năm Dần, năm Mão... Tuy nhiên việc ghi niên đại bia theo năm can chi dễ gây ra nhầm lẫn bởi trước sau 60 năm, năm can chi đó lại xuất hiện. Có cách ghi hoàn chỉnh, tránh được nhầm lẫn là ghi cả năm can chi, tháng can chi và ngày can chi. Tức là cách ghi theo Lịch hệ đếm can chi(3). Ví dụ dòng niên đại trên một văn bản ở đình Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì (Hà Nội) ghi: “Tuế tại Bính Dần thập nhị nguyệt, kiến Tân Sửu, sóc Mậu Tuất, việt nhị thập tam nhật Canh Thân...” nghĩa là “ngày 23 (là ngày Canh Thân) tháng 12 (là tháng Tân Sửu có ngày một là ngày Mậu Tuất) năm Bính Dần”. Một niên đại khác trên chuông Thanh Mai huyện Thanh Oai (Hà Sơn Bình) ghi như sau: “Duy Trinh Nguyên thập tứ niên, tuế thứ Mậu Dần tam nguyệt, Tân Tỵ sóc, trấp nhật, Canh Tuất” nghĩa là “ngày 20 tháng 3 (có ngày một là Tân Tỵ và ngày cuối tháng là Canh Tuất) năm Mậu Dần, niên hiệu Trinh Nguyên 14 (798)”...
Trong hai ví dụ trên, năm Bính Dần và năm Mậu Dần thì trùng lặp nhiều trong lịch sử. Song năm Bính Dần có tháng 12 là tháng Tân Sửu, ngày một là ngày Mậu Tuất; cũng như năm Mậu Dần có tháng 3 đủ với ngày đầu tháng là Tân Tỵ, thì không thể trùng lặp và nhầm lẫn được.
- Cùng trong cách ghi can chi này là sách ghi theo năm Giáp Tý. Một chu kỳ của Giáp Tý cũng là 60 năm. Nhưng có Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên Giáp Tý, nên từ Thượng nguyên Giáp Tý này đến Thượng nguyên Giáp Tý kia là 180 năm. Cách ghi và tính thời gian theo năm Giáp Tý không phải là phổ biến. Tuy vậy đôi khi vẫn gặp như niên đại ghi trên Đài nghiên ở đền Ngọc Sơn (Hà Nội) là “Thượng nguyên Giáp Tý”.
- Cũng là cách ghi năm can chi, nhưng lại thay bằng một thuật ngữ duy danh. Đây cũng không phải là cách dùng phổ biến. Song nó rải rác xuất hiện trong một số dòng niên đại bia. Ví như bia chùa Phú Đô huyện Từ Liêm (Hà Nội) ghi “Hoàng thượng vạn vạn niên, tuế tại Duy Hiến, nguyệt kiến Dương Ngạc, tiết chính Thọ Tinh”, hoặc trên chuông chùa Cảnh Lịch xã Trừ Châu huyện Thanh Oai (Hà Sơn Bình) ghi “Hoàng triều Bảo Hưng nhị niên, tuế tại Yêm Mậu, nguyệt tại Trọng Lã, sơ thập nhật”. Trong hai ví dụ trên, thì Duy Hiến và Yêm Mậu là thuật ngữ duy danh năm can chi. Còn Dương Ngạc và Trọng Lã là duy danh tháng.
2. Ghi theo niên hiệu vua:
Cách ghi và tính thời gian theo niên hiệu vua giản đơn, dễ phổ cập và ít nhầm lẫn bởi một vị Hoàng đế lên ngôi đặt niên hiệu hoặc thay đổi niên hiệu là sự kiện hệ trọng, ai cũng phải biết, được sử sách ghi chép cụ thể. Trong trường hợp này thường ghi rõ tên niên hiệu vua và số năm thuộc niên hiệu vua đó, như “Hoàng triều Vĩnh Thịnh thập tứ niên...”(4).
Niên hiệu vua được ghi là niên hiệu vua đương thời. Tức là ở triều đại nào thì ghi theo niên hiệu vua triều đại đó. Tuy nhiên cũng có trường hợp ghi, tính thời gian theo niên hiệu vua trước, như một số bia thời Tây Sơn dựng năm Cảnh Thịnh 5 (1797) và Cảnh Thịnh 6 (1798)(5), lại ghi là năm Cảnh Hưng 58 và Cảnh Hưng 59, trong khi niên hiệu Cảnh Hưng chỉ có 47 năm. Hoặc một số bia thời Nguyễn mang niên hiệu Tây Sơn.
Niên hiệu được ghi đó còn là niên hiệu của triều đại chính thống, không phải là niên hiệu của triều đại mà người đương thời cho là thoán đoạt, tiếm ngôi. Trong thời Lê - Mạc, vùng nào chịu sự trị vì của triều nào thì dùng niên hiệu triều đại đó như vùng Thanh Hóa, Nghệ An dùng niên hiệu vua Lê, khu vực từ Ninh Bình trở ra dùng niên hiệu nhà Mạc. Tuy nhiên có một số bia dựng ở vùng nhà Mạc trị vì lại mang niên hiệu vua Lê như bia ở Hải Dương, Hà Đông mang niên hiệu Quang Hưng(6). Đó là tâm lý và tư tưởng muốn tôn sùng nhà Lê, không chấp nhận vương triều Mạc.
Bên cạnh đó là một số bia do người Hoa sống trên đất Việt dựng đã ghi theo niên hiệu vua Trung Quốc như một số bia ở phố Hàng Buồm (Hà Nội) ghi niên hiệu Quang Tự nhà Thanh(7).
Trường hợp ghi niên đại theo niên hiệu vua như trên ít nhầm lẫn. Tuy nhiên đôi khi cũng bị lẫn lộn giữa niên hiệu của triều đại này với triều đại khác, giữa niên hiệu vua Việt Nam với vua Trung Quốc. Có cách ghi chuẩn xác nhất là gắn niên hiệu vua với năm can chi.
Một cách ghi đúng và tính niên đại đúng là năm can chi đó phải là năm niên hiệu vua đó. Ví như dòng niên đại là “Vĩnh Thịnh tứ niên, tuế tại Mậu Tý...” thì năm Mậu Tý phải là năm Vĩnh Thịnh 4 (1708). Hoặc năm can chi đó phải nằm trong niên hiệu vua đó như dòng niên đại là “Chính Hòa vạn vạn niên, tuế thứ Giáp Tý niên”. Ở đây năm Giáp Tý (1684) phải nằm trong thời gian tồn tại niên hiệu Chính Hòa (1680-1705).
3. Ghi theo thuật nhữ tượng trưng cho triều đại:
Đây là cách ghi đặc thù trong văn bản bi ký nước ta. Hiện tượng này không nhiều về mặt thuật ngữ sử dụng.Chúng tôi mới gặp hai trường hợp là Thiên vận và Long phi. Tuy nhiên sự xuất hiện của chúng lại khá phổ biến.
“Thiên vận” gặp nhiều trên các dòng niên đại của bia, chuông, khánh. “Long phi” không chỉ gặp trên niên đại bia, chuông mà còn gặp khá nhiều trên niên đại câu đối, hoành phi gỗ... Xin đơn cử vài ví dụ:
- Hai bia chùa Càn An (quận Đống Đa, Hà Nội) ghi “Thiên vận tuế thứ Đinh Sửu niên, trọng đông tiết, đán nhật” (ảnh 1).
- Bia chùa Phương Viên (quận Hai Bà, Hà Nội) ghi “Long phi Ất Sửu mạnh đông, cốc đán”.
Trường hợp ghi niên đại này tương đương với cách ghi năm can chi với niên hiệu vua. Có điều niên hiệu vua ở đây được thay bằng thuật ngữ tượng trưng khác.
Ngoài cách ghi niên đại như trên đã nêu ra, còn có cách ghi niên đại bằng chữ số A rập theo ngày Jêsu giáng thế và ngày Phật đản. Ví như bia mộ của viên truyền giáo Tây Ban Nha dựng ở xã Sơn Phố, thị trấn Hội An (Quảng Nam) ghi năm 1726(8). Hoặc ở một số bia gửi giỗ vào năm 1954 và năm 1975 như ở chùa Bà Đá (Hà Nội) và một số chùa khác(9).
II. TÍNH ĐÍCH THỰC CỦA NIÊN ĐẠI BIA
Như đã trình bày trên, mỗi tấm bia hầu hết đều được ghi niên đại. Nhìn chung dòng niên đại đó vừa là niên đại của văn bia và vừa là niên đại của bia. Tức là việc soạn văn bia, dựng bia, khắc bia được làm đồng thời. Tuy nhiên cũng có trường hợp bia khắc lại hoặc khắc thêm về sau thì niên đại của bia và văn bản bia chỉ là tương đối, thậm chí khác xa nhau, như một số bia thời Lý - Trần được khắc lại vào thời Lê, thời Nguyễn. Có bia cũ còn bị đánh nhẵn đi để khắc lên một văn bản mới hoàn toàn như bia thời Trần ở thôn Trường Tân, xã Quảng Hùng, huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) được khắc một văn bản mới làm vào thời Nguyễn, niên hiệu Thiệu Trị(10). Một số bia mộ, bia gửi giỗ khác thì lại được dựng, khắc sẵn khi người đó đang sống, chỉ bỏ trống ra một số chỗ cần thiết để bổ sung vào sau(11).
Một trường hợp nữa là dựng bia ghi lại văn bản cũ như bia khắc lại lệnh chỉ, sắc phong, hoặc văn tự mua bán cửa đình, ruộng đất, kiện tụng... Ở đây niên đại bia muộn hơn so với niên đại ghi trên bia. Đó là niên đại của văn bản cũ. Ngoài ra còn có trường hợp dựng bia ghi lại một sự tích cũ, một truyền thuyết. Niên đại ghi trên bia đó cũng là niên đại “truyền thuyết”. Ấy là chưa kể đến việc cố ý cổ hóa văn bản học hoặc gán ghép cho một niên đại cổ của người dựng bia và người dập bia.
Bên cạnh đó là những trường hợp ghi niên đại không bình thường, thiếu rõ ràng, đã gây nên phức tạp trong việc đoán định niên đại bia. Ví như niên đại Ất Hợi quý đông của một bài thơ Nôm nổi tiếng khắc trên biến gỗ ở Văn Miếu (Hà Nội), dẫn tới nhiều ý kiến khác nhau. Cụ Tảo Trang cho năm Ất Hợi đó là năm 1755 và tác giả là Trịnh Doanh(12). Cụ Lê Hiệu nghi ngờ về tác giả bài thơ là Trịnh Doanh này. Chúng tôi xác định năm Ất Hợi là năm 1695 và tác giả là Trịnh Căn(13). Một tấm bia khác ở chùa xã Phú Lương, huyện Thanh Oai (Hà Sơn Bình) bị mờ hai phần trên bia. Phía dưới chỉ đọc được phần niên đại là năm can chi và biết được bố cục bài văn bia là: bài ký - bài minh - họ tên người. Một số người ở địa phương nói rằng: theo truyền khẩu, bia này cổ lắm, thờ hơn một trăm tướng lĩnh của Hai Bà Trưng vong trận! Chúng tôi đã xác định là bia thời Mạc và họ tên người đó là họ tên người công đức(14).
III. PHƯƠNG THỨC ĐOÁN ĐỊNH
Có nhiều phương thức đoán định niên đại bia. Trong đó mỗi trường hợp cụ thể có phương thức đoán định cụ thể. Để phù hợp với từng phương thức đoán định, chúng tôi chia niên đại trên bia làm 3 cụm:
- Cụm 1: niên đại được ghi thông thường gồm cách ghi theo niên hiệu vua và kết hợp giữa niên hiệu vua với năm can chi.
- Cụm 2: niên đại được ghi khác biệt gồm cách ghi duy danh can chi, ghi theo lịch Giáp Tý, và thuật ngữ tượng trưng triều đại.
- Cụm 3: niên đại không rõ ràng, gồm: niên đại chỉ có năm can chi, niên đại bị đục, bị mờ, có nghi vấn và hoàn toàn không ghi.
Ở cụm 1: Có thể tra cứu ở nhiều sách công cụ, trong đó tiêu biểu làNiên biểu Việt Nam(15). Cách tra cứu này khá thông thường và phổ biến hiện nay.
Ở cụm 2: Có trường hợp có thể tra cứu được, song cũng có trường hợp rất khó tra cứu.
1. Trường hợp duy danh can chi:
Ở đây chúng tôi không đi sâu lý giải nguồn gốc xuất hiện thuật ngữ duy danh này mà chỉ đề cập đến cách sử dụng của nó. Mỗi hàng can và hàng chi có một thuật ngữ duy danh riêng. Cụ thể như Giáp duy danh là át bàng, Ất là chiên mông, Bính là Nhu triệu, Đinh là Cường ngữ, Mậu là Trước ung, Kỷ là Đồ duy, Canh là Thượng chương, Tân làTrùng quang, Nhâm là Huyền Mặc, Quý là Chiêu dương. Tý duy danh là Khốn đốn, Sửu là Xích phấn nhược, Dần là Nhiếp đề cách, Mão làThiền át, Thìn là chấp đồ, Tỵ là Đại hoang lạc, Ngọ là Đôn tường, Mùi là Hiệp hạp, Thân là quân thiên, Dậu là Tác Ngạc, Tuất là yêm mâu, Hợi là Đại uyên hiến(16) .
Qua bảng trên đây có thể lý giải được mọi trường hợp ghi duy danh can chi. Như năm Duy hiến trên niên đại bia chùa Phú Đô (Từ Liêm, Hà Nội) là năm Kỷ Hợi. Năm Yêm Mậu Bảo Hưng 2 trên chuông chùa Cảnh Lịch (Thanh Oai, Hà Sơn Bình) là năm Nhâm Tuất niên hiệu Bảo Hưng 2 (1802). Hoặc trên bia chùa vàng (Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội) ở dòng đầu ghi “Minh Mệnh vạn vạn niên...”, dòng cuối ghi “tuế thứ Cường thát, Đại uyên hiến” tức là năm Đinh Hợi, Minh Mệnh 8 (1827)...
2. Ghi theo năm Giáp Tý:
Như trên đã nêu từ Thượng nguyên Giáp Tý này đến Thượng nguyên Giáp Tý kia là 180 năm. Chỉ cần biết một mốc của Giáp Tý là có thể tính được các năm Giáp Tý khác. Ví như ở triều Nguyễn, năm Gia Long thứ 3 (1804) là Hạ Nguyên Giáp Tý(17). Do đó năm Thượng Nguyên Giáp Tý ghi trên nghiên đá Ngọc Sơn (Hà Nội) do Nguyễn Văn Siêu làm là năm 1864(18).
3. Thuật ngữ tượng trưng triều đại:
Đây là cách ghi và tính thời gian riêng biệt của người Việt. Rất tiếc là chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào ghi chép về việc này. Do vậy buộc phải truy tìm nguồn gốc, sự xuất hiện và thời gian tồn tại của chúng.
a. Thiên vận:
Qua khảo sát trang trí hoa văn và đặc trưng văn bản trên những bia có ghi niên đại bằng chữ Thiên vận; xác nhận những bia đó thuộc thời Lê ở thế kỷ XVII và XVIII. Cụ thể như bia “Càn an bi ký” ở chùa Càn An (Hà Nội) có phong cách bia thế kỷ XVII: điềm bia khắc nổi, nét đậm, hoa văn trang trí theo từng mảng chủ đề đậm nét dân gian (xem ảnh sau). Trong văn bản có hai chữ húy thời Lê là Lợi và Thành. Bia chùa Văn Uyên xã Duyên Hà (Thanh Trì, Hà Nội) hoàn toàn có phong cách như bia chùa Càn An; có chữ húy thời Lê là Trần. Bia hai mặt: mặt trước ghi “Chính Hòa nhị thập nhị niên thất nguyệt cốc đán”. Mặt sau ghi “Thiên Vận Tân Tỵ niên lập bi ký”. Tra cứu trong Niên biểu Việt Nam thì năm Chính Hòa 22 là năm Tân Tỵ (1701). Do đó năm Thiên Vận Tân Tỵ cũng chính là năm Chính Hòa 22. Trên Thượng lương đình Khê Tang, xã La Khê, huyện Thanh Oai (Hà Sơn Bình) ghi “Hoàng triều Vĩnh Thịnh thập nhị niên, Thiên vận Bính Thân nhị nguyệt, hảo nhật”. Tra ra thì năm Vĩnh Thịnh 12 là năm Bính Thân (1716) và do vậy năm Thiên Vận Bính Thân cũng chính là năm Vĩnh Thịnh 12.
Rõ ràng “Thiên vận” được dùng vào thời Lê. Tuy nhiên nó tượng trưng cho niên hiệu Chính Hòa hay niên hiệu Vĩnh Thịnh, hoặc của một niên hiệu nào khác?
Truy tìm nghĩa gốc của Thiên Vận, biết được Thiên Vận chỉ sự vận hành của trời. Sau đó được dùng với nghĩa: mệnh trời. Và triều đại nào hưng thịnh, coi như đã nhờ được mệnh trời(19).
Xét thấy trong thời Lê Trịnh ở vào thế kỷ XVII, XVIII, nhất là trong thời chúa Trịnh Căn, Trịnh Cương(20) thì thế lực hầu như thuộc về nhà Chúa. Có thể nói là một thời kỳ huy hoàng nhất của chúa Trịnh - một thời kỳ được coi là hưng thịnh trong thời Lê Trịnh. Chẳng thế Trịnh Căn, Trịnh Cương và các quần thần từng sáng tác nhiều thơ văn ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị(21). Tư liệu bi ký trong giai đoạn này cũng đã phản ánh rõ điều đó. Trong đó tiêu biểu là dòng niên đại trên bia mộ của một vị họ Đinh ở khu mộ Mường Đổng Thếch, huyện Kim Bôi (Hà Sơn Bình) ghi như sau: “Lê quân Trịnh chúa Cảnh Trị trị đại tam niên...” nghĩa là “năm thứ 3 niên hiệu Cảnh Trị (1680) triều đại hưng trị thời vua Lê chúa Trịnh...”.
Như vậy thời kỳ hưng thịnh của giai đoạn Lê Trịnh là thời chúa Trịnh Căn, Trịnh Cương và trước đó một ít năm, cùng thời với vua Lê Hy Tông và Lê Dụ Tông(22). Thiên vận là tên gọi tượng trưng của giai đoạn này: nửa sau thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII.
Từ cơ sở trên có thể lý giải được những niên đại bia ghi theo chữ Thiên vận:
- Bia chùa Càn An (Hà Nội) ghi năm Thiên Vận Đinh Sửu là năm 1697.
- Bia chùa Phú Khánh huyện Sơn Vi (Vĩnh Phú) ghi năm Thiên Vận Ký Sửu là năm 1709.
- Khánh chùa Láng (Hà Nội) ghi năm Thiên Vận Mậu Ngọ là năm 1678...
b. Long phi:
Long phi vốn là chữ trong Kinh Dịch chỉ bậc thánh nhân ở ngôi báu. Người đời sau dùng để chỉ bậc đế vương ở ngôi vị cao quý(23). Qua khảo sát phong cách bia, chuông và câu đối, hoành phi gỗ ghi niên đại bằng chữ Long phi, xác nhận chúng thuộc vào thời Nguyễn. Cụ thể như bia chùa Phương Viên (Hà Nội) trang trí hình rồng đuôi xoắn, đặc trưng phong cách Nguyễn, có địa danh Hà Nội tỉnh, đơn vị hành chính sau đời Minh Mệnh; có chữ húy thời từ triều Tự Đức. Trên chuông Đông Dư (Gia Lâm, Hà Nội) vừa ghi “Hoàng triều Bảo Đại” vừa ghi “Long phi Giáp Thân”. Tra cứu ra thì năm Giáp Thân (1914) thuộc vào triều Bảo Đại. Trên bức hoành phi ở đình Đại Lan huyện Thanh Trì (Hà Nội) ghi “Long phi Tân Dậu” do Cửu phẩm lý trưởng họ Nguyễn cung tiến. Một câu đối gỗ ở bên cạnh cũng do ông cung tiến lại ghi năm Khải Định 6 (1921).
Do vậy “Long phi” được dùng cả ở thời Khải Định và Bảo Đại. Chúng tôi chưa đủ cứ liệu để xác định Long phi được dùng ghi niên đại từ niên hiệu nào. Song cũng như Thiên vận, Long phi tượng trưng cho một giai đoạn - chắc chắn nó tồn tại ở giai đoạn cuốiNguyễn mà sớm nhất không thể vượt quá niên hiệu Tự Đức được.
Từ cơ sở trên có thể lý giải được những niên đại ghi theo chữ Long phi:
- Năm Long phi Ất Sửu trên bia chùa Phương Viên (Hà Nội) là năm 1925.
- Năm Long phi Canh Thân trên câu đối đình Tranh Khúc (Thanh Trì, Hà Nội) là năm 1920, và năm Long phi Canh Ngọ cũng trên câu đối chùa này là năm 1930.
- Năm Long phi Ất Sửu trên câu đối đỉmh Khê Tang, Thanh Oai (Hà Sơn Bình) là năm 1925...
Ở cụm 3: Để có một phương thức đoán định chung nhất ở cụm này, chúng tôi dựa vào phong cách bia. Trong phong cách bia, chúng tôi khái quát những nét đặc thù nhất để khu biệt chúng trong từng giai đoạn. Trong đó cái mốc lớn cần khu biệt là bia Lê và bia Nguyễn. Trong bia Lê, cần khu biệt bia Lê sơ, Lê Mạc và Lê Trịnh. Trong bia Nguyễn cần khu biệt bia Nguyễn ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối.
- Bia Lê sơ: to, bề thế, trán bia rộng, trang trí chủ yếu hình rồng. Rồng là biểu tượng quyền uy của thế lực nho giáo, được thể hiện rất trang trọng. Bên cạnh rồng là hình sóng nước, có loại sóng lùng và sóng xô ít gặp ở các giai đoạn sau. Chữ khắc sâu to một số chữ húy thời Lê rất nghiêm ngặt như Lợi, Long, Thành...
- Bia Lê Mạc: dẹt, trán bia thấp, mặt nguyệt to choán hết trán bia. Rồng không phải là đề án trang trí chính và thể hiện, không trang nghiêm như trên bia Lê sơ, có xu hướng tả thực, mộc mạc. Diềm bia khắc chìm, nét mảnh, chủ yếu trang trí bằng hoa văn xoắn dạng “tay mướp” chữ khắc nông, nét mác và nét móc phóng khoáng vượt ra khuôn khổ ô vuông, không có chữ húy thời Lê.
- Bia Lê trịnh: ở thế kỷ XVII, bia được trang trí thành từng mảng đề tài, nét tả thực đậm nét dân gian. Chữ khắc sâu, vuông vức, diềm khắc nổi, đậm. Có nhiều chữ húy thời Lê như Lợi, Long, Thành, Trần, Tân, Trừ... Ở thế kỷ XVIII, thời kỳ đầu vẫn mang phong cách bia thế kỷ XVII, sang nửa sau thế kỷ XVIII có xu hướng cách điệu, thoát ly thực tế. Bia trụ xuất hiện. Mặt hổ phù và hoa văn chữ thọ khá phổ biến. Có một số chữ húy thời Lê ở giai đoạn đầu không nghiêm ngặt như chữ Trần(24). Có thêm một số chữ húy thời Lê nữa là Đề, Cửu...
- Bia thời Nguyễn: ở giai đoạn đầu, có dáng dấp bia cuối thời Lê Trịnh nhưng không có chữ húy thời Lê. Rồng được cách điệu cao, đuôi xoắn tròn. Ở giai đoạn sau, hoa dây không còn nữa mà chỉ gồm những lá nối tiếp nhau. Hoa văn án thư, chữ thọ chữ vạn là phổ biến. Văn bản gặp nhiều chữ húy thời (Tự Đức) và đơn vị hành chính tỉnh...
Những nét khái quát về phong cách bia trên cho phép đoán định niên đại của những bia không rõ xuất xứ, đồng thời cho phép kiểm nghiệm một số dòng niên đại trên bia còn nghi vấn. Từ suy nghĩ trên chúng tôi gạt bỏ toàn bộ bia thần tích mang niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572) bởi chúng không có phong cách bia thời Lê Mạc. Đó là những bia thuộc giai đoạn cuối Lê Trịnh và đầu Nguyễn... Đồng thời cho phép đính chính niên đại giả, nhầm lẫn trên một số thác bản bia...(25).
Trên đây là một số suy nghĩ bước đầu về vấn đề niên đại bia; những mong góp phần giám định văn bản bia nói riêng, văn bản các loại văn khắc nói chung, giúp ích việc khai thác triệt để và chuẩn xác tư liệu bi ký.

Đinh Khắc Thuân
------------------------------------


CHÚ THÍCH
(1) Trong kho bia Viện NCHN có khá nhiều bản rập có tình trạng này. Vốn dĩ không phải do người viết, người khắc bia mà do người rập bia rập không đầy đủ hoặc tách làm hai bia.
(2) Tư liệu được khảo sát chủ yếu trong kho bia Viện Nghiên cứu Hán Nôm và một số tư liệu điền dã tại Hà Nội và vùng phụ cận.
(3) Xem Lê Thành Lân: Tìm hiểu âm lịch nước ta, Nxb. KHXH, H. 1985.
(4) Ở một số bia thời Trần, tên niên hiệu vua đó đôi khi được thay bằng đời vua như “Trần triều nhị đế...”.
(5) Xem số thác bản bia số 8425 và 8429.
(6) Xem thác bản bia số 17846 và 13487, 8897...
(7) Xem thác bản bia số 368...
(8) Thác bản bia số 8349.
(9) Có bia khắc một nửa là chữ Hán, một nửa là chữ Nôm, thậm chí một nửa đã dịch ta Quốc ngữ.
(10) Xem Phùng Văn Cường: Bia chùa Hưng Phúc, Nghiên cứu lịch sử, số 156, tháng 5-6 năm 1974, tr.32.
(11) Trong đó tiêu biểu là bia mộ của Nguyễn Thông.
(12) Xem Tảo Trang: Một bài thơ Nôm ở Quốc tử giám, TCVH, số 2. 1976, tr.61.
(13) Xem Đinh Khắc Thuân: Về một số bài thơ Quốc âm khắc trên biển gỗ bi ký. Báo cáo Hội nghị về Nôm, Viện Hán Nôm năm 1985.
(14) Đinh Khắc Thuân: Vài nét về câu đối, bi ký trên các di tích xã Phú Lương. Sáng tác Hà Sơn Bình, số 4, 1984, tr.87.
(15) Niên biểu Việt Nam của Vụ Bảo tồn Bảo tàng, Nxb. KHXH tái bản nhiều lần.
(16) Bảng thống kê này, chúng tôi dựa vào sách Thiếu vi tiết yếu, sách Hán Nôm, ký hiệu Hv 05/1, phần Tam Hoàng kỷ, tờ 37. Cách đọc này được sự góp ý của GS. Đỗ Văn Hỉ và các ông Nguyễn Văn Lãng, Ngô Thế Long, Nguyễn Tá Nhí. Xin chân thành cám ơn.
(17) Theo Bách trúng kinh (sách Hán Nôm) số A.2873 kho sách Hán Nôm, tờ 111 và Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh số A.1237 tờ 577.
(18) Xem Trần Huy Bá: Nguyễn Văn Siêu với đền Ngọc Sơn, Tạp chí Tổ quốc số 2/1981, tr.44.
(19) Theo Từ nguyên.
(20) Trịnh Căn (1682-1709), Trịnh Cương (1709 - 1729).
(21) Thiên hòa doanh bách vịnh là tập thơ Nôm tiêu biểu ở giai đoạn này.
(22) Lê Hy Tông (1676-1705), Lê Dụ Tông (1705 - 1729).
(23) Theo Từ nguyên.
(24) Cùng trong văn bản có chỗ viết dạng húy, có chỗ viết bình thường.
(25) Xem Đinh Khắc Thuân: Đính chính niên đại giả trên một số thác bản bia tại kho bia Viện Nghiên cứu Hán Nôm, NCHN số 2/1985, tr.61./.

(Theo tạp chí Hán Nôm số 2/1987)

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Trần Văn Tuệ - 30/06/2016 22:46
Xin quý ông, bà, bác, chú, anh chị em nào biết cho tôi được hỏi: Ngày 15 tháng 01 năm Bảo Đại nhị thập niên là ngày mấy âm lịch, năm nào ? (cả âm lịch và dương lịch). Xin chân thành cảm ơn. Rất mong nhận được sự trả lời chính xác
Nguyễn Hữu Đức - 21/08/2015 11:41
Chuông chùa làng tôi-làng Canh Nông-xã Điệp Nông -huyện Hưng Hà-tỉnh Thái Bình được làm vào năm Gia Long thứ 12 tức là năm 1813,trên chuông có sử dụng thuật ngữ tượng trưng"Long Phi".Tôi được biết tác giả bài viết này quê ở làng Đinh-xã Dân Chủ,ngay cạnh xã tôi.Tác giả đã có lần về làng tôi.Vậy tôi mong tác giả có thể lưu tâm đến tìm hiểu về nội dung ghi trên chuông của chùa làng tôi-chùa Bảo Nghiêm
Nguyễn Hữu Đức - 01/08/2015 13:12
Tác giả cần đính chính năm Giáp Thân niên hiệu Bảo Đại là năm 1944 chứ không phải là năm 1914(năm 1914 vẫn thuộc thời vua Duy Tân)
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc