Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA MẢNG TƯ LIỆU HÁN NÔM TRÊN TẠP CHÍ NAM PHONG

SATurday - 03/06/2017 10:34
Bài viết của Chu Tuyết Lan


Như chúng ta đã biết, Nam Phong tạp chí ra hàng tháng, xuất bản liên tục từ tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934, tổng cộng 210 số. Mỗi một số đều có phần chữ Quốc ngữ, phần chữ Hán và phần chữ Pháp riêng biệt, đăng tải nội dung tạp chí trong chừng mực khác nhau, tùy thuộc vào sự quan tâm của độc giả từng phần.
Từ trước đến nay trong giới nghiên cứu - phê bình đã có nhiều ý kiến phân tích, đánh giá tạp chí Nam Phong về mặt này mặt khác. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, chúng tôi đề cập đến một lĩnh vực chưa được bàn tới: những đóng góp của tạp chí Nam Phong đối với việc sưu tầm và giới thiệu di sản Hán Nôm của dân tộc.
So với đương thời, Nam Phong là cơ quan ngôn luận tích cực nhất trong việc đăng tải mảng tư liệu Hán Nôm do cha ông ta để lại. Trải qua nhiều thập kỷ, những đóng góp đó vẫn còn được ghi nhận. Chẳng hạn trong khi Viện Văn học tổ chức biên soạn bộ sách Thơ văn Lý Trần(1), các soạn giả đã tham khảo và hơn một lần sử dụng các bản dịch thơ văn được công bố trên Nam Phong.
Không chỉ có Ngành nghiên cứu Văn học, mà nhiều Ngành khoa học xã hội khác như Sử học, Triết học, Dân tộc học, Xã hội học,… đều có thể khai thác ở 210 số tạp chí này những tư liệu và thông tin cần thiết. Để phục vụ các nhà nghiên cứu, phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm năm 1989 đã hoàn thành tậpThư mục các bài viết trên tạp chí Nam Phong có liên quan đến tác giả, tác phẩm Hán Nôm(2).
Tập thư mục gồm hai phần: Phần Thư mục và phần Sách dẫn.
Phần Thư mục được sắp xếp theo vần chữ cái của tên bài viết. Mỗi đơn vị thư mục gồm có 8 yếu tố:
1. Tên tác giả.
2. Tên bài viết.
3. Đồng tác giả, người sưu tập, dịch…
4. Tên tạp chí.
5. Năm xuất bản.
6. Số tạp chí.
7. Trang.
8. Giới thiệu sơ lược nội dung.
Có tất cả 726 đơn vị thư mục.
Phần Sách dẫn gồm Bảng tra tên người và Bảng tra tên tác phẩm. Cả 2 bảng đều được sắp xếp theo vần chữ cái, với thứ tự dấu: Không, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng, có chỉ rõ số trang và số thứ tự của đơn vị thư mục.
Tập thư mục đã thông tin được một khối lượng đáng kể các tư liệu Hán Nôm, giúp người đọc tra cứu khá dễ dàng.
Để góp phần nhận thức thêm về tính chất đa dạng của các tư liệu Hán Nôm trên tạp chí Nam Phong, dưới đây chúng tôi sẽ phân loại chúng theo chủ đề và đề tài.
Trong số 726 đơn vị thư mục, có:
a) 399 đơn vị giới thiệu các bài sưu tầm, dịch thơ văn cổ;
b) 33 đơn vị giới thiệu các bài nghiên cứu văn học;
c) 168 đơn vị giới thiệu các bài nghiên cứu về lịch sử hoặc tư liệu về lịch sử;
d) 119 đơn vị giới thiệu các sáng tác thơ văn đương thời (1917 - 1934).
e) 7 đơn vị giới thiệu các văn bản chính trị đương thời (1917 - 1934).
Qua phần sưu tầm, dịch thơ văn cổ, chúng ta thấy hầu hết các tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam đã được Nam Phong giới thiệu: Mãn Giác, Không Lộ, Lý Thái Tông, Lý Anh Tông, Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Nghệ Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Phi Khanh, Đặng Dung, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hữu Trác, Phạm Thái, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thông,… Bên cạnh những áng thơ Đường được dịch, có mặt trên Nam Phong còn là chuyện Nôm khuyết danh nhưTống Chân Cúc Hoa (Thư mục 126). Đáng chú ý, có những tác phẩm rất hiếm hoi được sáng tác trong thời kỳ Bắc thuộc như Bạch vân chiếu xuân hải phú của Khương Công Phụ cũng đã được giới thiệu trên Nam Phong năm 1924, số 83 (Thư mục 246).
Trên phương diện nghiên cứu Văn học, Nam Phong có nhiều bài nghiên cứu về tiểu sử Nguyễn Du, về Truyện Kiều (Thư mục 34, 35, 36, 38, 133, 287, 308, 344, 351, 383, 639, 672). Ngoài ra các tác giả còn khảo cứu Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, nghiên cứu một số bài thơ của Trần Khánh Dư, Lê Thánh Tông, Bà huyện Thanh Quan, bàn về thơ Nôm, câu đối Nôm, khảo sát lối chữ thời cổ (Thư mục 50, 51, 37, 235, 295).
Qua 168 đơn vị Thư mục về tài liệu và nghiên cứu lịch sử, có thể thấy những vấn đề sau được đặc biệt chú ý:
1) Lịch sử nước ta từ thời kỳ Đông Sơn đến thời kỳ Bắc thuộc (Thư mục 73, 169, 174, 182, 183, 304,…).
2) Các thời kỳ lịch sử, với các triều đại như nhà Lê, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn (Thư mục 212, 273, 284, 458,…).
3) Các nhân vật lịch sử: Ngô Quyền, Lý Nhân Tông, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ, Lê Quý Đôn, Nguyễn Văn Thành, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Trường Tộ,… (Thư mục 348, 300, 92, 272, 386, 367, 285, 357, 283, 99, 440, 441, 484, 606, 661, 270, 369, 322, 299, 278, 361,…). Ở phần này người nghiên cứu sẽ tiếp xúc với các tư liệu lịch sử như: những bức thư của Lê Quýnh (bầy tôi của Lê Chiêu Thống), những bài biểu của Nguyễn Thiếp và hai bức thư chữ Hán của Quang Trung mời Nguyễn Thiếp ra giúp nước; bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ,… (Thư mục 257, 260, 207, 208, 209,…).
4) Phong tục, đất đai, thổ sản, các di tích… trên đất nước ta (thư mục 213, 214, 387, 236, 335, 55, 197,…).
5) Giáo dục, khoa cử: bên cạnh những bài khảo cứu về chế độ khoa cử, về các khoa thi (thư mục 241, 224), còn có những bài, những tư liệu khá thú vị, chẳng hạn, đề bài thi để chọn nhân tài dưới chế độ phong kiến, bài biểu tạ ơn của người thi đỗ, quy chế của khoa thi cuối cùng (thư mục 32, 118, 250, 249).
Ngoài ra tạp chí Nam Phong còn đề cập đến rất nhiều vấn đề khác như luật hình, lễ nghi, tang lễ, y học, nghề đàn, lịch, lăng tẩm, lệ cống Trung Quốc, các bộ sử, nhận xét người phương Bắc về người nước ta, lịch sử và phong tục nước ngoài (Ấn Độ, Nhật Bản), Phật giáo, Mạnh Tử, Mặc Tử,…
Bên cạnh đó, còn có 118 đơn vị thư mục giới thiệu các sáng tác thơ văn hầu hết là thơ từ 1917 đến 1934, cung cấp thông tin cần thiết đối với những người quan tâm nghiên cứu tình hình văn học Việt Nam ở giai đoạn giao thời.
Cuối cùng là 8 đơn vị thư mục nói về các văn bản chính trị như các tờ thời dụ của vua Khải Định, biểu mừng Hoàng Thái Hậu năm mươi tuổi,… Nguồn tư liệu sẽ giúp cho các nhà sử học muốn tìm hiểu tình hình xã hội Việt Nam vào đêm trước của Cách mạng Tháng Tám 1945.
Đến nay hơn nửa thế kỷ đã qua đi, song những đóng góp đã phân tích ở trên các mảng tư liệu Hán Nôm trên tạp chí Nam Phong vẫn còn được ghi nhận. Nó sẽ giúp cho bạn đọc và những nhà nghiên cứu có thêm căn cứ để tìm hiểu lịch sử, ngôn ngữ văn hóa, xã hội và phong tục nước nhà.
CHÚ THÍCH
(1)Thơ văn Lý - Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, Tập I, 1977, 632 tr; Tập II, Quyển thượng, 1988, 968 tr; Tập III, 1978, 824 tr.
(2) Tập thư mục gồm 300 trang đánh máy, do tập thể phòng Thông tin - Tư liệu - Thư viện (Vũ Thanh Hằng, Nguyễn Thị Hà, Chu Tuyết Lan, Nguyễn Hoàng Quý, Ngô Thị Thành và Đoàn Thị Tuyết) biên soạn.

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc