Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

NGUYỄN CHẾ NGHĨA - TÁC GIẢ ĐỜI TRẦN

TUEsday - 25/03/2014 22:30
Hình minh họa

Hình minh họa

Nguyễn Chế Nghĩa là một nhân vật lịch sử mà chúng ta biết đến còn rất ít. Về ông, chúng ta mới biết đôi điều sơ sài rằng ông “người xã Hội Xuyên (còn có tên là Cối Xuyên) huyện Gia Lộc, nay thuộc tỉnh Hải Hưng. Ông là một danh tướng đời Trần, lập nhiều công trong lần chống quân Nguyên năm 1288. Cuối năm 1287, có tin quân Nguyên sắp sang đánh nước ta, ông thân đến hành dinh của Trần Hưng Đạo để xin được đi dẹp giặc. Hưng Đạo thử tài, rất vừa lòng, khen rằng: Người này chẳng kém gì Phạm Ngũ Lão, ta lại được thêm một tướng tài.
“Nguyễn Chế Nghĩa đã chiến đấu ở biên giới, ở Phả Lại, ở sông Bạch Đằng… Dẹp xong giặc Nguyên, ông được phong tước Nghĩa Xuyên công. Vợ ông là Công Chúa Ngọc Hoa, con vua Anh Tông…”(1).
Gần đây, chúng tôi tìm thêm được một tư liệu nữa ghi đầy đủ hơn về Nguyễn Chế Nghĩa: ông không chỉ là một danh tướng mà còn là một tác giả thơ. Tư liệu cho biết:
“Ông họ Nguyễn, tên chữ Chế Nghĩa, người xã Cối Xuyên, huyện Gia Lộc (tỉnh Hải Dương cũ). Dòng dõi một gia đình có danh vọng, ông sinh ra có sức khỏe lạ thường, giỏi cưỡi ngựa và sử dụng giáo dài: thiên văn, binh pháp đều tinh, lại thích ngâm vịnh. Ông từng có thơ rằng:
Đính thiên lập dịa trượng phu thân,
Chí khí đường đường mại đẳng luân.
Đàn giáp khẳng mi Tề sách sĩ,
Trước tiên tu hướng Tấn năng thần.
Cơ tàng Cử hỏa kiêm Hoài tuyết,
Tích trứ Đường yên dữ Hán vân.
Lưu đắc càn khôn trung nghĩa tiết,
Cao đàm thiên cổ nhất hoàn nhân.
 
(Thân trượng phu đội trời đạp đất,
Chí khí phải cao xa vượt người cùng lứa.
Võ kiếm không chịu bó buộc, như mưa sĩ nước Tề(2),
Ra roi, nên hướng theo bề tôi giỏi nước Tấn(3).
Cơ mưu dấu nơi lửa nước Cử, tuyết sông Hoài(4),
Công lao ghi rõ ở gác Lăng Yên, đài Vân Hán(5).
Để lại được tiết tháo trung nghĩa cùng trời đất, 
Cho đời sau còn nói chuyện cao nhã về con người toàn vẹn nghìn xưa).

Thời Trần Anh Tông, giặc Nguyên lại gây hấn ở biên giới. Chiếu ban xuống tìm người làm tướng, ông vừa đến tuổi đội mũ(6) bèn xin ứng tuyển làm tiên phong. Ông theo Điện soái họ Phạm tiến lên phía Bắc, đóng quân sát cửa ải Chi Lăng. Ông có ngựa thần tên là Long Câu, lại tên là Long Đề, bên nhảy lên ngựa cầm giáo ra vào trong đám tám vạn quân giặc,chẳng kẻ nào là không rạp hết xuống, chúng đều sụp lạy gọi ông là thần tướng. Giặc dẹp xong, ông được trao chức Khống Bảo đại tướng quân, trấn thủ Lạng Sơn sáu năm, công lao lừng lẫy, nổi danh ngang với Điện soái Phạm Ngũ Lão.
Vua truyền cho con gái yêu là công chúa Ngọc Hoa lên lầu ném quả cầu xuống rồi gả cho ông, sau sinh được con trai là Sùng Phúc tính nết đoan nghiêm, năm 12 tuổi được phong Thượng vị hầu. Vua càng thêm yêu mến, cử ông làm Thái úy.
Ông tính trung hậu, thẳng thắn, không ngại phiền lao, khi vào là tâm phúc, khi ra là móng vuốt của triều đình. Một thân quan hệ tới điều khinh trọng trong thiên hạ, nhưng ông không lấy quyền vị làm vui, có ý giang hồ vạn dặm. Thường ngâm thơ của Sầm Lâu(7) rằng:
Xoa lạp Ngũ Hồ vinh bội ấn,
Tang ma ê dã thắng phong hầu
 
(Mang tơi đội nón rong chơi Ngũ Hồ vẻ vang hơn đeo ấn,
Ở nới đâu gai chep rợp đồng còn hơn được phong hầu).

Ông lại nói: “Đó là đạo tự giữ trọn mình của kẻ bề tôi”. Khi tuổi cao, ông dâng biểu xin từ chức, vua không cho. Ông bèn viện cớ thời đó các bậc công hầu đều có phủ đệ riêng để xin, vua phải chấp thuận. Ông về quê đãi khách, có người tặng thơ rằng:
Công hầu tâm phúc cánh can thành,
Vị trọng huân gia thế sở vinh.
Lại bả tướng tài mưu lộc nhĩ,
Nhàn huề tiên phối tổ phong tình.
Nghi hình hậu tự hoàn cao tiết,
Hưng khởi tha niên cưỡi nghĩa hinh.
Quốc thiện vinh danh, gia thích chí,
Nhất thân triều dã, nhất ban thanh.
 
(Là người tâm phúc trong số công hầu, lại là tướng giữ gìn đất nước,
Địa vị cao, công lao lớn, đó là điều người đời lấy làm vẻ vang.
Lười đem tài tướng mưu làm mồi câu lợi lộc,
Khi nhân dắt người vợ tiên tỏ bày tình cảm phong nhã.
Làm mẫu mực cho cháu con giữ trọn tiết cao cả,
Dấy lên cho mai sau lòng mộ tiếng nghĩa thơm tho.
Vẻ danh là người giỏi của nước mà nhà cũng thỏa chí,
Một thân khi tại t riều, lúc về quê đều trong sạch như nhau).

Lại có thơ tặng rằng:
Tích niên lang miếu tự thừa nhàn,
Kim nhật khưu viên luyến thảo bàn
Dĩ bién úy đồ thành lạc thú
Khẳng tương thanh tháo bạn trần phan.
Giang sơn phong vị tình tuy thích
Gia quốc thân huân mộng vị lan.
Thử khứ Thăng Long hoàn kỷ lý,
Cối Xuyên chỉ xích thị Trường An.
 
(Năm xưa ở chốn triều đình tự được nhàn,
Ngày nay về với vườn đồi vì nhớ bài thơ Khảo hàn(8) 
Đã biến con đường đáng sợ thành thú vui,
Chẳng chịu ràng buộc tiết tháo trong sạch vào sự đời phồn tạp.
Phong vị núi sông tuy thỏa được tình cảm,
Nhưng giấc mộng đạt được công lớn cho nước cho người thân
1 hẳn chưa tàn.
Từ đây đến Thăng Long có mấy dặm đâu,
Cách Cối Xuyên gang tấc là Trường An).

… Ông đem dán hai bài thơ này lên vách để tự vui vì vốn có ý coi nhẹ công danh. Sau khi ông mất, vua sai chôn cất, tế theo lễ của bậc vương giả. Ít lâu sau, công chua đau buồn rồi cũng mất. Vua thương sót, chôn theo lễ vương hậu, rồi cho đòi công tử vào triều cho nhận chức cao, song công tử từ chối không nhận…”.
Tư liệu trên đây trích trong cuốn Trần triều hiển thánh chính kinh tập biên, ký hiệu A.2382, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sách in năm Canh Tý niên hiệu Thành Thái (1900), chép tiểu sử, gia thế, vợ con của Trần Quốc Tuấn, các trận phá giặc Nguyên do ông chỉ huy, các bộ tướng, gia thần của ông, cùng việc thờ phụng ông. Chữ “hiển thánh” dùng để chỉ Trần Quốc Tuấn do chỗ ông được các triều vua phong làm Thượng đẳng thần. Từ đền thờ ông ở thái ấp Vạn Kiếp, dân chúng ngưỡng mộ công lao dẹp giặc của ông, đã xin thờ ông ở nhiều nơi khác, và nơi nào cũng đưa vào các sách cổ mà chép kỹ lưỡng, rõ ràng về tiểu sử, gia thế, công lao của ông. Các gia thần hộ tướng thờ chung cũng được chép kỹ như thế: Nguyễn Chế Nghĩa là một trong số đó.
Như vậy là tiểu sử, công trạng, thơ của Nguyễn Chế Nghĩa, thơ của hai tác giả khuyết danh, bạn cùng thời với ông, không được ghi trong các sách sử hoặc các hợp tuyển thơ văn chính thức mà chỉ được chép trong loại sách thần phả thờ Trần Quốc Tuấn, hoặc thần phủ thờ ông làm Thánh hoàng xã Kiêu Kỵ(9) . Tuy nhiên, nhiều trường hợp tác giả và thơ văn xưa đã được bảo tồn qua thần phả, bia đá, chuông, khánh các đền thờ và chùa chiền, bổ sung đắc lực cho chính sử, cho văn học sử, được các nhà nghiên cứu đời nay thừa nhận. Vì vậy, dù chưa thể khẳng định quả quyết, chúng tôi cũng cho rằng phần ghi chép về Nguyễn Chế Nghĩa trong Trần triều hiển thánh chính kinh tập biênvà trong một vài quyển cùng loại(10) có phần chắc là dấu vết của một tư liệu, một sự thật xa xưa và người anh hùng, tác giả thơ Nguyễn Chế Nghĩa, người mà một đường phố của Thủ đô chúng ta hiện đang mang tên họ. Xin nêu lên để các bạn cùng tham khảo.
Phạm Tú Châu


CHÚ THÍCH
(1) Xem Nguyễn Vinh Phúc, Trần Huy Bá: Đường phố Hà Nội, Nxb Hà Nội, 1979.
(2) Chỉ Phùng Hoan, người nước Tề, môn khách của Mạnh Thường Quân đã giúp cho Mạnh Thường Quân nổi tiếng và được làm Tể tướng nước Tề.
(3) Chỉ Lưu Côn và Tổ Địch, hai bề tôi giỏi của nước Tấn.
(4) Chưa rõ tác giả dùng điển nào ở sách nào.
(5) Gác Lăng Yên: do tiếng Hán Lăng Yên các (lầu gác cao vượt tầng mây khói). Lăng Yên các do Đường Thái Tông dựng lên để vẽ tượng các công thần. Đài Vân Hán: do tiếng Hán Vân đài, một tòa lâu đài do Hán Minh Đế dựng lên để treo tranh hai mươi tám người công thần nhà Hán. Trong văn học cổ dùng những từ này để chỉ sự vinh dự mà những kẻ bề tôi dưới thời phong kiến mong đạt tới.
(6) Tuổi đội mũ, tức khoảng 20 tuổi.
(7) Tức Trần Quốc Toại tôn thất nhà Trần, tác giả của Sầm Lâu tập.
(8) Khảo hàn: Tên một bài thơ trong Vệ phong, sách Kinh thi, ca ngợi người hiền về ở ẩn nơi suối khe.
(9) Theo Nguyễn Vinh Phúc, Đường phố Hà Nội. Sđd.
(10) Như cuốn Trần triều hiển thánh linh tích, sách chép tay, ký hiệu VHv.2653, chép lại một cuốn sách in năm Giáp Thìn, niên hiệu Thành Thái (1904).
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc