Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

TƯ LIỆU HÁN NÔM Ở KHU DI TÍCH ĐÌNH GIÁ

MONday - 30/03/2015 18:51
Khu di tích Đình Giá bao gồm chùa Đôi Hồi và đền Tam Phủ nằm ven đê sông Đáy, xưa thuộc xã Thu Quế huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai, nay thuộc thôn Thu Quế xã Song Phương huyện Đan Phượng ngoại thành Hà Nội.
Chùa Đôi Hồi

Chùa Đôi Hồi

Các tên gọi “Đôi Hồi”, “Đình Giá”, theo Đào Duy Anh, gắn liền với truyền thuyết kể rằng: “Ở thôn Thu Quế xã Đan Phượng tỉnh Hà Tây có chùa Đình Giá. Tương thuyết đời Trần, một lần nhà vua dọc sông Đáy đi thăm chùa Thầy, xã giá đến khúc sông trước làng Thu Quế, thuyền ngự gặp nước xoáy không đi được mà cứ quẩn quanh một chỗ, vua niệm Phật thì thuyền đi được, sau đó vua cho làm chùa ở đấy, tục gọi chùa Đôi Hồi cũng gọi là chùa Đình Giá. Chữ Đôi Hồi coa nghĩa như “bồi hồi” “bàn hoàn” nghĩa là quanh quẩn. Hiện nay còn biển gỗ và bia đá đề chữ “Đôi Hồi tự”(1). Ngoài ra, sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Ở xã Thu Quế huyện Đan Phượng, trong chùa từ chuông khánh, bia đá, đến biển ngạch đều khắc mấy chữ “Đôi Hồi tự Đình Giá xứ”. Tương truyền vua đi xem xét địa phương, dừng xa giá ở đây nên gọi tên chùa như thế”(2).
Khu di tích Đình Giá nằm trên mảnh đất giầu truyền thống lịch sử. Từ năm 40 của thế kỷ đầu tiên. Lôi Chấn là người thôn Tháp Thượng đã chiêu mô nghĩa sĩ dưới ngọn cờ cứu nước của Hai Bà Trưng, ông được phong làm Tả giai tướng quân trong đoàn quân đánh Tô Định. Để tưởng nhớ người anh hùng đã có công dẹp giặc, nhân dân Đan Phượng và các vùng lân cận đã lập đền thờ ông và tôn là Minh Châu Lôi chấn đại vươn (3).
Đến thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi đây đã trở thành trạm giao thông liên lạc, nơi phát hành báo Cứu quốc và nuôi dấu các cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước ta(4).
Về mặt có liên quan tới Hán Nôm, khu di tích Đình Giá còn giữ được khá nhiều di vật mang văn tự như bia, chuông, khánh, sắc phong, hoành phi, câu đối.
Sau đây xin giới thiệu đôi nét về chùm tư liệu nói trên:
I. BIA ĐÁ
Khu di tích Đình Giá còn lưu giữ 5 bia với tổng số 12 mặt bia.
1) Bia Trùng tu Đình Giá tự (Bia Trùng tu chùa Đình Giá).
Bia đặt sau chùa, bia trụ 4 mặt, trên có núm tròn, kích thước 60cm x 40cm, chất liệu đá màu trắng đục. Hoa văn trang trí trên diềm bia là dây leo đơn giản, uốn lượn hình sin, đăng đối dọc theo diềm bia. Bia hiện nay đã mòn và mất khá nhiều chữ. Mặt 1 bia là lời văn ca ngợi việc trùng tu lại chùa Đình Giá. Lời văn trên bia có đoạn viết: “Đến năm Ất Dậu (1585) có kẻ sĩ ở xã Đan Phượng thượng, hiệu Phúc Lai kêu gọi đóng góp, khuyến giáo các sãi vãi bỏ ra của cải tài vật, rồi thuê thợ mướn công... chưa đầy một tháng chùa sở, tượng Phật, cầu quán lại được nghiêm trang...”
Phần ghi tên công đức đóng góp xây dựng chùa, đáng chú ý có tên bà Hoàng Thái hậu và 2 cô công chúa họ Mạc là Phúc Thành thái trưởng công chúa Mạc Ngọc Bàn, Nghi Xuân công chúa Mạc Ngọc Lương và Mạc Ngọc Liễn , một tướng giỏi thời nhà Mạc.
Hai mặt tiếp theo ghi công đức của người đóng góp xây dựng chùa. Mặt thứ tư ghi dòng lạc khoản: Hưng Trị... niên thập nguyệt cốc nhật lập bi (Lập bia ngày lành tháng 10 năm Hưng Trị (1588).
2) Bia Đình Giá xứ Đôi Hồi tự bi (Bia chùa Đôi Hồi xứ Đình Giá).
Bia đặt sau chùa, 2 mặt, có kích thước 106cm x 60cm. Chất liệu bia là một loại đá có màu trắng đục. Bia dựng năm Chính Hoà thứ 19 (1698) thời Lê.
Hoa văn trang trí trên cả trán bia và diềm bia. Trán bia trang trí đề tài “Phượng chầu mặt nguyệt”. Phượng được trang trí ở trán bia với tư thế động, đầu phượng thon nhỏ, mỏ cong ngắn, mào nhỏ vươn lên: lông seo ngắn bay lượn. Thân phượng thuôn dài, mập, trên mình phủ lớp lông sao đều đặn xếp như vẩy cá. Lông cánh dài đều từng lớp chải chuốt. Chân Phương giống như chân chim.
Mặt nguyệt được trang trí đao hảo. Đạo hoả được chạm khắc đăng đối lấy mặt nguyệt làm tâm. Cánh đao hoả ngang lượn mềm như lớp sóng.
Diềm bia được trang trí hoa văn hình học, đó là các hình ô van, có hai cạnh đối xứng bằng nhau, khoảng giữa có điểm xuyết hoa và lá.
Nội dung bia đề cập đến việc xây dựng lại toà tam quan và ghi tên công đức những người đóng góp xaay dựng tam quan chùa.
Mặt 2 bia Đôi Hồi tự Đình Giá xứ (chùa Đôi Hồi xứ Đình Giá).
Hoa văn trên trán bia cũng giống mặt 1, diềm bia trang trí hoa dây hình sin có những đường uốn lượn đều đặn chạy dọc diềm bia, trên đoạn uốn có tay râu mảnh dẻ và có hoa lá phối hợp.
Nội dung mặt 2: ghi lại việc xây dựng hành lang 2 bên chùa và ghi công đức những người đóng góp.
3) Bia Thu Quế xã trùng tu Đình Giá tự tịnh Địa ngục kiều (xã Thu Quế trùng tu chùa Đình Giá và cầu Địa Ngục).
Bia đặt ở sau chùa, 2 mặt, có kích thước khá lớn: 170cm x 115cm, dày 25cm. Bia dựng năm Chính Hoà thứ 25 (1704) thời Lê. Chất liệu bia là loại đá có màu trắng xanh, mặt phẳng nhẵn, chữ và hoa văn trang trí được khắc khá sâu, nên còn rất rõ và đẹp. Hoa văn trang trí cả trán bia và diềm bia. Trán bia trang trí đề tài truyền thống “Lưỡng long triều nguyệt”. Hình rồng được thể hiện với đặc điểm đầu hơi to, thô, mào lửa nhỏ dần, uốn đơn giản. Thân to phủ đầy vẩy, bốn móng xoè nhọn như chân thú. Toàn thân toát lên vẻ chắc chắn khoẻ mạnh đầy sức sống. Rồng nằm trong tư thế trang nghiêm không uốn lượn nhiều như rồng sau này.
Mặt nguyệt là 2 vòng tròn đồng tâm, bên ngoài bao bọc là hình các cánh hoa (như cánh sen) xếp liên tục tạo nên nền dầy đậm.
Diềm bia được trang trí hình các quầng mây xếp đăng đối. Ở giữa là hình con phượng đứng trong tư thế chuẩn bị bay: đầu cao mào uốn dựng hai cánh xoè rộng, chân phải giơ lên...
Diềm chân bia được trang trí bằng 3 bông hoa sen, cánh to, hai con nai chầu 2 bên. Nai được thể hiện trong tư thế động, hai con còn lại chạy sang hai bên, mặt ngoảnh lại nhìn nhau, trông gần gũi sinh động, chẳng khác cuộc sống thực được khắc tạc trên đá.
Nội dung bia đề cập đến 2 vấn đề:
- Giới thiệu quang cảnh, địa thế chùa Đôi Hồi.
- Quá trình trùng tu xây dựng và ý nghĩa cao đẹp của việc xây dựng chùa.
Mặg 2 bia Âm ty, Đôi Hồi, Thanh Lương quán bi ký (Bài ký trên bia Quán Âm ty, Đôi Hồi, Thanh Lương).
Hoa văn trang trí trên trán bia và diềm bia khác với phong cách trang trí ở mặt 1.
Diềm bia là hình 2 con rồng được thể hiện nhìn nghiêng thân tròn uốn đơn giản, lượn nhẹ theo chiều dài của diềm. Đầu rồng nhỏ, bờm tóc ngắn, râu uốn mềm mại, vây đuôi vắt chéo nhau. Rồng trang trí đăng đối 2 bên tạo cho bia dáng vẻ tôn nghiêm.
Nội dung tiếp phần mặt một, ghi tên người có công đóng góp xây dựng chùa. Nhìn tấm bia lớn ghi dày đặc tên người đóng góp, ta thấy rõ hơn ảnh hưởng của chùa đối với dân vùng này và các vùng lân cận khác.
Tác giả văn bia là Tiến sĩ Vũ Thạch hiệu Phác Phu, ông người xã Đan Loan huyện Đường An, trú ở xã Báo Thiên huyện Thọ Xương. Thi Hội đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, khoa Ất Dậu Chính Hoà thứ 5 (1685) năm ấy ông 22 tuổi, làm đến Thiêm đô ngự sử, bị bãi chức, sau lại được triệu dụng, làm đến Tự Khanh. Vâng mệnh làm chức giáo thụ trường võ, học xong tặnt Thám chính. Ông viết khá nhiều bia và là cây bút nổi tiếng, văn chương truyền tụng một thời.
4) Bia Thu Quế xã Tam phủ từ bi ký (Bài ký trên bia đền Tam phủ xã Thu Quế).
Bia được đặt trong hậu cung ngôi đền, 2 mặt, có kích thước 86cm x 44cm, được dựng năm Tự Đức thứ 19 (1868). Chất liệu bia mầu trắng đục. Bia không trang trí hoa văn. Nội dung ghi lại 9 lệnh chỉ của Chúa Trịnh cho phép chùa Đôi Hồi và đền Tam phủ hàng năm được miễn sưu sai thuế dịch, được cấp đất và đinh tráng để trông coi hương hoả thờ phụng và lý do tên gọi chùa Đình Giá.
5) Bia Đình Giá xứ Đôi Hồi tự thạch bệ ký (Bài ký trên bệ đá chùa Đôi Hồi xứ Đình Giá).
Bia cao 58cm, được khắc vào bệ đá, diềm bệ trang trí hoa dây đơn giản. Nội dung ghi lại việc xây bệ đá chùa Đôi Hồi xứ Đình Giá vào tháng 2 năm Đinh Dậu.
II. CHUÔNG ĐỒNG
Hiện đặt ở nhà truyền thống xã Song Phượng.
Chuông có chiều cao (từ đáy chuông đến quai chuông hình rồng) là 140cm. Chu vi của chuông là 200cm. Chuông chia làm 4 múi đều đặn, mỗi múi rộng 38cm, chia làm 2 phần, trên và dưới. Phần trên cao 50cm, dưới 25cm. Khoảng cách giữa các múi là hoa văn và 4 núm tròn đường kính 9cm. Tất cả các ô trên đều khắc chữ, chữ châm phương, dễ đọc. Chuông được đúc năm Cảnh Thịnh đã bị đục, song vẫn có thể đọc được.
Nội dung ca ngợi việc đúc chuông và ghi tên người đóng góp. Lời văn do Sơn Nam cư sĩ người Thường Tín Thanh Trì Lê Tạ Vọng soạn.
III. KHÁNH
Hiện đặt ở nhà truyền thống xã Song Phượng.
Khánh có kích thước 105cm x 60cm, giữa có núm tròn đường kính 9cm, diềm ngoài núm được trang trí đao hoả, cánh đao hoả uốn lượn, hướng lên trên rừng rực như ngọn lửa bốc. Phía dưới trang trí các sóng nước, mỗi bên có 2 ngọn sóng chồm lên như sóng bạc đầu.
Khánh được đúc cùng thời gian với chuông. Nhưng do âm thanh của khánh chưa thật êm hoà cho nên đến gày 13 tháng 12 năm Canh Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880) khánh được đúc lại.
Hiện nay chùa còn lưu giữ 7 lệnh chỉ của chúa Trịnh. Các lệnh chỉ trên được đóng thành sách, kích thước 4cm x 26cm, chất liệu giấy dó, đã rách nát mất một số tờ, lệnh chỉ vẫn giữ nguyên được dấu của vua Lê. Trong các bia đá hiện còn ở chùa có tấm bia dựng năm Tự Đức 19 (1868) còn ghi lại 9 lệnh chỉ trên. Như vậy so với lệnh chỉ hiện còn đã thất lạc mất 2 đạo. Theo tấm bia này thì lệnh chỉ sớm nhất là năm thứ 6 đời Lê Phúc Thái (1648). Nội dung xem bia “Thu Quế xã tam phủ từ bi ký”
V. HOÀNH PHI CÂU ĐỐI
Chùa hiện nay còn 3 bức hoành lớn, không còn đôi câu đối nào. Trong khi tìm hiểu khu di tích này, đọc Sơn Tây chí (5) chúng tôi thấy sách này còn ghi lại đôi câu đối như sau:
Nam hải kỷ dương trần bất ký hà niên đình ngọc giá .
Đông A lai nhập địa phương truyền thử nhật khởi châu cung.
Tạm dịch:
Nam Hải mấy bận bụi tung chẳng biết năm nào dừng xe ngọc 
Đông A từ khi nhập tịch truyền rằng ngày ấy dựng cung châu.
Như trên đã trình bày, tư liệu Hán Nôm ở khu di tích Đình Giá tuy không nhiều song đa dạng về mặt thể hiện. Nó có giá trị nhất định góp phần tìm hiểu về mặt lịch sử, văn hoá, nghệ thuật địa phương trong lịch sử văn minh Đại Việt.
Nguyễn Thị Oanh

Chú thích:
(1) Đào Duy Anh: Từ điển Truyện Kiều - Nxb KHXH, Hà Nội, 1974, tr.134.
(2) Đại Nam nhất thống chí - Quốc sử quán triều Nguyễn. Phạm Trọng Điểm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính. Nxb KHXH, 1971. T 4 tr.231.
(3) Theo thần phả thôn Tháp xã Song Phượng, huyện Đan Phượng ngoại thành Hà Nội.
(4) Theo Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Song Phương.
(5) Sơn Tây chí - Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ký hiệu A.1528, tờ 40b-41a.
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc