Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

VẤN ĐỀ VĂN BẢN TRONG THƠ ĐỖ NHUẬN

MONday - 19/01/2015 10:13
ĐỖ NHUẬN sinh năm 1446, năm mất chưa rõ. Ông là người làng Kim Hoa, huyện Kim Hoa, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, Hà Nội). Ông đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất, triều Lê Quang Thuận thứ 7 (1466). Sau thăng Lại Bộ Thượng thư, Tao đàn phó nguyên súy kiêm Hàn lâm Đông các Đại học sĩ, hội viên trong Hội Tao đàn của Lê Thánh Tông. Mùa thu năm Mậu Tí (1468), vua Lê Thánh Tông viễn du Lam Kinh, ông cùng với Quách Đình Bảo đi hộ giá, đã vâng mệnh vua họa thơ trong tập Hiếu tự anh hoa thi tập(1). Mùa Đông năm Quý Mão (1483) ông cùng Thân Nhân Trung soạn Thiên Nam dư hạ tập, dưới sự chỉ đạo của vua Lê Thánh Tông. Mùa Thu năm Giáp Thìn (1484), khi triều đình dựng bia Tiến sĩ, ông cùng Thân Nhân Trung vâng mệnh soạn bài ký. Ông đã cùng Thân Nhân Trung bình luận thơ văn của vua quan trong triều Lê Thánh Tông... Khuôn khổ bài viết nhỏ này chỉ bàn đến: Vấn đề văn bản trong thơ Đỗ Nhuận.
Bia Văn Miếu Hà Nội

Bia Văn Miếu Hà Nội


 
 
Đỗ Nhuận còn để lại 13 bài thơ, tất cả đều là thơ “phụng họa” những bài thơ “xướng” của Lê Thánh Tông. Mười ba bài thơ đã được chép trong mười văn bản của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm mà theo ý chúng tôi, người chép cũng như giấy mực thuộc triều Nguyễn (Gia Long). Không có một bộ nào là sách gốc từ đời Lê để lại.
 
Trong mười văn bản có chép thơ của Đỗ Nhuận kể trên, không có một văn bản nào chép đủ 13 bài thơ của họ Đỗ. Bốn bản chép đủ nhất mỗi bản được 12 bài, bản chép ít nhất có 1 bài(2). Sau đây là bản thống kê các bài thơ của Đỗ Nhuận trong 10 văn bản đó:
 
Chúng tôi sẽ lần lượt khảo cứu văn bản 13 bài thơ trên của Đỗ Nhuận. Trước hết, xin khảo về bài thơ thứ 13 của ông.
 
I. Bài thơ thứ 13 (xem bản thống kê trên) có thực là của Đỗ Nhuận không? Muốn vậy, phải định lại giá trị của 6 văn bản Minh Lương cẩm tú; bởi lẽ, bài thơ “Ngự chế Trú Giao thủy giang” này chỉ được chép trong một văn bản Minh Lương cẩm tú - ký hiệu A.254 thôi, còn 12 bài kia đều đã thấy xuất hiện trong 6 văn bản trở lên .
 
Theo Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, thì Minh Lương cẩm tú (MLCT) đã được các từ thần biên tập khoảng đời Hồng Đức (1470 - 1497), gồm thơ của nhà vua và thơ của bề tôi họa lại(3). Theo Giáo sư Bùi Văn Nguyên trong Lịch sử văn học Việt Nam (4) thì: “MLCT lấy 13 cửa biển nước nhà làm đề tài, với mục đích vừa ca tụng lòng tự hào dân tộc, vừa làm khuây khỏa nỗi tướng sĩ nhớ nhà. Tập thơ này ra đời năm 1470 (?) trong cuộc đi Chiêm Thành. Trong Toàn Việt thi lục, Lê Quý Đôn có đặt vấn đề nghi ngờ một số bài thơ ở đây không phải là giọng thơ của Lê Thánh Tông. Bùi Duy Tân cũng có nhận xét tương tự như thế(5). Nếu không có thơ xướng của vua Lê, thì làm sao lại có thơ họa lại “một số bài thơ trên” của quần thần, trong đó có thơ họa của Đỗ Nhuận?
 
Trong bài này, chúng tôi sẽ được khảo MLCT ở 6 văn bản, trong đó, có 1 bản phụ chép trong Cúc đường bách vịnh để định giá từng văn bản, mong gạt ra ngoài những bài thơ không phải của họ Đỗ.
 
1. Văn bản MLCT- A.1413(6).
 
Đó là văn bản do EFEO sưu tầm. Sách này chép sai nhiều chỗ: từ tên người (cùng một tên người mà nơi thì Phạm Cẩn Trực, nơi lại Nguyễn, chỗ thì lại Khiêm Trực...), đến câu chữ (một câu thơ được chép lại y nguyên của nhiều tác giả trong hội Tao Đàn; Ví dụ câu “Thiên túng đa năng ngộ thánh nhân”), đến nhiều cụm từ trùng lặp ở nhiều bài thơ của nhiều tác giả... Là một văn bản mới được chép gần đây, không kiêng húy triều đại nào cả. Tổng số thơ của họ Đỗ ở đây chỉ có 10 bài (xem bảng thống kê).
 
2. MLCT - VHv.94(7).
 
Bản này không có dấu của BeFeO, là sách sưu tầm được trước đây. Bản này có kiêng húy triều Nguyễn [thời = thần, Hoa, Tông, Nhậm viết bớt nét]. Có lẽ nó được sao chép lại từ một văn bản ở thế kỷ trước triều Nguyễn. Bản này có chép 12 bài thơ của Đỗ Nhuận (trừ bài số 13).
 
3. MLCT - VHv. 127(8).
 
Bản này đã tuyển chép 3 bài thơ của họ Đỗ, văn bản tương đối tin cậy, song lại chép xen kẽ nhiều bài văn thơ khác ngoài phạm vi xướng họa như: Giới tửu thi, Giới sắc thi, một số văn bia... Văn bản kiêng húy tên Tự Đức (Thời = Thần), có lối chữ đá thảo. Cuối văn bản có ghi rõ: “Thái Hòa thập nhất niên, Quý Dậu hạ, Hàn lâm viện Trực học sĩ Trình Văn Huy phụng soạn”. (Đó là năm 1453 Dương lịch, đời Lê Nhân Tông - Bang Cơ). Vậy là bản này đã sao chép lại từ một văn bản có từ năm 1453, gồm thơ Tao Đàn và một số thơ văn khác nữa ở triều đại sau Tao Đàn, có thể là của triều đại của chính người chép.
 
4. MLCT - VHv 826(9).
 
Văn bản này có chép 10 bài thơ của Đỗ Nhuận. Đây là một văn bản có giấy bản khá mới, chỉ mới được chép vài chục năm lại đây thôi. Nội dung của nó có “xuất nhập” các văn bản trên, song đã chép sót và sai nhiều chỗ.
 
5. MLCT - A. 534(10) có dấu “EFEO” và dấu “1967”. Đây là loại văn bản do eFeO thuê chép từ nhiều văn bản khác nhau. Người chép chỉ chép có ba bài thơ của Đỗ Nhuận đã có trong văn bản VHv.127, sau đó ghép thêm cho họ Đỗ “Bài thơ thứ 13” (Phụng họa ngự chế Giao Thủy giang) nữa. Bài này chưa hề thấy xuất hiện ở bất kỳ một văn bản nào! Giọng thơ của bài này “ướt át”, lại lắm điển cố khác những bài thơ của họ Đỗ sáng tác, có lẽ không phải là thơ của Đỗ Nhuận.
 
6. Cúc đường bách vịnh thi tập - A. 1168 đã chép đủ 12 bài thơ chính của họ Đỗ, không có bài thơ thứ 13 (11).
 
Đây là một văn bản mới sưu tầm được. Nó gồm 2 phần: Phần I: Cúc đường bách vịnh thi tập; chép chân tả, đáng tin cậy hơn phần sau. Phần II: Nét chữ người khác, đá thảo, gồm MLCT và Quỳnh Uyển cửu ca. Phần này chép sai nhiều chỗ khi so với Toàn Việt thi lục (TVTL) và Hoàng Việt thi tuyển (HVTT).
 
Tóm lại, với 6 văn bản MLCT đã lược khảo ở trên, chúng tôi cũng tán thành cách nhìn của Lê Quý Đôn trước kia và Bùi Văn Nguyên, Bùi Duy Tân mới đây, cho rằng: MLCT đã bị chép lẫn một số thơ người khác vào, hoặc chép không chuẩn xác từng bài, nhất là đối với bài số 13, thơ họa thơ vua Lê của Đỗ Nhuận, mà chúng tôi cho là không đúng. Trong 6 văn bản MLCT kể trên, bản MLCT - VHv.94 đáng để chúng ta lưu ý hơn cả. Chúng tôi đã dựa vào hai tác phẩm lớn: TVTL và HVTT làm cơ sở để khảo sát thơ của Đỗ Nhuận nói riêng và thơ văn Hội Tao Đàn nói chung. Sau đây chúng tôi khảo cứu tiếp về hai tác phẩm đó, cùng với việc làm sáng tỏ 12 bài thơ chính của Đỗ Nhuận.
 
II. Về 12 bài thơ của Đỗ Nhuận với những văn bản còn lại.
 
1. Trước hết, Thiên Nam dư hạ tập, tập 7 (A.334/7): một văn bản có chép đủ 12 bài thơ chính của Đỗ Nhuận:
 
Sách có khổ to 32x22cm do BeFeO thuê chép sau này. Sách chép sai chữ khá nhiều, đăc biệt là những chữ Hán đồng âm dị nghĩa.
 
Tất cả 12 bài thơ họa thơ vua Lê của họ Đỗ ở đây đã bị chép sai nhiều chữ mà trong phần biên dịch và khảo dị từng bài chúng tôi đã chú thích kỹ. Đặc biệt có 4 bài thơ họa của Đỗ Nhuận (từ bài số 9 đến bài số 12) đã bộc lộ nhiều điều đáng “nghi vấn”, chúng tôi xin nói kỹ ở phần sau. Văn bản này nên dùng để tham khảo.
 
2. Cùng với xêri sách khổ to 32x22cm do BEFEO thuê chép nói trên, ngoài A.254 (MLCT) và TNDHT - A.334/7, chúng ta còn có bản Toàn Việt thi lục A.3200/2, Văn bản này cũng đã chép đủ 12 bài thơ họa của Đỗ Nhuận. Chúng tôi sẽ so sánh 12 bài đó với các văn bản còn lại mà chúng tôi tin tưởng hơn: đó là các văn bản Toàn Việt thi lục (TVTL) - A.1262/4 và Hoàng Việt thi tuyển (HVTT) - A.608.
 
3. Về văn bản TVTL - A.1262/4:
 
Đây là một văn bản cũ được sưu tầm từ triều Nguyễn. Nếu xét kỹ về chất giấy, chất mực, khổ sách, bìa, chữ viết và kiêng húy triều Nguyễn v.v..., thì bản này có trước bản TVTL - A.3200/2 ít nhất là nửa thế kỷ. Bốn bài thơ của Đỗ Nhuận được tuyển chép ở đây có độ chính xác hơn bốn bài đó ở văn bản cùng tên, mang ký hiệu A.3200/2. Bốn bài đó là: Phụng họa ngự chế: Anh tài tử, Tư gia tướng sĩ, Du lục vân động và Bách cốc phong đăng.
 
4. Bốn bài thơ của họ Đỗ đã xuất hiện trong TVTL - A.1262/4 kể trên cũng xuất hiện gần như nguyên vẹn trong Hoàng Việt thi tuyển - A.608, trong một tổng số 8 bài HVTT - A.608 này đã được Bùi Huy Bích biên soạn và khắc in năm 1825(12) cách ta 162 năm. Do vậy, tám bài thơ của Đỗ Nhuận họa thơ Lê Thánh Tông xuất hiện ở đây thật đáng tin. Đó là những bài: Phụng họa ngự chế: Anh tài tử, Tư gia tướng sĩ, Du lục vân động, Bách cốc phong đăng, Quân đạo, Thần tiết, Thư thảo hí thành, Mai hoa). Khi tiến hành biên dịch 8 bài thơ trên, chúng tôi đã chú ý chọn bản A.608 này làm bản nền, trong số 10 bản mà chúng tôi đã có trong tay.
 
Xét một mặt khác, tám bài thơ của họ Đỗ được ghi nhận trong bản in HVTT - A.608 này đã thể hiện thống nhất một văn phong của Đỗ Nhuận: ý thanh thoát mà sâu sắc, ít điển cố; câu thơ giàu hình tượng, chữ dùng giản dị chân thực...
 
Bảy bài còn lại của Đỗ Nhuận đã được chép trong văn bản in - A.608 này cũng thống nhất một văn phong như vậy. Không nghi ngờ gì nữa: Tám bài đó chắc chắn là thơ của họ Đỗ.
 
Vậy thì một vấn đề được đặt ra: 4 bài thơ còn lại kia là như thế nào, và của ai ? Bốn bài đó là những bài số: 9, 10, 11 và 12 (trong bảng thống kê 13 bài trên kia). Nó đã được chép trong các văn bản A.3200/2, A.334/7, A.1413 (thiếu 2 bài), VHv.94, VHv.826 (thiếu 2 bài) và A.1168.
 
“Của ai” thì chúng tôi chưa đủ cứ liệu để kết luận. Còn “như thế nào”, thì 4 bài thơ sau cùng đó đã thể hiện một văn phong khác lạ với 8 bài trên, trong bản in A.608. Bốn bài đó (Giao tưởng anh hiền, Kỳ khí, Văn nhân, Pháp cung ngẫu thành) dùng nhiều điển cố, trúc trắc khó hiểu. Ví như bài “Phụng họa Pháp cung ngẫu thành” sau đây:
 
“Hách hách Ân Thương điếu phạt danh,
Nguy nguy thịnh trị ngưỡng Chu thành.
Bái Trung ân vận tư Tam Kiệt;
Cảo Thượng cư an cật Ngũ nhung.
Long hổ phong vân trường hội họp;
Sơn hà đới lệ biểu tôn vinh.
Hoàng hoàng đế hậu ưng đa phúc, 
Vạn cổ thiên nam hưởng thái bình!”
 
Dịch nghĩa:
 
Kính họa bài thơ Pháp cung của Đức vua.
 
Cuộc điếu phạt của vua Thành Thang nhà Thương rất hiển hách - Đời thịnh trị Thành vương nhà Chu cao vòi vọi - [Bái công] gặp vận lớn Chốn Bái Trung là nhờ ba vị hào kiệt - Khi đã an cư ở đất Cảo Thượng vẫn phải luyện rèn kiếm kích - Như rồng gặp mây, hổ gặp gió, sẽ tụ hội mãi mãi - Lời thề sông cạn núi mòn tỏ rõ sự tôn quí vẻ vang. Nhà vua nhận được nhiều phúc rức rỡ - Mãi mãi trời Nam được hưởng thái bình.
 
Một bài thơ có 56 chữ mà đã phải chú thích gần 10 điển cố (nào là: Pháp cung, Bái công, Tam kiệt, Cảo Thượng, Ngũ nhung, phong vân, long hổ, lời thề “sơn hà đới lệ” v.v... ý thơ cũng lại đã lặp lại thơ xưa.
 
So với 8 bài thơ trước (từ bài số 1 đến bài số 8) thì bốn bài còn lại mỗi bài có ít nhất từ bốn , năm điển cố trở lên; ý thơ lại khô khan, thiếu bình dị... như thế cả. Cũng có thể là họ Đỗ cầm bút không đều tay, cảm hứng bài này có khác bài kia là lẽ thường tình, song chúng tôi vẫn đặt vấn đề nghi vấn về 4 bài thơ sau (bài số 9 đến bài số 12) xem có thực là của Đỗ Nhuận hay không, để các bạn cùng suy ngẫm; tất nhiên là loại trừ cả bài số 13, một bài chỉ nên đưa vào phần “phụ lục” khi biên soạn thơ Đỗ Nhuận ! Bởi lẽ, chúng tôi quan niệm rằng: người càng thông tuệ tài năng đức độ, thì văn thơ của họ càng giản dị trong sáng, ít chữ nhiều ý, đượm đà tình đời, chải chuốt và sáng tạo!
 
Việc chép lẫn lộn thơ của nhiều người khác cùng thời và sau thời vua Lê Thánh Tông, khi họ hoạ thơ nhà vua - Chánh nguyên súy Tao Đàn - này, mà người chép cách người sáng tác từ 200 đến 500 năm, thì sự chép lẫn lộn ấy, là lẽ thường tình của sách cổ Hán Nôm Việt Nam ta.
 
Trên đây, là biện chân ngụy trong tổng số 13 bài thơ của họ Đỗ trong 10 văn bản mà chúng tôi đã có được, để đi tới kết luận: chắc chắn nhất chỉ có 8 bài là của Đỗ Nhuận thôi, và văn bản đáng tin cậy nhất là bản in HVTT - A.608. Sau đây là phần biện chân ngụy từng câu, chữ của từng bài thơ.
 
III. Giám định câu, chữ trong 12 bài thơ của Đỗ Nhuận (trừ bài số 13, chỉ có 1 bản chép nên không cần “khảo dị”).
 
Về mặt này, thì ở bài nào ta cũng đã gặp phải những “hạt sạn”, gặp phải nhiều chỗ phải bàn. ở đây chỉ xin nêu vài lệ chứng:
 
Trong bài “Phụng họa ngự chế Lục Vân Động”, bản A.602, câu 2, ba chữ “nhãn giới khoan” sẽ đúng hơn là “cảnh giới khoan” ở bản A.3200/2 và một số bản khác; bởi lẽ: câu tiếp theo là “Cảnh hữu thanh phong”. Một cây đại bút như Đỗ Nhuận không bao giờ lại dùng hai chữ “cảnh” liền nhau thế trong một bài Đường luật!
 
Ở bài số 4 “Bách cốc phong đăng”, ngay câu đầu: “Thiên điền hiệp triệu thánh kim năng” được chép trong hai văn bản A.608 và 1262 là đúng hơn trong văn bản A.3200/2 (và một số bản khác) đã chép là “Thiên điền thôn triệu thánh kim năng”, bởi lẽ chữ “thôn” thì rất vô nghĩa, khi câu tiếp là “Trường phố gia hòa tuế lũ đăng”. Cả hai câu có nghĩa là: “Trời và đất hợp sức cùng với ơn vua mới được mùa. Vườn ruộng xanh tốt nhiều năm bội thu”.
 
Tiếp theo, ở bài số 5: “Phụng họa ngự chế quân đạo”, thì trong câu thứ 3, bản A.608 đã ghi: “Giá bảo vĩnh hoài vô dật huấn”. Chữ “huấn” đúng chỗ hơn là chữ “gián” trong bản A3200/2 (và một số bản khác). Và câu thơ trên có nghĩa là “Vun trồng cái quý giá (đại Đạo), luôn nhớ lời dạy chớ nhàn rỗi!”.
 
Ở bài số 6 “Phụng họa ngự chế. Thần tiết”, hai câu thực ở bản A.608 đã ghi: “Duy ốc mưu mô tam thốn thiệt, Gia đình thanh bạch tứ tri câm (kim)”. “Đem ba tấc lưỡi bàn mưu mô trong trướng gấm - gia đình thanh bạch không nhận bạc vàng đút lót”. Còn bản A3200/2 thì ngay hai chữ mở đầu của hai câu đã ghi khác: “Duy vận” và “gia truyền”. Chúng tôi cho rằng ở câu trên “Duy ốc” mới đối với “gia đình” ở câu dưới. Hơn nữa, đã “vận” rồi, thì không một vị túc nho nào lại dùng “mưu mô” nữa...
 
Tóm lại, qua 10 văn bản chép thơ Đỗ Nhuận, trong đó có 6 văn bản MLCT, 1 bản HVTT, 1 bản TNDHT, chúng tôi có thể nhận thấy văn bản MLVT - VHv.94 là đáng để chúng ta lưu ý. Còn những bản do EFeO thuê chép sau này, kể cả bản TVTL - 3200/2 là ít gần nguyên tác nhất. Đáng tin nhất là bản in ở triều Nguyễn 1825, bản HVTT - A.608 (có 8 bài thơ họ Đỗ); thứ đến là bản viết thảo TVTL - A.1262/4 (có 4 bài thơ họ Đỗ).
 
Đỗ Nhuận có 8 bài thơ họa thơ vua Lê Thánh Tông là đáng tin nhất. Bốn bài thơ kia (bài số 9 đến bài số 11) là đã để cho ta phải nghi vấn. Còn bài số 13 chỉ thấy ở một văn bản MLCT - A.254 chép, nên nó đáng để chúng ta tham khảo thôi.
 
Với tầm nhìn có hạn của mình, chúng tôi đã thử đi tìm những điều hợp lý trong toàn bộ 13 bài thơ mà các văn bản đã chép là của Đỗ Nhuận. Chúng tôi cũng tự biết rằng: đây chỉ là sự thể nghiệm bước đầu; và “thời gian sẽ còn ủng hộ chúng ta” - những người quan tâm đến cổ thi văn Hán Việt.
 
 
BẢN THỐNG KÊ 13 BÀI THƠ CỦA ĐỖ NHUẬN TRONG 10 VĂN BẢN
1
TÊN BÀI THƠ 1
A32002
2
A334
3
A.608
4
A12624
5
A1413
6
VHv. 94
7
VHv. 127
8
VHv. 826
9
A. 254
10
A. 1163
Bị chú Số văn bản chép từng bài thơ
1. Phụng họa ngự chế Anh tài tử + + + + + + + + + + 10 bản chép
2. Phụng họa ngự chế Tư  gia tướng sĩ + + + + + + + 1 + + 9 bản chép
3. Phụng họa ngự chế Du Lục Vân động + + + + + + + + + + 10 bản chép
4. Phụng họa ngự chế Bách cốc phong đăng + + + + 1 + 1 + 1 + 7 bản chép
5. Phụng họa ngự chế Quân đạo + + + 1 + + 1 + 1 + 7 bản chép
6. Phụng họa ngự chế Thần tiết + + + 1 + + 1 1 1 + 6 bản chép
7. Phụng họa ngự chế Thư thảo hí thành + + + 1 1 + 1 + 1 + 6 bản chép
8. Phụng họa ngự chế Mai hoa + + + 1 + + 1 + 1 + 7 bản chép
9. Phụng họa ngự chế Giao tưởng anh hiền + + 1 1 + + 1 + 1 + 6 bản chép
10. Phụng họa ngự chế Kỳ khí + + 1 1 + + 1 + 1 + 6 bản chép
11. Phụng họa ngự chế Văn nhân + + 1 1 + + 1 + 1 + 6 bản chép
12. Phụng họa ngự chế Pháp cung ngẫu thành + + 1 1 + + 1 + 1 + 6 bản chép
13. Phụng họa ngự chế Trú Giao thủy Giang 1 1 1 1 1 1 1 1 + 1 1 bản chép
 

Nguyễn Tuấn Lương
 
-----------------------------------------------

Chú thích:
 
(1) Nay không còn lưu lại.
 
(2) Toàn Việt thi lục - A.3200; Toàn Việt thi lục A.1242; Thiên Nam dư hạ tậ p - A.334; Hoàng Việt thi tuyển. A.608; Minh Lương cẩm tú A.1413, VHv.94, VHv.127, VHv.826, A.254 và Cúc Đường bách vịnh (có phụ chép Minh Lương cẩm tú) - A.1168.
 
(3) Theo Đại Việt thông sử, Nxb. KHXH, 1978, tr.108 và Lịch triều hiến chương loại chí, Sài Gòn, 1974, t.9, tr.105.
 
(4) Nxb. Giáo dục, H. 1971, tr.174.
 
(5) Trong Từ điển văn học, Nxb. KHXH, H. 1983.
 
(6) Khổ sách 17x25cm, giấy bản cuối triều Nguyễn.
 
(7) Khổ sách 17x25 cm, giấy mực cũ hơn A.1413, bìa phết cậy, gáy bôi mực đỏ.
 
(8) Khổ sách 17x25cm, giấy “Long Cương” của triều Nguyễn.
 
(9) Có khổ giấy 17x25 cm.
 
(10) Có khổ giấy 22x32cm, bìa giấy Tây, giấy bản vàng dày, chép chính tả, do eFeO thuê chép sau này. Loại văn bản có khổ trên trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm đều như thế cả.
 
(11) Có khổ 17x25cm, giấy bản triều Nguyễn, bìa phết sơn nâu, mép bôi mực nâu tươi.
 
(12) Trang 3 HVTT - A.608 ghi: “Hoàng triều Minh mệnh vạn niên chi lục niên tuế ất Dậu, nhị nguyệt, cốc nhật, Sơn Nam trấn, Đốc học Tập trung bá, Nguyễn Tập tự”.
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc