Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

VỀ BẢN DỊCH VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ CỦA TRẦN VĂN GIÁP

SUNday - 27/04/2014 20:47
Trần Văn Giáp (1902-1973)

Trần Văn Giáp (1902-1973)

Cho đến nay, đã có mấy bản dịch Vân đài loại ngữ được công bố(1), trong đó, bản dịch của Trần Văn Giáp được lưu hành phổ biến hơn cả. Gần 30 năm nay, bản dịch này đã có đóng góp lớn trong việc truyền đạt những giá trị nhiều mặt trong tác phẩm ưu tú của Lê Quý Đôn. Tuy nhiên, để bản dịch được hoàn thiện hơn, cũng cần duyệt xét lại từ các mặt giám định văn bản và dịch thuật của nó. Thời gian gần đây, ở nước ngoài đã có người nghiên cứu Vân đài loại ngữ, khảo sát lại bản dịch của Trần Văn Giáp và đã phát hiện một số vấn đề có ý nghĩa khoa học(2). Bài viết này nêu một số vấn đề tồn tại của bản dịch, nhằm kịp thời đính chính một số chỗ dịch chưa ổn, góp phần chỉnh lý bộ sách quí này.
Cần lưu ý là, hiện nay, theo chúng tôi được biết, có tới 9 bản Vân Đài loại ngữ(3). Trong khi đó dịch tác phẩm này, nhà thư tịch học Trần Văn Giáp chỉ có 1 bản trong tay và mượn thêm được 1 bản. Mặt khác, vì thời gian eo hẹp, dịch giả thừa nhận rằng mình chỉ có thể "hiệu thù qua loa"(4). Từ đó có thể thấy rằng: Bên cạnh thành công lớn, bản dịch không thể tồn tại những sai lầm, thiếu sót ở mức độ khác nhau. Dưới đây chúng tôi xin nêu thành 5 điểm để xem xét:
1, Về niên đại, triều đại: Đây có thể là do đọc nhầm những tiếng có âm na ná giống nhau như âm "quảng" đọc thành "quang", bỏ dấu hỏi, không bám sát bản chứ Hán: "Chu Thái Tổ Quảng Thuận nhị niên" (mục IV điều 96), rồi chú năm Dương lịch theo năm Quang Thuận đời Lê Thánh Tông (khoảng năm 1461-1462). Người dịch đã đem đời Chu Thái Tổ khoảng năm 952, cuối đời Ngũ đại thập quốc, sát đời Tống ở Trung Quốc đặt vào thời Lê Thánh Tông ở Việt Nam, một giai đoạn tương đương với nhà Minh ở Trung Quốc.
Đây có thể còn do nhìn nhầm những chữ có nét bút gần giống nhau, tên họ người trở thành tên triều đại, như: Ở bản Hán ghi "Tống Bạch - Thái Kham" (mục II, điều 19), người dịch nhìn nhầm chữ "Thái" ra chữ "Quì" nên đã đưa hai người là Tống Bạch và Thái Kham thành một người là Bạch Quí Kham đời Tống.
Cũng có thể do chưa chú ý đến văn cảnh, như câu: "Lưu Định chi tạp chí" (mục II điều 17), người dịch viết: "Tạp thuyết của Lưu Định Chi nhà Hán". Đoạn dưới còn ghi chuyện: Hà Thừa Thiên nước Tống cùng với Trái Tạng pháp sư tranh luận, việc này được tạp chí của Lưu Định Chi thuật lại. Chả lẽ Lưu Định Chi đời Hán xa xôi lại biết mà ghi cả việc tranh luận của đời Tống về sau hay sao? Có tra Trung Quốc Nhân danh đại từ điển(5) mới biết: Lưu Định Chi là người đời Minh sau đời Tống và đời Nguyên.
2, Về nhân danh: Sai sót do ấn tượng về tên người mà sinh ra, như khi nói tới các nhân vật Trung Quốc thấy ai thuộc họ Vương An thì quen cho là Vương An Thạch. Hơn nữa ở bản chữ Hán cũng có chỗ sao chép sai là: "Vương An Thạch tự chấp chính xuất Từ Châu". Ấn tượng đó làm người dịch càng tin rằng bản chữ Hán chép đúng. Thực ra Vương An Thạch là Tể tướng đời Tống Thần Tông, phần lớn thời gian là ở Biện Kinh, Kinh đô nhà Bắc Tống, ít khi ra làm quan ở địa phương như Từ Châu. Theo Nhân danh đại từ điển, người "chấp chính xuất Từ Châu" đây là Vương An Lễ.
Có khi do diễn đạt và sử dụng từ chưa chính xác nên đã đem tên của người sáng tác ra văn bản này cắm vào văn bản của người khác. Như câu: "Chử Uyên bi" đã dịch là "văn bia của Chử Uyên". Thực ra nên dịch là "Văn bia viết về Chử Uyên" (do Vương Kiện soạn) (mục VII điều 66).
Có khi do người dịch không nhìn kỹ chữ trong văn cảnh nên nhầm tên người Trung 中 là danh từ riêng ra động từ "trúng" là đỗ, danh từ họ Dư 余 thành đại từ "ta", như ở mục IV điều 76 vốn là: "Năm Hy Ninh (1068-1078) ông Dư Trung 余 中 đỗ Trạng nguyên", người dịch lại dịch là: "Ta đỗ Trạng nguyên năm Hy Ninh".
Còn có những sai sót nữa do in sai tên người như Ban Cố thành Bàn Cổ (ở chú mục II điều 2), Trình Mạc thành Trình Mịch (ở mục VI điều 16), hay do dịch nhầm âm: Trịnh Dư Khánh thành Trịnh Dư Khương (ở mục VI điều 97); do nét chữ chỉ thêm bớt gần giống nhau mà dễ dịch nhầm: Tấn Vệ phu nhân thành Tấn Vệ đại phu (ở mục VI điều 98), do hiểu lầm chữ như: chữ "tăng" là nhà sư thành họ "Tăng": Nhà sư tên là Liễu Nhiên thành ông Tăng Liễu Nhiên (mục I điều 38).
3, Về địa danh: Do chưa xét rõ lịch sử địa danh Việt Nam nước ta trong mối tương quan với lịch sử địa danh Trung Quốc, dẫn tới "râu ông nọ cắm cằm bà kia". Chẳng hạn: Nói về vải ở Mân Quảng, bản chữ Hán, mục IX điều 112 ghi: "Tự Nhật Nam Man chức vi bổ", người dịch cứ theo đó mà dịch là: "Người Mân ở Nhật Nam dệt vải", không xét rõ chữ nhật 日 là do chữ hải 海 viết nhầm mà thành. Hải Nam cũng như Mân Quảng, thuộc địa phận Trung Quốc, chứ không thể là Nhật Nam trong khu vực các tỉnh miền Trung nước ta.
Ở mục IX điều 118, do không xem kỹ văn cảnh cả đoạn và sự liên quan với câu dưới nên người dịch cho rằng: "Ai Lao" là nước Lào. Thực ra "Ai Lao" ở trong câu này chính là một bộ lạc ở Vân Nam, Trung Quốc. Vì ở điều 119 sát dưới có ghi: Cuối đời Hán Quang Vũ, nước Lào nội thuộc nhà Hán, nhà Hán mới đặt ra quận Vĩnh Xương để cai trị. Nước Lào phía Tây giáp Đại Tần, phía Nam thông với Giao Chỉ. Giao Chỉ là nước ta. Vì thế, nó không thể là nước Lào ngày nay. Có khi lầm lẫn địa danh phiên âm như: Ở mục II điều 52 nguyên bản ghi là Bôn lãng đà(phiên âm tên địa danh: Phan Rang từ Panduranga đất mới khai thác từ đời các chúa Nguyễn), người dịch dịch là: Kéo thẳng sang Lãng Đà.
Có khi lầm địa danh là danh từ riêng thành danh từ chung: Ở mục I điều 41 đáng lẽ dịch là: Xem bói ở chợ Thành Đô, dịch giả lại dịch: Xem bói ở chợ Đô thị. Thực ra đây chính là Thành đô, thủ phủ ở miền Tứ xuyên thuộc phía Nam Trung Quốc.
4, Về tên sách:
Sơ suất này một phần là do chưa tra cứu đầy đủ thư tịch cũ hoặc do lầm lẫn về nét chữ tạo nên.
Chẳng hạn: Ở mục VII, điều 50 có ghi: "Tô lâm ký viết". Người dịch cho ba chữ "Tô lâm ký" là tên sách. Thực ra tên sách chỉ gồm hai chữ "Tô lâm", còn "ký" là "ghi": "Sách Tô lâm ghi rằng".
Ngược lại, ở mục I điều 39, đáng lí phải dịch là: "sách Giáp ất thặng ngôn", người dịch lại dịch là: "Sách Giáp ất thặng nói rằng"...
Có khi hiểu sai âm chữ, dẫn đến hiểu sai nghĩa chữ và dịch sai tên sách, như ở mục II điều 16: Chữ "duyệt", một bộ phận của tên sách lại đọc là "thuyết" Nam cung duyệt dịch là "Sách Nam cung... nói". Các trường hợp sai tên sách còn nhiều như:
Ở mục VI, điều 49 Duẩn phả dịch sai là Đản ký.
Ở mục VI, điều 57 Thuyết văn dịch sai là Lại có thuyết.
Ở mục VI, điều 64 Hoa nghiêm âm dịch sai là Hoa nghiêm biểu.
Ở mục VI, điều 65 Tây khê tùng ngữ dịch sai là Tây khê toát ngữ.
Ở mục I điều 33 Tiếu đạo luận dịch sai là Thiên đạo luận.
Còn dịch sót tên sách, ở bản dịch cũng không ít như:
Ở mục VI, điều 23 Tiềm xác cư loại thư, chỉ dịch Tiềm xác thư.
Ở mục VI, điều 27 Thông giám kỷ chỉ dịch Thông giám.
Ở mục VI, điều 39 Đông quan tấu ký chỉ dịch Đông quan ký.
Ở mục VI, điều 40 Hán thư Ngoại thích truyện chỉ dịch Hán Ngoại thích truyện.
Ở mục VI, điều 48 Nhan thị gia huấn dịch là Gia huấn.
Ở mục VI, điều 58 Khang Hi tự điển dịch là Tự điển.
Ở mục VII, điều 9 Dịch thông quái nghiệm dịch là Thông quái nghiệm.
Ở mục VII, điều 48 Quảng bác vật chí dịch là Bác vật chí.
Bản dịch còn có những trường hợp gộp lại hoặc tách ra những tên sách, không đúng, như: Ở mục VII điều 32 ghi: Thuyết uyển Tân tự,người dịch cho cả bốn chữ đó là một tên sách. Thực ra: Thuyết uyển vàTân tự là hai sách khác nhau. Ngược lại: Ở mục VII điều 35 ghi: Hàn thi ngoại truyện là tên một sách, người dịch lại tách thành hai sách:Hàn thi và Ngoại truyện.
5, Về việc chú thích:
Đây là việc làm cần thiết để khỏi lẫn lộn. Ở mục IX, điều 161 bản chữ Hán ghi: "Tại Thái Bình lục thập tiên vị chi Đà lê kiếm" (ở Thái Bình có lúa 60 ngày gặt được gọi là Đà lê kiếm). Ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc có châu Thái Bình, ở Việt Nam cũng có tỉnh Thái Bình, người dịch không chú rõ Thái Bình này thuộc về Trung Quốc hay Việt Nam, nên làm cho người đọc phân vân.
Có khi trên đã chú rồi, nhưng dưới lại chú, như ở mục II, điều 15, cái tên sách: Thượng thư vĩ khảo linh diệu, đã chú là: "một thiên trongThượng thư vĩ do Trịnh Huyền chú giải". Ở đoạn văn khác bên dưới cũng thuộc điều 15 người dịch lại chú: " Linh diệu là tên vùng trời", không những trùng lặp, mà nội dung chú thích cũng không thống nhất với trên.
Điều cần thiết ở một bản dịch là phải có một lượng chú thích hợp lí. Ở mục "Âm tự" trong bộ bách khoa. Lê Quí Đôn cung cấp cho chúng ta hàng loạt tiếng địa phương xa xưa ở Nam Trung Quốc và Việt Nam. Vì bản dịch ít chú thích quá nên nội dung phần dịch đã xa xưa, càng xa lạ với người đọc. Độc giả Việt Nam nay ở xa Lê Quí Đôn mấy trăm năm thật khó mà hiểu nổi các thổ ngữ địa phương Trung Quốc ở các vùng heo hút kia, nếu người dịch không giải nghĩa. Đáng lưu ý là: Đối tượng đọc Vân đài loại ngữ không chỉ là các nhà Ngôn ngữ học, Âm vận học, Hán Nôm học, mà còn thuộc nhiều tầng lớp khác, nếu những thuật ngữ như "chắc đa phiên", "đồ hà phiên"... mà ở bản dịch không có chú thích, thì làm sao người đọc hiểu được.
Để chú thích, bản dịch đã dựa vào nhiều sách công cụ Trung Quốc. Song có những vấn đề mới, đặc biệt là những vấn đề của phương Tây, khi ấy người phát kiến mới về khoa học tự nhiên mà Lê Quí Đôn bước đầu có thể tiếp xúc, còn mới lại với Trung Quốc và Việt Nam, mà chỉ dựa vào loại sách công cụ của Trung Quốc thì chưa đủ. Cho nên người dịch ngoài Từ nguyên, Từ hải, Nhân danh đại tự điển, Bội văn vận phú, Uyên giám loại hàm, còn phải tìm hiểu Kiên biều tập, Lịch pháp tây truyền, Khôn dư đồ thuyết... nữa, nếu không sẽ khó tránh khỏi thiếu sót như: Ở mục II, điều 12 nói tới Nam Hoài Nhân và sách Khôn dư đồ thuyết có phần bàn về quả đất tròn rất ảnh hưởng tới Lê Quí Đôn nhưng người dịch lại bỏ, không chú ở dưới. Đó cũng là một thiếu sót cần bổ sung.

Đinh Công Vĩ
Lê Viêt Nga


CHÚ THÍCH
(1) Có thể kể: 1 - Bản của Trần Văn Giáp xuất bản ở Hà Nội năm 1962; 2 - Bản của Tạ Quang Phát xuất bản ở Sài Gòn năm 1972-1973; 3 - Bản của Phạm Vũ - Lê Hiển xuất bản ở Sài Gòn năm 1973.
(2) Xem: 1. Cahiers d'études Vietnamiennes No5, 1981-1982 (Extrait de la page 3-9), Introduction par Tạ Trọng Hiệp. 2.Tạ Ngọc Hiệp: Góp phần nghiên cứu Lê Quí Đôn, khảo đính văn bản Vân đài loại ngữ và các bản dịch. 1. Đọc chương Phẩm vật. Tập san KHXH, 1978, No5, tr.63-80, No 6, tr.39-54.
(3) Sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm; 9 bản đó là: A.1285; A.141; VHv.2431/1-3; VHv.1169/1-4; VHv.1807; VHv.1809; VHv.1809/1-2; A.1338 và VHv.1483.
(4) Thúc Ngọc Trần Văn Giáp, Vân đài loại ngữ tập 1, Lời nói đầu, tờ 5, dòng 16, Nxb. Văn hóa, H. 1962.
(5) Thương vụ ấn thư quán Thượng Hải xuất bản, in lần thứ 3, năm 1933.
Total notes of this article: 1 in 1 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc