Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

VỀ VĂN BẢN THƠ NGUYỄN ĐỀ

THUrsday - 22/01/2015 10:37
Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương
Khu di tích đại thi hào Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Khu di tích đại thi hào Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh

NGUYỄN ĐỀ, tên thật là Nễ, tự Nhất Quế, hiệu Quế Hiên, sau đổi là Đề, tự Tiến Phủ, hiệu Tỉnh Hiên, biệt hiệu Văn Thôn cư sĩ, sinh ngày 13 tháng 2 năm Tân Tỵ (19-3-1761) tại phường Bích Câu, Hà Nội. Ông vốn quê xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Nghệ Tĩnh). Cha là quận công Nguyễn Nghiễm (1707-1775), Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến chức Đại tư đồ, tước Xuân quận công. Mẹ là Trần Thị Tần (1740-1778), người Kinh Bắc (nay là Hà Bắc). Năm 7 tuổi ông được tập ấm là Hoằng Tín đại phu... tước Khuê Nhạc bá. Ông ham học, mấy lần đi thi đều đỗ. Năm 1786 ông được vời ra làm quan, giữ các chức Thị nội văn chức, coi việc giảng học; Phó tri Thị nội thư tả lại phiên; Thiêm thư khu mật viện sự. Năm 1789, sau khi Tây Sơn đại thắng quân Thanh, ông được vời ra giúp viện từ hàn, giữ chức Hàn lâm viện thị thư, sung làm Phó sứ trong đoàn sứ bộ đi Yên Kinh (Bắc Kinh) năm 1789. Đi sứ về, ông được thăng Đông các Đại học sĩ, gia thăng Thái sử thứ tả nghị lang, tước Nghi Thành hầu. Năm 1793, ông coi việc văn thư ở Cơ mật viện, năm 1794 được thăng chức Tả phụng nghị bộ Binh (chính tam phẩm), giữ chức Hiệp tán nhung vụ thành Quy Nhơn. Năm 1794 ông đi sứ lần thứ hai, trở về được thăng chức Tả đồng nghi trung thư sảnh... Sau được ban sắc ấn về trấn xứ Nghệ An. Ông mất ngày 11 tháng 7 năm ất Sửu (tức ngày 3-9-1805), thọ 45 tuổi(1).
Nguyễn Đề xuất thân trong một gia đình phong kiến quý tộc, dòng dõi quan lại. Cha ông là một trong những người đứng đầu các hàng quan triều Lê. Trong gia đình còn nhiều người đỗ đạt làm quan to như Nguyễn Khản, Nguyễn Ức, em ruột ông là Nguyễn Du (1765-1820), tác giả của Truyện Kiều nổi tiếng. Gia đình ông nhiều người làm quan, duy có Nguyễn Đề làm quan trong triều đại Tây Sơn, đảm nhận việc bang giao(2).
Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ giới thiệu về vấn đề văn bản tác phẩm thơ Nguyễn Đề.
Gia phả ghi lại rằng Nguyễn Đề còn để lại hai tác phẩm:
- Hoa trình tiêu khiển tiền hậu tập.
- Quế Hiên giáp ất tập (3)
Hiện nay chúng tôi mới tìm được 4 dị bản của tác phẩm đầu:
 
Tên sách Ký hiệu Nội tàng trữ Ghi chú
- Hoa trình tiêu khiển tập

- Hoa trình tiêu khiển hậu tập

- Hoa trình thi tập
- Hoa trình tiêu khiển hậu tập
A.1316

VHv.149

HN 360
số 308
Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Thư viện Viện Văn học
Nhà bảo tàng Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân-Nghệ Tĩnh
Viện TT KHXH microfilm số 1513



Viện TT KHXH microfilm số 2244
1  

 
Sau đây là những nét cơ bản về các dị bản trên.
1. Bản A.1361 Hoa trình tiêu khiển tập, hiện ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, khổ 32x26cm, 84 tờ, đóng bìa giấy tây mầu hồng, gáy quét sơn màu gạch, giấy bản trắng, chữ viết tay, dễ đọc, có đóng dấu của Trường Viễn đông Bác cổ, microfilm số 1513 (ngày 14-6-1963). Tổng số gồm 323 bài thơ của tác giả.
Sách chia làm hai phần:
Hoa trình tiêu khiển tập, từ tờ 1 đến tờ 29, gồm 115 bài thơ, tờ đầu chép bài tựa của người cháu là Nguyễn Vinh, viết tháng 2 năm Kỷ Tị (1799)(4).
Phần tiền tập sáng tác trong thời kỳ đi sứ lần thứ 1, khi ông bắt đầu ra làm quan cho Tây Sơn và được cử làm Phó sứ năm 1789-1790, lúc ông 35 tuổi(5).
Hoa trình tiêu khiển hậu tập: từ tờ 30 đến tờ 84 gồm 208 bài thơ, bài tựa khoảng 500 chữ của cháu là Nguyễn Đạm(6) viết vào mùa đông năm Cảnh Thịnh 4 (1797), đây là lời tựa riêng cho phần hậu tập. Trong lời tựa có đoạn “Những sáng tác về thắng cảnh trên đường đi và những bài thơ ứng chế tặng đáp được sao chép lại gọi là Hoa trình tiêu khiển hậu tập. Sau bài tựa, tờ đầu phần thơ ghi tên tác giả, tên những người phẩm bình(7).
Phần hậu tập sáng tác vào thời kỳ đi sứ lần thứ 2, khi đó ông được cử làm Chánh sứ sang chúc mừng vua Thanh làm lễ nhường ngôi năm 1795-1796(8). Ngoài thơ ông, còn có 9 bài thơ của những người khác xướng họa với ông.
2. Bản VHv.149 Hoa trình tiêu khiển hậu tập, hiện ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, khổ 21x13cm, gồm 64 tờ(9). Sách đóng bìa màu đen, giấy bản cũ, chữ viết thảo khó đọc. Sách gồm 184 bài thơ và 9 bài phụ chép.
Sách chép gần giống phần hậu tập bản A.1361, nhưng thứ tự có đảo lộn đôi chút và không đầy đủ bằng. So với bản A.1361 thì bản VHv.149 thiếu 28 bài, nhưng lại có thêm 4 bài mà bản A.1361 không có. Đặc biệt sách có chấm sơn đỏ và ghi lời bình bằng mực đỏ và đen ngay cạnh câu thơ(10).
3. Bản HN.360 Hoa trình thi tập, hiện có ở Thư viện Viện Văn học, sách đóng bìa màu đen, giấy kẻ học sinh mầu trắng. Trang đầu ghi tên sách Hoa trình thi tập, trang hai ghi Nguyễn Đề thi tập. Sách chia làm ba phần gồm 276 bài thơ.
Hoa trình tiêu khiển tiền tập, từ tờ 1 đến tờ 18 có một bài tựa của Nguyễn Vinh(11) và 62 bài thơ (60 bài từ số 1 đến số 60 giống phần tiền tập bản A.1361).
Hoa trình hậu tập, từ tờ 18 đến tờ 67, có một bài tựa của Nguyễn Đạm và 169 bài thơ.
Quế Hiên thi cảo, từ tờ 67 đến tờ 156, có 15 bài thơ (1 bài trường thiên 62 câu). Tập thơ này được sáng tác vào khoảng thời gian giữa hai lần đi sứ, khi ông làm quan cho Tây Sơn ở Phú Xuân (1790-1794).
4. Bảng 308, mang tên Hoa trình hậu tập, hiện ở nhà Bảo tàng lưu niệm Nguyễn Du, làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh(12). Sách có một bài tựa của Nguyễn Đạm ghi rõ năm đề tựa là Cảnh Hưng thứ 4 (1797), có 118 bài thơ. Sách gồm những bài thơ giống phần hậu tập bản A.1361 (từ bài 116 đên 223). So với bản VHv.149 thì bản 308 có 90 bài giống, nhưng thêm 28 bài mà bản VHv.149 không có.
Sau khi xem xét, so sánh số lượng thơ giữa các dị bản hiện có, ta thấy số thơ của Nguyễn Đề còn lại là:
- Hoa trình tiêu khiển tiền tập: 117 bài thơ.
- Hoa trình tiêu khiển hậu tập: 212 bài thơ.
- Quế Hiên thi cảo: 45 bài thơ.
Trên cơ sở phân tích các văn bản ở trên chúng tôi rút ra một số nhận định về tình hình văn bản thơ Nguyễn Đề như sau:
- Tất cả các văn bản còn lại đều không phải là thủ cảo của tác giả. Số lượng thơ ở các bản không giống nhau.
- Bản A. 1361 là bản có số bài thơ đầy đủ nhất (323 bài); so với các bản khác, phần tiền tập thiếu 2 bài, phần hậu tập thiếu 4 bài. Cách sắp xếp các bài thơ trong bản A.1361 hợp lý hơn bản VHv.149 về trình tự thời gian, không gian.
- Thứ tự sắp xếp các bài thơ phần hậu tập ở các bản HN.360 và 308 (ở Bảo tàng Nguyễn Du) tương tự bản A.1361, nhưng số lượng ít hơn.
Bản HN.360 có thêm phần Quế Hiên thi cảo mà các bản khác đều không có, phần này có thể được chép lại từ bản Quế Hiên Giáp Ất tậpmà gia phả đã nói đến.
Niên đại các bản khác nhau và được sao chép từ nhiều nguồn.
- Bản A. 1361 do Trường Viễn Đông bác cổ thuê chép lại có lẽ là dựa theo một bản có từ đời Tự Đức về sau vì tất cả các chữ “thời” đều được chép thành chữ “thần”(13).
- Bản VHv.149 gần với nguyên bản nhất và được sao chép khá trung thành. Sách không có bài tựa của Nguyễn Đạm viết vào mùa đông năm 1797 như các sách khác, có thể được chép từ bản có trước lúc Nguyễn Đạm viết tựa, khoảng 1796-1797. Sách có dấu chấm, dấu khuyên bằng mực đỏ, có lời bình bằng mực đen, mực đỏ viết ngay cạnh câu thơ, nhưng xét thấy phần chính văn và lời bình cùng một nét chữ. Trong vài bài thơ người bình có nghi ngờ về chữ nghĩa. Thí dụ: Bài Xuân dạ ngẫu ngâm ở tờ 56, câu thơ cuối cùng “Trung hạ liên khai sách mã thi” có đề thêm hai chữ “nghi tiên”, nghĩa là ngờ chữ “thi” là chữ “tiên”(14). Cuối sách này có phần thơ phú không phải của tác giả. Xem xét một số yếu tố trên, chúng tôi cho rằng bản này không phải là thủ cảo của tác giả, nhưng rất gần với nguyên bản.
- Bản HN.360 của Viện Văn học ghi rõ được sao chép vào tháng 7 năm 1960, nhưng cũng không ghi xuất xứ. Phần tiền tập có thêm 2 bài mà bản A.1361 không có, phần hậu tập, cuối bài tựa ghi rõ thời gian viết tựa là năm Cảnh Thịnh 4 (1797), các bản khác đều không có, phần Quế Hiên thi cảo là chép từ tập thơ riêng khác(15).
Như vậy bản gốc của hai tác phẩm thơ của Nguyễn Đề hiện nay không rõ còn hay mất, những bản hiện hành chỉ là những bản sao chép từ các nguồn khác nhau. So với các nhà văn đương thời như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích... thì Nguyễn Đề ít được các nhà nghiên cứu chú ý đến, những tư liệu lịch sử, tư liệu văn học viết về ông cũng rất ít. Song, như phần đầu bài viết đã nêu, Nguyễn Đề là một quan chức thời Tây Sơn, có đóng góp cho công tác bang giao của nhà Tây Sơn; trong gia đình, ông là người duy nhất tham gia công việc ngoại giao của triều đình, mặt khác toàn bộ thơ ông để lại đều là thơ sáng tác trong thời kỳ làm quan cho Tây Sơn. Thơ của ông bình dị dễ hiểu, những bài miêu tả cảnh vật thiên nhiên rất trong sáng, tuyệt đẹp(16). Có bài diễn tả tâm trạng tác giả trước mọi biến đổi thời cuộc(17), văn phong ông thể hiện tính cách hào hoa phóng khoáng đầy tự tin(18). Thơ ông còn thể hiện tình cảm quê hương thiết tha thấm thía(19) như tính cách con người ông sống chân thành, không hám công danh(20),...
Nguyễn Đề cùng toàn bộ tác phẩm của ông rất đáng được nghiên cứu cẩn thận, nhằm góp thêm hương sắc cho dòng văn học Tây Sơn mà hiện nay do tư liệu hạn chế, chúng ta biết được vẫn chưa nhiều.

Nguyễn Thị Phương
-------------------------------


Chú thích:
 
(1) Gia phả dòng họ này ghi là vì một chuyện rắc rối trong làng, ông đã bị Tri phủ Nguyễn Văn Chiểu bức bách, phẫn chí mà chết.
(2) Bài tựa của cháu ông là Nguyễn Vinh, đề năm Kỷ Tị (1799): “Sứ thần cũng ngang như Tể tướng, đời đời nhà ông đều làm tướng văn, tướng võ, còn ông lại đảm nhận việc đi sứ, há không phải là kiêm hết vinh hạnh ở cõi người sao?”
(3) Nguyễn tộc gia phả, ký hiệu VHv.149, tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(4) Bài tựa chép ở phần Tiền tập, nhưng nội dung lại nói về lần đi sứ thứ 2.
(5) Nguyễn tộc gia phả, sách đã dẫn.
(6) Nguyễn Đạm, con trai Nguyễn Điều, anh thứ hai cùng cha khác mẹ với Nguyễn Đề, người cháu cùng thi đỗ với ông.
(7) Tên những người phẩm bình:
- Canh đệ Tĩnh Trai Trương tuần phủ.
- Nghi đệ Học Đình Nhữ thao phủ.
- Thế Trai Dương Xuyên Trần Mật Trai.
Nhưng trong văn bản này lại không giữ lại một lời bình nào.
(8) Nguyễn tộc gia phả, sách đã dẫn.
(9) Từ tờ 54 đến tờ 64 chép một số bài phú chưa rõ của ai.
(10) Xem bài số 99 tờ 56b, bài 122 tờ 69a, bản VHv.149.
(11) Trong gia phả dòng họ Nguyễn Đề, không thấy ghi người cháu ruột nào là Nguyễn Vinh (Xem Hoan Châu Nghi Tiêu Nguyễn gia thế phả VHv.1852).
(12) Sách này chúng tôi đã xem được vào năm 1981, tai nhà Bảo tàng.
(13) Xem bản A.1361, tờ 1b.
(14) Xem bản VHv.149, tờ 56.
(15) Tập thơ này hiện nay không rõ ở đâu.
(16) Trong bài: Xuân dạ ngẫu ngâm người bình đã ghi “thiên nhiên diệu thi” (thơ thiên nhiên tuyệt diệu).
(17) Đọc câu:
Chuyển xoay máy tạo guồng vô định,
Tươi héo đời người lệ chẳng chung.
Việc cũ đau lòng trăng bến tỏ,
Kéo sương nào chốn viếng anh hùng.
(Ngô Linh Ngọc dịch)
trong Nguyệt Đức giang hữu cảm bài số 3, A.1361.
(18) Đọc câu:
Lòng ta trung tín khinh gian hiểm,
Tay áo xênh xang nhẹ khứ hoàn.
(Ngô Linh Ngọc dịch)
trong Quá Qủy Môn quan bài số 8, A.1361.
(19) Đọc câu:
Tình quê thao thức khôn nguôi lạnh
Một tiếng khèn kêu gió trúc ca
(Ngô Linh Ngọc dịch)
trong bài Tịch dương sơn hành túc cảnh, bài số 5, A.1361.
- Đọc câu: Sớm muộn xe về xong việc nước
Quê nhà sé rộn khúc hoàn ca
(Ngô Linh Ngọc dịch)
trong Hiểu phiếm nhị Hà, bài số 2, A.1361.
(20) Đọc câu:
Phú dư thính bỉ thương
Danh lợi hưu trì trục
Dịch nghĩa:
Phú cho thế nào ta nghe theo trời thế,
Đường danh lợi thôi đừng theo đuổi.
trong An phận ngâm, bài số 12 - Quế Hiên thi cảo, HN.360.
 
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc