Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

VẤN ĐỀ MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG THƠ CA CỔ VIỆT NAM

VẤN ĐỀ MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG THƠ CA CỔ VIỆT NAM

Miêu tả thiên nhiên trong thơ ca cổ Việt Nam là vấn đề cần nghiên cứu trong hệ thống thơ ca Hán Nôm. Hiện nay thơ ca cổ Việt Nam được nhiều người và nhiều ngành quan tâm. Bài viết cuối cùng của nhà thơ Xuân Diệu(1) với các nhà thơ trẻ càng làm cho nhiều người nhất là giới trẻ trong các trường đại học, cao đẳng và chuyên nghiệp xúc động. Đang có ý thức mới (theo yêu cầu cuối cùng của Xuân Diệu) là đi tìm cái đẹp, cái hay trong thơ ca cổ Việt Nam, từ đó bồi dưỡng khả năng thẩm mỹ mang tính chất dân tộc sâu sắc. Nhiều trường đại học, số lượng sinh viên đăng ký làm luận văn, khoá luận về văn thơ cổ Việt Nam với tỷ lệ chiếm 80%(2) . Qua quá trình nghỉên cứu thơ ca cổ Việt Nam, một trong những mắc mứu là bằng lý luận và thực tế tác phẩm, làm sao giải quyết những vấn đề cơ bản trong văn học viết Hán Nôm như từ nguyên, điển cố, xuất xứ… Một trong những vấn đề có tính thẩm mỹ cao, có sức hấp dẫn, có khả năng giải quyết những vấn đề cụ thể về xã hội học, khả năng thẩm mỹ, v. v… là miêu tả thiên nhiên trong thơ ca cổ Việt Nam.

Hành động “đắp đảo nhân tạo” của Trung Quốc ở các khu vực tranh chấp trên Biển Đông đe dọa các nước trong và ngoài khu vực

ĐẢO NHÂN TẠO TRUNG QUỐC XÂY TRÊN QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM - Ý KIẾN CÁC CHUYÊN GIA QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI

Chiến dịch biến các rạn san hô- tức các bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa/Nguyễn Ngọc Điệp

Hình minh họa

ĐÁ, THỢ KHẮC VÀ ĐẶC TRƯNG BIA THẾ KỶ XVI

Bia thế kỷ XVI gồm phần lớn bia mang niên hiệu nhà Mạc, số khác mang niên hiệu nhà Lê. Mỗi loại có đặc trưng riêng. Vấn đề được đặt ra ở đây là cái gì đã tạo nên những đặc trưng đó và đó là những đặc trưng như thế nào? Với bài viết này, chúng tôi bước đầu lý giải vấn đề trên từ cạnh khía “kỹ thuật”: đá và thợ khắc bia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với mùa Xuân xây dựng Đảng CSVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh với mùa Xuân xây dựng Đảng CSVN

Mùa Xuân năm 1930, Đảng ra đời, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối, tổ chức và giai cấp lãnh đạo cách mạng.

Mỗ (Hán tự)

TÌM HIỂU NGHĨA CỦA TỪ "MỖ"

Bài viết của Nguyễn Tá Nhí

ĐI TÌM GỐC GÁC LÝ TOÉT, XÃ XỆ

ĐI TÌM GỐC GÁC LÝ TOÉT, XÃ XỆ

Đi tìm gốc gác Lý Toét, Xã Xệ/Phạm Thảo Nguyên

MỘT GIẢ THUYẾT VỀ TỪ NGUYÊN CỦA TỪ "NÔM"

MỘT GIẢ THUYẾT VỀ TỪ NGUYÊN CỦA TỪ "NÔM"

“NÔM” là gì? Từ trước đến nay có những cách giải thích khác nhau. Cách hiểu phổ biến nhất là: “Nôm” bắt nguồn từ “Nam”. Về âm, Nam chuyển sang Nôm là điều thường gặp. Ta có Nam chuyển thành Nôm trong gió Nam chuyển thành gió Nồm. Về nghĩa, Nam đối lập với Bắc. Bắc là phương Bắc - chỉ Trung Quốc. Nam là phương Nam - chỉ Việt Nam. Và do đó chữ Nôm là chữ của phương Nam - của Việt Nam, đối lập với chữ Hán của phương Bắc - của Trung Quốc. Một cách giải thích khác: Nôm là nôm na, mộc mạc, xuề xòa, dễ dãi không câu nệ, thô thiển, không nhất quán, không cố định, tùy tiện. Nôm chính là cái tên được định danh theo đặc điểm tính chất của loại văn tự này.

Ngô Linh Ngọc (1922 - 2004)

CÁI "THẦN" VÀ CÁI "NHÃ" TRONG VẤN ĐỀ DỊCH THƠ CHỮ HÁN

VNXĐ - Ngô Linh Ngọc sinh trưởng trong một gia đình Nho học, và ông lại tự trang bị cho mình một vốn liếng Pháp văn dày dặn, khiến ông trở thành một người có hiểu biết cả Đông - Tây - Kim - Cổ. Ông cũng từng làm báo Tổ Quốc (của Đảng Xã hội). Ngô Linh Ngọc là một người rất am hiểu cổ văn, và đặc biệt yêu thích thơ Đường. Những Tương tiến tửu, Trường hận ca..nổi tiếng trong thi ca cổ điển Trung Hoa, đã được ông chuyển ngữ với tất cả tinh thần nguyên tác, bằng ngôn ngữ Việt uyển chuyển, lịch lãm và thuần Việt. Nhiều bài ông dịch đến nay chưa có ai vượt được. Xin giới thiệu bài viết này của ông.

Khu di tích đại thi hào Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh

VỀ VĂN BẢN THƠ NGUYỄN ĐỀ

Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương

Bia Văn Miếu Hà Nội

VẤN ĐỀ VĂN BẢN TRONG THƠ ĐỖ NHUẬN

ĐỖ NHUẬN sinh năm 1446, năm mất chưa rõ. Ông là người làng Kim Hoa, huyện Kim Hoa, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, Hà Nội). Ông đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất, triều Lê Quang Thuận thứ 7 (1466). Sau thăng Lại Bộ Thượng thư, Tao đàn phó nguyên súy kiêm Hàn lâm Đông các Đại học sĩ, hội viên trong Hội Tao đàn của Lê Thánh Tông. Mùa thu năm Mậu Tí (1468), vua Lê Thánh Tông viễn du Lam Kinh, ông cùng với Quách Đình Bảo đi hộ giá, đã vâng mệnh vua họa thơ trong tập Hiếu tự anh hoa thi tập(1). Mùa Đông năm Quý Mão (1483) ông cùng Thân Nhân Trung soạn Thiên Nam dư hạ tập, dưới sự chỉ đạo của vua Lê Thánh Tông. Mùa Thu năm Giáp Thìn (1484), khi triều đình dựng bia Tiến sĩ, ông cùng Thân Nhân Trung vâng mệnh soạn bài ký. Ông đã cùng Thân Nhân Trung bình luận thơ văn của vua quan trong triều Lê Thánh Tông... Khuôn khổ bài viết nhỏ này chỉ bàn đến: Vấn đề văn bản trong thơ Đỗ Nhuận.

KHẢO SÁT THÊM VỀ ỨC TRAI DI TẬP

KHẢO SÁT THÊM VỀ ỨC TRAI DI TẬP

Ngày nay khi đề cập đến văn bản thơ Nguyễn Trãi, chúng ta không thể không nhắc tới bộ Ức Trai di tập (1). Đây là bộ sách được biên tập vào thế kỷ thứ XIX, nội dung thu thập một số lượng tư liệu khá phong phú, nhờ đó trở thành văn bản quan trọng nhất lưu truyền cho đời sau nhiều trước tác thuộc các lĩnh vực của Nguyễn Trãi. Đáng quí nữa là sách đã được khắc in, nhờ đó càng làm tăng thêm độ tin cậy của văn bản. Nhưng bên cạnh bản in và vài bản sao in lại nguyên bản in này, hiện cũng còn nhiều bản chép tay khác cũng liên quan đến sách ƯTDT. Mặt khác hầu hết những bản chép tay này đều tỏ ra tàn khuyết, thiếu hoàn chỉnh, đồng thời không thể tránh khỏi lỗi về sao chép thông thường, nhưng mặt khác trong chúng lại có chứa nhiều điểm khác biệt cả về hình thức lẫn nội dung so với bản in, khiến ta phải nhìn nhận chúng với tư cách là những dị bản (chứ không phải bản sao đơn thuần). Cá biệt còn có những dấu hiệu cho thấy niên đại sao chép của chúng còn lớn hơn bản in nhiều năm. Biên tập, chỉnh lý sách ƯTDT là một quá trình kéo dài hàng mấy chục năm, kể từ khi thu thập tài liệu cho đến lúc khắc ván in. Muốn đi sâu tìm hiểu về quá trình đó cần phải xem xét một cách toàn diện tất cả các văn bản hiện còn.

Tiến sĩ Hoàng Văn Lâu (1940 - 2005)

BỘ SƯU TẬP VĂN CHƯƠNG HÀN CÁC TÙNG ĐÀM

HÀN CÁC TÙNG ĐÀM là một sưu tập văn xuôi, hiện lưu giữ tại kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.768, 1 - 2. Sách gồm 2 tập (tập I, 152 tờ; tập II 161 tờ) khổ 29x20cm, mỗi tờ viết 2 trang, mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng 20 chữ. Sách do Trường Viễn đông Bác cổ Pháp thuê chép lại khoảng nửa đầu thế kỷ này.

Bi Đình với tấm bia bằng đá Thanh nặng 20 tấn có khắc bài "Khiêm Cung Ký" do vua Tự Đức soạn thảo

TỰ ĐỨC KHIÊM CUNG KÝ VÀ LỊCH SỬ

Có thể nói "Khiêm cung ký" là một bài văn bia đặc biệt trong số văn bia các vua nhà Nguyễn, vì đây là “lời tâm sự” của một ông vua, mục đích là cố tình thanh minh cho những việc làm của mình đã từng bị thiên hạ lên án.

Bia tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, do Thân Nhân Trung soạn lời văn.

THÂN NHÂN TRUNG - CON NGƯỜI VÀ TÁC PHẨM

THÂN NHÂN TRUNG, tự là Hậu Phủ, người Yên Ninh (tục gọi là làng Nếch), xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên (nay là thôn Yên Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang)(2). Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Thân Nhân Trung thi đậu Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân(3). Khoa thi năm ấy, có tất cả 22 người đỗ, không có Đệ nhất giáp Tiến sĩ, chỉ có hai người đỗ Nhị giáp Tiến sĩ là Phan Phiên (người xã Phác Xuyên, huyện Tân Minh - nay là Nam Sách, tỉnh Hải Hưng), và Nguyễn Như Uyên (người xã Hạ An Quyết, huyện Từ Liêm - nay thuộc Hà Nội). Cùng đỗ khoa ấy còn có Nguyễn Xang Xác (xếp sau Thân Nhân Trung một người), sau này cũng tham gia Hội Tao Đàn. Không rõ Thân Nhân Trung đích thực sinh và mất năm nào, nhưng theo những dữ kiện của các sách Đăng khoa lục thì ông sinh khoảng năm 1418 và mất khoảng năm 1499(4).

Hoan Châu Ký

GIÁ TRỊ CỦA VĂN BẢN HOAN CHÂU KÝ

HOAN CHÂU KÝ (viết tắt HCK) từ vòng tay nâng niu gìn giữ của dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ Tĩnh suốt mấy trăm năm giờ đây lần đầu tiên đến cùng chúng ta với những đặc điểm nổi bật làm nên giá trị lâu bền của nó: một bộ tiểu thuyết chương hồi thuộc loại cổ nhất, một tập sử tư nhân viết về chặng Lê Trung hưng, một cuốn phổ ký mang nhiều nét khác lạ... Nhưng HCK đồng thời cũng chứa đựng những phức tạp về mặt văn bản mà nếu không giải quyết tốt, việc đánh giá tác phẩm chắc chắn sẽ gặp khó khăn. Vậy thì để mở đường cho việc đi sâu tìm hiểu giá trị HCK, trước hết hãy làm rõ một số vấn đề có tính chất văn bản học.

“THỨC CÙNG BÓNG TỐI” TẬP THƠ HAY NHẤT NĂM 2014: MẶT TRỜI KHIẾM THỊ VÀO THƠ

“THỨC CÙNG BÓNG TỐI” TẬP THƠ HAY NHẤT NĂM 2014: MẶT TRỜI KHIẾM THỊ VÀO THƠ

Nguyễn Việt Anh tác giả tập thơ lục bát “Thức cùng bóng tối” là một người đàn ông đã 32 tuổi, hiện sống tại Hà Nội. Năm 15 tuổi, cậu thiếu niên Nguyễn Việt Anh mắt đang sáng rỡ như mọi người đã bị ngã đứt dây thần kinh thị giác, hỏng hai con mắt, bị mù. Nghĩa là suốt 17 năm nay Nguyễn Việt Anh sống toàn phần trong bóng tối.

Hình minh họa

BẢN ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ IN VÁN GỖ CỦA PHẠM CÔNG TRỨ

Bài viết này gồm hai phần: Phần một, giới thiệu sách, xác định tác giả và niên đại; Phần hai, những tư liệu mới do bản PHẠM CÔNG TRỨ đem lại.

Giếng đá cổ nhất Việt Nam; ảnh: Phạm Duy Trưởng

GIẾNG ĐÁ CỔ NHẤT VIỆT NAM

Trong dịp tết nguyên đán Quý Tỵ (2013) tôi về quê ăn tết, khi sang thăm nhà người anh họ làm nghề hát Văn, lúc đó chương trình truyền hình đang nói về những chiếc giếng. Người anh họ liền kể cho tôi nghe về một chiếc giếng đá mà anh đã thấy ở một ngôi chùa khi anh đến hát Văn. Qua lời miêu tả của anh làm tôi rất ấn tượng, tôi liền nhờ anh dẫn đến tận nơi.

Giếng cổ nhất Việt Nam thuộc chùa Hồng, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, Nam Định; ảnh: Phạm Duy Trưởng

VĂN BIA Ở HUYỆN NAM TRỰC VÀ TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH

Hai huyện Nam Trực và Trực Ninh, tỉnh Nam Định có khoảng một trăm di tích lịch sử văn hóa, trong đó có đến 61 chùa và từ đường, phủ miếu, văn chỉ, lăng mộ... Trong số di tích này còn giữ lại được 192 mặt bia đá(1).

Hình minh họa

MỘT SỐ THỦ THUẬT AN NINH MẠNG

Lý do nên thiết lập an ninh cho mạng không dây là để ngăn chặn người sử dụng trái phép khai thác mạng không dây của chúng ta. Việc thiết lập an ninh còn khó khăn hơn khi phải đối mặt với hacker do mạng không dây có thể truy cập mọi nơi trong vùng phủ sóng của mạng. Nếu không thiết lập bảo vệ mạng không dây khỏi những hacker, bạn có thể sẽ phải ngừng sử dụng mạng. Hậu quả này còn ảnh hưởng tới một số vấn đề về mạng khác. Để thiết lập mạng không dây khỏi bị tấn công bởi những hacker, bạn nên thực hiện theo một số bước đơn giản sau:

Đình Chu Quyến; ảnh: Phạm Duy Trưởng

TÌM HIỂU VỀ BIA HẬU

Hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang giữ trên 2 vạn thác bản văn bia. Đây là khối tư liệu lớn có giá trị, cần được khai thác. Như chúng ta đã biết, thác bản bia có nhiều loại, ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu qua về bia hậu(1), loại bia thường gặp nhất. Bia hậu được dựng ở đình, chùa của làng quê, phường phố. Lịch sử ra đời của bia hậu tới nay chúng ta cũng chưa khẳng định được, nhưng chắc chắn nó có liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện của đình làng đầu thế kỷ XVII.

Bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NIÊN ĐẠI BIA VIỆT NAM

Tư liệu bi ký có ưu điểm là hầu hết đều mang niên đại. Tuy nhiên có nhiều sách ghi niên đại khác nhau, và đôi khi không rõ ràng... Điều đó đã hạn chế giá trị tư liệu trên bia, thậm chí gây nhầm lẫn phức tạp khi sử dụng tư liệu bi ký. Bài viết này cố gắng nêu lên những hiện tượng đó và bước đầu đưa ra một số kiến giải.

Hình minh họa

HIỆU ĐÍNH CUỐN LỊCH ĐẠI NIÊN KỶ BÁCH TRÚNG KINH

Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh(1) (sẽ viết tắt là LĐNK) là cuốn tích niên lịch, ghi lịch cuối thời Lê Mạc, thời Tây Sơn, đầu thời Nguyễn; từ năm Canh Thân, Cảnh Hưng nguyên niên (1710) đến năm Quý Mùi, Tự Đức 36 (1883), gồm 144 năm.

Đình làng Quan Nhân

BIA ĐỒNG TẠI ĐÌNH LÀNG QUAN NHÂN HUYỆN TỪ LIÊM HÀ NỘI

Khi nói về bia, chúng ta thường nghĩ tới loại bia đá, không ai nghĩ rằng cha ông ta ngày xưa làm cả bia bằng đồng nữa. Do một sự ngẫu nhiên dân làng Quan Nhân, xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội (nay đã thuộc khu vực nội thành) đã phát hiện trong đống gạch ngói sụt lở ở hậu cung của đình làng một tấm bia đồng - một di vật quý hiếm mà nhiều cụ già nhất trong làng chưa từng hay biết.

Môn hạ sảnh ấn được coi là quả ấn đồng cổ nhất có niên đại rõ ràng ở nước ta. Ấn hiện đang được lưu giữ ở Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

ẤN ĐỒNG Ở VIỆN BẢO TÀNG LỊCH SỬ

Đối với công tác nghiên cứu giải mã các văn bản Hán Nôm, việc tìm hiểu nghiên cứu về ấn triện là đề tài trực tiếp liên quan đến việc giải mã các văn bản có mang ấn triện. Để thực hiện đề tài nghiên cứu đó, được sự giúp đỡ của cơ quan chủ quản, chúng tôi đã có dịp bước đầu giới thiệu đối với những ấn triện bằng đồng khắc chữ Hán hiện có ở Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

Điện Thái Vi ở động Vũ Lâm, thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

ĐIỆN THÁI VI CỦA VUA TRẦN QUA VĂN BIA VÀ CÂU ĐỐI TRONG ĐIỆN

Điện Thái Vi ở động Vũ Lâm, thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Động nằm trong hệ thống núi đá vôi Trường Yên ở về phía tây thôn Văn Lâm. Người địa phương gọi là "động", nhưng thực ra đây là một thung lũng, có địa thế phòng ngự lý tưởng. Ba phía tây, nam, bắc đều có núi đá bao bọc, phía đông có sông Ngô Đồng uốn lượn, tạo nên một hào lũy tự nhiên.

Chùa Đậu

HAI BÀI THƠ QUỐC ÂM Ở CHÙA ĐẬU

Chùa Đậu có tên chữ là Thành Đạo tự, thờ thần Pháp Vũ nên còn gọi là chùa Pháp Vũ (Pháp Vũ tự) thuộc thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây cũ. Về lịch sử kiến tạo chùa Đậu được xây dựng từ thời lý, tu bổ và tái tạo vào các thời Trần, Mạc, Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Thời Lê trung hưng chùa Đậu khá khang trang, được vua Lê Thần Tông (1649 – 1668) ban sắc phong cho chùa là “An Nam đệ nhất danh lam” (Danh lam số 1 của nước Nam). Trải bao phen thiên tai, địch hoạ, chùa Đậu ngày nay vẫn còn lưu giữ được khá nhiều di vật quý như rồng đá thời Trần, bệ đá hoa sen thời Mạc, những bức phù điều gỗ thời Lê trung hưng, hai pho tượng là thi hài hai nhà sư được ướp giữ vào đầu thế kỷ 17, cùng bia đá, chuông đồng, sách đồng, sắc phong… Đặc biệt hơn, ở đây còn có hai bài thơ Quốc âm khắc trên hai biền gỗ thời Lê Trịnh. Một bài đã được chép trong Khâm định thăng bình bách vịnh tập và một trong Hồng Đức Quốc âm thi tập(2). Bài viết này xin giới thiệu toàn bộ văn bản khắc trên hai biền gỗ đó và một số kiến giải của chúng tôi.

MẤY SUY NGHĨ NHÂN ĐỌC THƠ NGHÌN NHÀ

MẤY SUY NGHĨ NHÂN ĐỌC THƠ NGHÌN NHÀ

Thơ nghìn nhà dịch giả Nguyễn Hà chọn từ tập Thiên gia thi đúng 100 bài thơ tứ tuyệt, bao gồm 51 bài thơ Đường và 49 bài thơ Tống.

Nhà thờ họ Đỗ: Bồng Trung, Vĩnh Tân, Vĩnh lộc, Thanh Hóa đón nhận bằng Di tích lịch sử do Nhà Nước phong tặng ngày 17/1/AL (23/02/2008)

MỘT DÒNG HỌ CÓ 60 NGƯỜI ĐỖ TIẾN SĨ

Đó là dòng họ Đỗ quê gốc ở thôn Bồng Trung, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Theo bản Tông phả họ Đỗ do Đỗ Thiện Chính Hoàng giáp khoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1659) đời Lê Thần Tông làm quan đến chức Hữu thị lang bộ Công, khi về trí sĩ biên soạn từ khởi tổ đến đời thứ 11, sau đó con cháu biên soạn tiếp đến đời thứ 13, vào khoảng giữa thế kỷ 18(1) thì tổ họ Đỗ chỉ biết từ đời Đỗ Cảnh Thạc là một trong 12 Sứ quân thế kỷ thứ 10. Đời Lý, đời Trần đều có người làm quan to trong triều như Đỗ Tử Bình chức Trung thư môn hạ, Đỗ Tử Kiến, Đỗ Thiên Độc là Thị giảng, Đỗ Lễ làm Đại tướng, Đỗ Nguyên Thạc làm Dực thánh thủy quân, Đỗ Tỉnh làm Thượng thư bộ Hộ v.v... Khi nhà Minh xâm lược nước ta, dòng họ Đỗ chạy sang đất Lào, về sau có ông Đỗ Phú về Thanh Hóa, tương truyền là nhờ đem mả bố táng ở đất Lam Kinh nên từ đó về sau phát triển. Con ông Đỗ Phú là Đỗ Viên Thịnh mang gia quyến về sống ổn định ở làng Biện Thượng, được coi là tổ đời thứ nhất họ Đỗ ở Biện Thượng (còn gọi là Bồng Thượng).


Other

  Previous page  1 2 3 4 5 6 7 8  Next page
 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc