Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

Chiến tranh Việt Nam - Thông điệp từ những chiếc bật lửa zippo

Chiến tranh Việt Nam - Thông điệp từ những chiếc bật lửa zippo

Chiếc bật lửa zippo là vật dụng bất khả ly thân của nhiều lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Nó không chỉ là một công cụ để tạo ra lửa, mà còn là một vị sứ giả giúp truyền tải các thông điệp sâu kín của người lính đến với cuộc đời… Có thể cảm nhận điều này qua những dòng chữ khắc trên mỗi chiếc bật lửa.

Tòa án Công lí Quốc tế ICJ tại Hà Lan.

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

VNXĐ - Tác giả bài báo này đã có trên 20 bài viết về “ giải quyết tranh chấp biển đảo trên thế giới “, đăng tải trên báo “ AN NINH BIÊN GIỚI”. Trong bài “GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA”, tác giả đã rất công phu chuyển đến độc giả, những suy nghĩ sâu sắc có lí có tình về những khó khăn và thuân lợi của Việt Nam, trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền hai quần đảo trên với các nước láng giềng. Qua đây trang "Văn nghệ Xứ Đoài” xin cám ơn sự hợp tác của tác giả và trân trọng gửi tới bạn đọc bài viết này.

Hình minh họa

PHẢ GHI TRÊN ĐÁ CỦA DÒNG HỌ NGÔ Ở ĐÔNG ĐÔ

Xã Nam Hồng huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội có hai họ Ngô: họ Ngô xóm Đoài và họ Ngô xóm Đia. Trước cách mạng tháng Tám xóm Đoài thuộc xã Đông hồ huyện Kim Anh phủ Thiên Phúc tỉnh Bắc Ninh nên dân địa phương quen gọi dòng họ Ngô xóm Đoài là họ Ngô Đông Hồ. Tổ tiên dòng họ Ngô này có nhiều người đỗ đạt làm quan, trong đó có Ngô Luân (thế kỷ XV) đậu tiến sĩ khoa Ất Mùi (1475) làm chức Tham tụng Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ thượng trụ quốc. Lúc trí sĩ, ông được tặng Thái phó, có chân trong “Tao đàn nhị thập bát tú” đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) giữ chức Đông các hiệu thư cùng với Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận phê bình thơ trong Tao đàn. Tác phẩm của ông còn lại 12 bài thơ hoạ thơ Lê Thánh Tông chép trong Toàn Việt thi lục.

Chùa Đôi Hồi

TƯ LIỆU HÁN NÔM Ở KHU DI TÍCH ĐÌNH GIÁ

Khu di tích Đình Giá bao gồm chùa Đôi Hồi và đền Tam Phủ nằm ven đê sông Đáy, xưa thuộc xã Thu Quế huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai, nay thuộc thôn Thu Quế xã Song Phương huyện Đan Phượng ngoại thành Hà Nội.

Tượng Nguyễn Đình Chiểu

THÊM MỘT SỐ THƠ VĂN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Kể từ khi bản Lục Vân Tiên do G.Janeau phiên âm xuất bản ở Sài Gòn năm 1867 tới nay, hầu hết những bài thơ văn quan trọng của Nguyễn Đình Chiểu đều đã được sưu tầm và công bố trên sách báo bằng chữ quốc ngữ la-tinh. Tuy nhiên, rải rác đây đó vẫn còn có những thơ văn khác của ông, hoặc được lưu truyền qua lời truyền khẩu trong dân gian, hoặc đươc sao chép trong các tập Hán Nôm chép tay mà vì nhiều lý do, chưa được sưu tầm, phát hiện và công bố. Dưới đây là một số thơ văn loại đó của Nguyễn Đình Chiểu tìm thấy ở hai tỉnh Bến Tre và Long An từ tháng 03.1982 tới nay.

Tượng Nguyễn Đình Chiểu

TỪ NGỮ HÌNH TƯỢNG VỀ CUỘC ĐỜI VÀ CON NGƯỜI TRÊN VĂN BẢN THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Nguyễn Đình Chiểu luôn luôn sống trong lòng nhân dân, cảm nhận tất cả những gì xảy ra trong xã hội nhân quần. Ông viết ra những điều đã được cảm nhận đó. Cho dù là nói chuyện hư cấu từ một sứ sở đâu đâu, hay từ một cõi tiên cõi Phật nào khác… chung quy vẫn là câu chuyện nhân gian.

Hình minh họa

HAI TẤM BIA VỀ NINH NGẠN VÀ CUỐN VŨ VU THIỂN THUYẾT CỦA ÔNG

Trước nay, giới nghiên cứu còn rất dè dặt đối với Ninh Ngạn. Lược truyện các tác gia Việt Nam, (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971) cũng như Thư mục Hán Nôm (Thư viện Khoa học xã hội, 1969, in rônêô) không nhắc tới tác giả này. Gia phả giòng họ Ninh ở Ninh Bình có ghi nhận ông viết Vũ Vu thiển thuyết và Phong vịnh tập. Nhưng cho tới nay, cả hai tác phẩm đó đều không còn văn bản.

Tác giả Vũ Bình Lục

DỊCH GIẢ VÀ THI SĨ

Bài viết của Vũ Bình Lục

Hình minh họa

ĐỐ CHỮ HÁN TRONG CÂU ĐỐ TIẾNG VIỆT

Thời gian trước đây, nhiều người học chữ Hán thường được “đố chữ” bằng những câu như: “Chim chích mà đậu cành tre, thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm”; “Ba xe kéo lê trên đàng, tiếng vang như sấm” (đố chữ “đức” và chữ “oanh”.

NHỮNG SÁCH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THƯ PHÁP TRONG KHO SÁCH HÁN NÔM

NHỮNG SÁCH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THƯ PHÁP TRONG KHO SÁCH HÁN NÔM

Trong kho sách Hán Nôm (Viện Nghiên cứu Hán Nôm), Hà Nội, có một số sách và tài liệu nói về Thư pháp. ở đây chúng tôi xin điểm qua một số đầu sách tiêu biểu cho các loại được tạm phân chia như sau:

VẤN ĐỀ MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG THƠ CA CỔ VIỆT NAM

VẤN ĐỀ MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG THƠ CA CỔ VIỆT NAM

Miêu tả thiên nhiên trong thơ ca cổ Việt Nam là vấn đề cần nghiên cứu trong hệ thống thơ ca Hán Nôm. Hiện nay thơ ca cổ Việt Nam được nhiều người và nhiều ngành quan tâm. Bài viết cuối cùng của nhà thơ Xuân Diệu(1) với các nhà thơ trẻ càng làm cho nhiều người nhất là giới trẻ trong các trường đại học, cao đẳng và chuyên nghiệp xúc động. Đang có ý thức mới (theo yêu cầu cuối cùng của Xuân Diệu) là đi tìm cái đẹp, cái hay trong thơ ca cổ Việt Nam, từ đó bồi dưỡng khả năng thẩm mỹ mang tính chất dân tộc sâu sắc. Nhiều trường đại học, số lượng sinh viên đăng ký làm luận văn, khoá luận về văn thơ cổ Việt Nam với tỷ lệ chiếm 80%(2) . Qua quá trình nghỉên cứu thơ ca cổ Việt Nam, một trong những mắc mứu là bằng lý luận và thực tế tác phẩm, làm sao giải quyết những vấn đề cơ bản trong văn học viết Hán Nôm như từ nguyên, điển cố, xuất xứ… Một trong những vấn đề có tính thẩm mỹ cao, có sức hấp dẫn, có khả năng giải quyết những vấn đề cụ thể về xã hội học, khả năng thẩm mỹ, v. v… là miêu tả thiên nhiên trong thơ ca cổ Việt Nam.

Hành động “đắp đảo nhân tạo” của Trung Quốc ở các khu vực tranh chấp trên Biển Đông đe dọa các nước trong và ngoài khu vực

ĐẢO NHÂN TẠO TRUNG QUỐC XÂY TRÊN QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM - Ý KIẾN CÁC CHUYÊN GIA QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI

Chiến dịch biến các rạn san hô- tức các bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa/Nguyễn Ngọc Điệp

Hình minh họa

ĐÁ, THỢ KHẮC VÀ ĐẶC TRƯNG BIA THẾ KỶ XVI

Bia thế kỷ XVI gồm phần lớn bia mang niên hiệu nhà Mạc, số khác mang niên hiệu nhà Lê. Mỗi loại có đặc trưng riêng. Vấn đề được đặt ra ở đây là cái gì đã tạo nên những đặc trưng đó và đó là những đặc trưng như thế nào? Với bài viết này, chúng tôi bước đầu lý giải vấn đề trên từ cạnh khía “kỹ thuật”: đá và thợ khắc bia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với mùa Xuân xây dựng Đảng CSVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh với mùa Xuân xây dựng Đảng CSVN

Mùa Xuân năm 1930, Đảng ra đời, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối, tổ chức và giai cấp lãnh đạo cách mạng.

Mỗ (Hán tự)

TÌM HIỂU NGHĨA CỦA TỪ "MỖ"

Bài viết của Nguyễn Tá Nhí

ĐI TÌM GỐC GÁC LÝ TOÉT, XÃ XỆ

ĐI TÌM GỐC GÁC LÝ TOÉT, XÃ XỆ

Đi tìm gốc gác Lý Toét, Xã Xệ/Phạm Thảo Nguyên

MỘT GIẢ THUYẾT VỀ TỪ NGUYÊN CỦA TỪ "NÔM"

MỘT GIẢ THUYẾT VỀ TỪ NGUYÊN CỦA TỪ "NÔM"

“NÔM” là gì? Từ trước đến nay có những cách giải thích khác nhau. Cách hiểu phổ biến nhất là: “Nôm” bắt nguồn từ “Nam”. Về âm, Nam chuyển sang Nôm là điều thường gặp. Ta có Nam chuyển thành Nôm trong gió Nam chuyển thành gió Nồm. Về nghĩa, Nam đối lập với Bắc. Bắc là phương Bắc - chỉ Trung Quốc. Nam là phương Nam - chỉ Việt Nam. Và do đó chữ Nôm là chữ của phương Nam - của Việt Nam, đối lập với chữ Hán của phương Bắc - của Trung Quốc. Một cách giải thích khác: Nôm là nôm na, mộc mạc, xuề xòa, dễ dãi không câu nệ, thô thiển, không nhất quán, không cố định, tùy tiện. Nôm chính là cái tên được định danh theo đặc điểm tính chất của loại văn tự này.

Ngô Linh Ngọc (1922 - 2004)

CÁI "THẦN" VÀ CÁI "NHÃ" TRONG VẤN ĐỀ DỊCH THƠ CHỮ HÁN

VNXĐ - Ngô Linh Ngọc sinh trưởng trong một gia đình Nho học, và ông lại tự trang bị cho mình một vốn liếng Pháp văn dày dặn, khiến ông trở thành một người có hiểu biết cả Đông - Tây - Kim - Cổ. Ông cũng từng làm báo Tổ Quốc (của Đảng Xã hội). Ngô Linh Ngọc là một người rất am hiểu cổ văn, và đặc biệt yêu thích thơ Đường. Những Tương tiến tửu, Trường hận ca..nổi tiếng trong thi ca cổ điển Trung Hoa, đã được ông chuyển ngữ với tất cả tinh thần nguyên tác, bằng ngôn ngữ Việt uyển chuyển, lịch lãm và thuần Việt. Nhiều bài ông dịch đến nay chưa có ai vượt được. Xin giới thiệu bài viết này của ông.

Khu di tích đại thi hào Nguyễn Du ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh

VỀ VĂN BẢN THƠ NGUYỄN ĐỀ

Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương

Bia Văn Miếu Hà Nội

VẤN ĐỀ VĂN BẢN TRONG THƠ ĐỖ NHUẬN

ĐỖ NHUẬN sinh năm 1446, năm mất chưa rõ. Ông là người làng Kim Hoa, huyện Kim Hoa, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, Hà Nội). Ông đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất, triều Lê Quang Thuận thứ 7 (1466). Sau thăng Lại Bộ Thượng thư, Tao đàn phó nguyên súy kiêm Hàn lâm Đông các Đại học sĩ, hội viên trong Hội Tao đàn của Lê Thánh Tông. Mùa thu năm Mậu Tí (1468), vua Lê Thánh Tông viễn du Lam Kinh, ông cùng với Quách Đình Bảo đi hộ giá, đã vâng mệnh vua họa thơ trong tập Hiếu tự anh hoa thi tập(1). Mùa Đông năm Quý Mão (1483) ông cùng Thân Nhân Trung soạn Thiên Nam dư hạ tập, dưới sự chỉ đạo của vua Lê Thánh Tông. Mùa Thu năm Giáp Thìn (1484), khi triều đình dựng bia Tiến sĩ, ông cùng Thân Nhân Trung vâng mệnh soạn bài ký. Ông đã cùng Thân Nhân Trung bình luận thơ văn của vua quan trong triều Lê Thánh Tông... Khuôn khổ bài viết nhỏ này chỉ bàn đến: Vấn đề văn bản trong thơ Đỗ Nhuận.

KHẢO SÁT THÊM VỀ ỨC TRAI DI TẬP

KHẢO SÁT THÊM VỀ ỨC TRAI DI TẬP

Ngày nay khi đề cập đến văn bản thơ Nguyễn Trãi, chúng ta không thể không nhắc tới bộ Ức Trai di tập (1). Đây là bộ sách được biên tập vào thế kỷ thứ XIX, nội dung thu thập một số lượng tư liệu khá phong phú, nhờ đó trở thành văn bản quan trọng nhất lưu truyền cho đời sau nhiều trước tác thuộc các lĩnh vực của Nguyễn Trãi. Đáng quí nữa là sách đã được khắc in, nhờ đó càng làm tăng thêm độ tin cậy của văn bản. Nhưng bên cạnh bản in và vài bản sao in lại nguyên bản in này, hiện cũng còn nhiều bản chép tay khác cũng liên quan đến sách ƯTDT. Mặt khác hầu hết những bản chép tay này đều tỏ ra tàn khuyết, thiếu hoàn chỉnh, đồng thời không thể tránh khỏi lỗi về sao chép thông thường, nhưng mặt khác trong chúng lại có chứa nhiều điểm khác biệt cả về hình thức lẫn nội dung so với bản in, khiến ta phải nhìn nhận chúng với tư cách là những dị bản (chứ không phải bản sao đơn thuần). Cá biệt còn có những dấu hiệu cho thấy niên đại sao chép của chúng còn lớn hơn bản in nhiều năm. Biên tập, chỉnh lý sách ƯTDT là một quá trình kéo dài hàng mấy chục năm, kể từ khi thu thập tài liệu cho đến lúc khắc ván in. Muốn đi sâu tìm hiểu về quá trình đó cần phải xem xét một cách toàn diện tất cả các văn bản hiện còn.

Tiến sĩ Hoàng Văn Lâu (1940 - 2005)

BỘ SƯU TẬP VĂN CHƯƠNG HÀN CÁC TÙNG ĐÀM

HÀN CÁC TÙNG ĐÀM là một sưu tập văn xuôi, hiện lưu giữ tại kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.768, 1 - 2. Sách gồm 2 tập (tập I, 152 tờ; tập II 161 tờ) khổ 29x20cm, mỗi tờ viết 2 trang, mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng 20 chữ. Sách do Trường Viễn đông Bác cổ Pháp thuê chép lại khoảng nửa đầu thế kỷ này.

Bi Đình với tấm bia bằng đá Thanh nặng 20 tấn có khắc bài "Khiêm Cung Ký" do vua Tự Đức soạn thảo

TỰ ĐỨC KHIÊM CUNG KÝ VÀ LỊCH SỬ

Có thể nói "Khiêm cung ký" là một bài văn bia đặc biệt trong số văn bia các vua nhà Nguyễn, vì đây là “lời tâm sự” của một ông vua, mục đích là cố tình thanh minh cho những việc làm của mình đã từng bị thiên hạ lên án.

Bia tiến sĩ khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, do Thân Nhân Trung soạn lời văn.

THÂN NHÂN TRUNG - CON NGƯỜI VÀ TÁC PHẨM

THÂN NHÂN TRUNG, tự là Hậu Phủ, người Yên Ninh (tục gọi là làng Nếch), xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên (nay là thôn Yên Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang)(2). Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Thân Nhân Trung thi đậu Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân(3). Khoa thi năm ấy, có tất cả 22 người đỗ, không có Đệ nhất giáp Tiến sĩ, chỉ có hai người đỗ Nhị giáp Tiến sĩ là Phan Phiên (người xã Phác Xuyên, huyện Tân Minh - nay là Nam Sách, tỉnh Hải Hưng), và Nguyễn Như Uyên (người xã Hạ An Quyết, huyện Từ Liêm - nay thuộc Hà Nội). Cùng đỗ khoa ấy còn có Nguyễn Xang Xác (xếp sau Thân Nhân Trung một người), sau này cũng tham gia Hội Tao Đàn. Không rõ Thân Nhân Trung đích thực sinh và mất năm nào, nhưng theo những dữ kiện của các sách Đăng khoa lục thì ông sinh khoảng năm 1418 và mất khoảng năm 1499(4).

Hoan Châu Ký

GIÁ TRỊ CỦA VĂN BẢN HOAN CHÂU KÝ

HOAN CHÂU KÝ (viết tắt HCK) từ vòng tay nâng niu gìn giữ của dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ Tĩnh suốt mấy trăm năm giờ đây lần đầu tiên đến cùng chúng ta với những đặc điểm nổi bật làm nên giá trị lâu bền của nó: một bộ tiểu thuyết chương hồi thuộc loại cổ nhất, một tập sử tư nhân viết về chặng Lê Trung hưng, một cuốn phổ ký mang nhiều nét khác lạ... Nhưng HCK đồng thời cũng chứa đựng những phức tạp về mặt văn bản mà nếu không giải quyết tốt, việc đánh giá tác phẩm chắc chắn sẽ gặp khó khăn. Vậy thì để mở đường cho việc đi sâu tìm hiểu giá trị HCK, trước hết hãy làm rõ một số vấn đề có tính chất văn bản học.

“THỨC CÙNG BÓNG TỐI” TẬP THƠ HAY NHẤT NĂM 2014: MẶT TRỜI KHIẾM THỊ VÀO THƠ

“THỨC CÙNG BÓNG TỐI” TẬP THƠ HAY NHẤT NĂM 2014: MẶT TRỜI KHIẾM THỊ VÀO THƠ

Nguyễn Việt Anh tác giả tập thơ lục bát “Thức cùng bóng tối” là một người đàn ông đã 32 tuổi, hiện sống tại Hà Nội. Năm 15 tuổi, cậu thiếu niên Nguyễn Việt Anh mắt đang sáng rỡ như mọi người đã bị ngã đứt dây thần kinh thị giác, hỏng hai con mắt, bị mù. Nghĩa là suốt 17 năm nay Nguyễn Việt Anh sống toàn phần trong bóng tối.

Hình minh họa

BẢN ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ IN VÁN GỖ CỦA PHẠM CÔNG TRỨ

Bài viết này gồm hai phần: Phần một, giới thiệu sách, xác định tác giả và niên đại; Phần hai, những tư liệu mới do bản PHẠM CÔNG TRỨ đem lại.


Other

  Previous page  1 2 3 4 5 6 7 8  Next page
 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc