Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

Hình minh họa

MỘT SỐ THỦ THUẬT AN NINH MẠNG

Lý do nên thiết lập an ninh cho mạng không dây là để ngăn chặn người sử dụng trái phép khai thác mạng không dây của chúng ta. Việc thiết lập an ninh còn khó khăn hơn khi phải đối mặt với hacker do mạng không dây có thể truy cập mọi nơi trong vùng phủ sóng của mạng. Nếu không thiết lập bảo vệ mạng không dây khỏi những hacker, bạn có thể sẽ phải ngừng sử dụng mạng. Hậu quả này còn ảnh hưởng tới một số vấn đề về mạng khác. Để thiết lập mạng không dây khỏi bị tấn công bởi những hacker, bạn nên thực hiện theo một số bước đơn giản sau:

Đình Chu Quyến; ảnh: Phạm Duy Trưởng

TÌM HIỂU VỀ BIA HẬU

Hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang giữ trên 2 vạn thác bản văn bia. Đây là khối tư liệu lớn có giá trị, cần được khai thác. Như chúng ta đã biết, thác bản bia có nhiều loại, ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu qua về bia hậu(1), loại bia thường gặp nhất. Bia hậu được dựng ở đình, chùa của làng quê, phường phố. Lịch sử ra đời của bia hậu tới nay chúng ta cũng chưa khẳng định được, nhưng chắc chắn nó có liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện của đình làng đầu thế kỷ XVII.

Bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NIÊN ĐẠI BIA VIỆT NAM

Tư liệu bi ký có ưu điểm là hầu hết đều mang niên đại. Tuy nhiên có nhiều sách ghi niên đại khác nhau, và đôi khi không rõ ràng... Điều đó đã hạn chế giá trị tư liệu trên bia, thậm chí gây nhầm lẫn phức tạp khi sử dụng tư liệu bi ký. Bài viết này cố gắng nêu lên những hiện tượng đó và bước đầu đưa ra một số kiến giải.

Hình minh họa

HIỆU ĐÍNH CUỐN LỊCH ĐẠI NIÊN KỶ BÁCH TRÚNG KINH

Lịch đại niên kỷ bách trúng kinh(1) (sẽ viết tắt là LĐNK) là cuốn tích niên lịch, ghi lịch cuối thời Lê Mạc, thời Tây Sơn, đầu thời Nguyễn; từ năm Canh Thân, Cảnh Hưng nguyên niên (1710) đến năm Quý Mùi, Tự Đức 36 (1883), gồm 144 năm.

Đình làng Quan Nhân

BIA ĐỒNG TẠI ĐÌNH LÀNG QUAN NHÂN HUYỆN TỪ LIÊM HÀ NỘI

Khi nói về bia, chúng ta thường nghĩ tới loại bia đá, không ai nghĩ rằng cha ông ta ngày xưa làm cả bia bằng đồng nữa. Do một sự ngẫu nhiên dân làng Quan Nhân, xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội (nay đã thuộc khu vực nội thành) đã phát hiện trong đống gạch ngói sụt lở ở hậu cung của đình làng một tấm bia đồng - một di vật quý hiếm mà nhiều cụ già nhất trong làng chưa từng hay biết.

Môn hạ sảnh ấn được coi là quả ấn đồng cổ nhất có niên đại rõ ràng ở nước ta. Ấn hiện đang được lưu giữ ở Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

ẤN ĐỒNG Ở VIỆN BẢO TÀNG LỊCH SỬ

Đối với công tác nghiên cứu giải mã các văn bản Hán Nôm, việc tìm hiểu nghiên cứu về ấn triện là đề tài trực tiếp liên quan đến việc giải mã các văn bản có mang ấn triện. Để thực hiện đề tài nghiên cứu đó, được sự giúp đỡ của cơ quan chủ quản, chúng tôi đã có dịp bước đầu giới thiệu đối với những ấn triện bằng đồng khắc chữ Hán hiện có ở Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam.

Điện Thái Vi ở động Vũ Lâm, thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

ĐIỆN THÁI VI CỦA VUA TRẦN QUA VĂN BIA VÀ CÂU ĐỐI TRONG ĐIỆN

Điện Thái Vi ở động Vũ Lâm, thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Động nằm trong hệ thống núi đá vôi Trường Yên ở về phía tây thôn Văn Lâm. Người địa phương gọi là "động", nhưng thực ra đây là một thung lũng, có địa thế phòng ngự lý tưởng. Ba phía tây, nam, bắc đều có núi đá bao bọc, phía đông có sông Ngô Đồng uốn lượn, tạo nên một hào lũy tự nhiên.

Chùa Đậu

HAI BÀI THƠ QUỐC ÂM Ở CHÙA ĐẬU

Chùa Đậu có tên chữ là Thành Đạo tự, thờ thần Pháp Vũ nên còn gọi là chùa Pháp Vũ (Pháp Vũ tự) thuộc thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây cũ. Về lịch sử kiến tạo chùa Đậu được xây dựng từ thời lý, tu bổ và tái tạo vào các thời Trần, Mạc, Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Thời Lê trung hưng chùa Đậu khá khang trang, được vua Lê Thần Tông (1649 – 1668) ban sắc phong cho chùa là “An Nam đệ nhất danh lam” (Danh lam số 1 của nước Nam). Trải bao phen thiên tai, địch hoạ, chùa Đậu ngày nay vẫn còn lưu giữ được khá nhiều di vật quý như rồng đá thời Trần, bệ đá hoa sen thời Mạc, những bức phù điều gỗ thời Lê trung hưng, hai pho tượng là thi hài hai nhà sư được ướp giữ vào đầu thế kỷ 17, cùng bia đá, chuông đồng, sách đồng, sắc phong… Đặc biệt hơn, ở đây còn có hai bài thơ Quốc âm khắc trên hai biền gỗ thời Lê Trịnh. Một bài đã được chép trong Khâm định thăng bình bách vịnh tập và một trong Hồng Đức Quốc âm thi tập(2). Bài viết này xin giới thiệu toàn bộ văn bản khắc trên hai biền gỗ đó và một số kiến giải của chúng tôi.

MẤY SUY NGHĨ NHÂN ĐỌC THƠ NGHÌN NHÀ

MẤY SUY NGHĨ NHÂN ĐỌC THƠ NGHÌN NHÀ

Thơ nghìn nhà dịch giả Nguyễn Hà chọn từ tập Thiên gia thi đúng 100 bài thơ tứ tuyệt, bao gồm 51 bài thơ Đường và 49 bài thơ Tống.

Nhà thờ họ Đỗ: Bồng Trung, Vĩnh Tân, Vĩnh lộc, Thanh Hóa đón nhận bằng Di tích lịch sử do Nhà Nước phong tặng ngày 17/1/AL (23/02/2008)

MỘT DÒNG HỌ CÓ 60 NGƯỜI ĐỖ TIẾN SĨ

Đó là dòng họ Đỗ quê gốc ở thôn Bồng Trung, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Theo bản Tông phả họ Đỗ do Đỗ Thiện Chính Hoàng giáp khoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 (1659) đời Lê Thần Tông làm quan đến chức Hữu thị lang bộ Công, khi về trí sĩ biên soạn từ khởi tổ đến đời thứ 11, sau đó con cháu biên soạn tiếp đến đời thứ 13, vào khoảng giữa thế kỷ 18(1) thì tổ họ Đỗ chỉ biết từ đời Đỗ Cảnh Thạc là một trong 12 Sứ quân thế kỷ thứ 10. Đời Lý, đời Trần đều có người làm quan to trong triều như Đỗ Tử Bình chức Trung thư môn hạ, Đỗ Tử Kiến, Đỗ Thiên Độc là Thị giảng, Đỗ Lễ làm Đại tướng, Đỗ Nguyên Thạc làm Dực thánh thủy quân, Đỗ Tỉnh làm Thượng thư bộ Hộ v.v... Khi nhà Minh xâm lược nước ta, dòng họ Đỗ chạy sang đất Lào, về sau có ông Đỗ Phú về Thanh Hóa, tương truyền là nhờ đem mả bố táng ở đất Lam Kinh nên từ đó về sau phát triển. Con ông Đỗ Phú là Đỗ Viên Thịnh mang gia quyến về sống ổn định ở làng Biện Thượng, được coi là tổ đời thứ nhất họ Đỗ ở Biện Thượng (còn gọi là Bồng Thượng).

Lịch Sử Ngày quốc tế hiến chương các Nhà giáo và Ngày Nhà giáo Việt Nam

Lịch Sử Ngày quốc tế hiến chương các Nhà giáo và Ngày Nhà giáo Việt Nam

Ngày 20 tháng 11 năm 1982, là Lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên được tiến hành trọng thể trong cả nước ta, và từ đó dến nay, đây là ngày để học trò thể hiện tình cảm quý mến, kính trọng với thầy giáo, cô giáo - những người đã dày công vun đắp cho chúng ta

MỘT TẤM BIA ĐỀ CAO TRUYỀN THỐNG "TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO"

MỘT TẤM BIA ĐỀ CAO TRUYỀN THỐNG "TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO"

Bia đặt tại thôn Tiền, xã Minh Nghĩa, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. - Bia 2 mặt. Cỡ 90 x 40 cm (không kể trán bia). Khắc chữ chân phương, toàn văn chữ Hán, có xen Nôm, có kiêng húy. Gồm 19 dòng, khoảng trên 500 chữ. - Bia được tạo vào năm Tự Đức thứ 17 (1864) thời Nguyễn. - Tác giả soạn văn bia là: (Họ và tên bị mờ) hiệu Mỹ Phủ - Cử nhân Kỳ thi Ân khoa, làm Huấn đạo ở huyện. - Người viết chữ: Đỗ Quát đỗ nhị trường - là Quan viên tử. Nhân ngày 20/11/2014 xin đăng lại bản dịch toàn văn mặt bia thứ 1 và lược dịch mặt bia thứ hai để cung hiến cùng bạn đọc một tư liệu đáng quý về truyền thống "tôn sư trọng đạo" đã có từ lâu của nhân dân ta.

Nghê gỗ ở chùa Xối Thượng (Nam Định), thế kỷ 17-18 (Ảnh: A.N/Vietnam+)

Giới thiệu bộ sưu tập mẫu linh vật thuần Việt tại Hà Nội

Triển lãm chuyên đề “Hình tượng sư tử và nghê trong nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam” đã chính thức khai mạc sáng 7/11/2014 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (số 66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội). Triển lãm giới thiệu khoảng 60 hiện vật liên quan đến hai linh vật (sư tử, nghê) được tạo tác bằng nhiều loại chất liệu khác nhau như: đá, gốm, sành, gỗ, đồng… Số hiện vật này có niên đại từ thời Lý, Trần, Hậu Lê đến thời Nguyễn.

Hình minh họa

CÁCH GHI TỪ HÁN VIỆT TRONG VĂN BẢN NÔM

Thông thường, đối với loại từ Hán Việt thì trong văn bản Nôm phải ghi đúng như trong văn bản Hán, bởi lẽ đây là trường hợp vừa vay mượn văn tự vừa vay muôn ngôn ngữ. Điều này đã từng được một số nhà nghiên cứu khẳng định(1). Khi gặp những từ thuộc loại này như chữ “sơn” chữ “hà” trong một câu thơ bằng chữ Nôm: “Ba thu gánh vác sơn hà”(2) thì ta cũng viết, đọc và hiểu chúng như ở trong một câu bằng chữ Hán: “Nam quốc sơn hà nam đế cư”(3). Song thực tế lại cho thấy rằng không phải lúc nào chúng ta cũng bắt gặp một sự trùng hợp hòan toàn như thế. Về điểm này, dường như từ trước tới nay mới chỉ có những gợi ý bước đầu(4), chứ chưa ai đặt thành vấn đề để đi sâu vào. Mục đích của bài này là khảo sát một số văn bản Nôm nhằm soi sáng cho vấn đề đang còn tồn tại đó.

TIẾNG HÁN TRONG THƠ HỒ CHÍ MINH

TIẾNG HÁN TRONG THƠ HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng nhiều ngoại ngữ, nhưng tiếng Hán là ngoại ngữ duy nhất Người dùng để làm thơ. Khảo sát ngôn ngữ Hán trong thơ của Người chắc chắn sẽ rút ra được những bài học bổ ích.

Núi Dục Thúy ở Ninh Bình

BÚT TÍCH CHA CON NGÔ THÌ SĨ NGÔ THÌ NHẬM TRÊN DỤC THÚY SƠN

Năm 1770, trên đường vào Nghệ An nhậm chức Tham Chính, Ngô Thì Sỹ đã lên thăm núi Dục Thuý và cho khắc 4 chữ Vũ trụ dĩ lai này lên vách núi. 13 năm sau, năm Cảnh Hưng Nhân Dần (1782). Ngô Thì Nhậm nhân có việc công qua đây, thấy chữ khắc của cha bị rêu phong nhiều, đã cho khắc lại và đề một bài thơ bên cạnh. Đáng chú ý là bên dưới bút tích của Ngô Thì Nhậm, có khắc cả dấu triện. Loại bia có khắc dấu triện này hiện nay rất hiếm.

Bản đồ nước Nam Việt của Triệu Đà

Biên giới Việt Nam và Trung Quốc qua các triều đại quân chủ Việt Nam

Do thực tại địa lý, do hoàn cảnh nhân văn và lịch sử và do những quan niệm về chính trị, vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc là một vấn đề vô cùng phức tạp và tế nhị. Vấn đề này đã được đặt ra ngay từ những ngày đầu của lịch sử dân tộc ta và luôn tuôn tồn tại cho đến tận ngày nay.

Cổng đình Phú Nhi ngày nay (ảnh: Phạm Duy Trưởng)

ĐÌNH PHÚ NHI - HÌNH BÓNG XỨ ĐOÀI

Nằm bên hữu ngạn sông Hồng, từ xưa, Xứ Đoài đã là vùng đất linh thiêng trong tâm thức của người Việt. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư", kỷ "Hồng Bành Thị" có đoạn chép: "Núi Tản Viên là núi cao nhất của nước Việt ta, sự linh thiêng rất là ứng nghiệm". Vùng đất vốn là nơi địa linh này tất sinh ra nhiều nhân kiệt. Những giá trị tinh thần trường tồn ấy được hun đúc thành hình ảnh của những di tích đình, đền, miếu. Dân gian có câu: "Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài". Xứ Đoài có những ngôi đình nổi tiếng như: Mông Phụ, Tây Đằng, Chu Quyết... Có một ngôi đình đã từng được xây dựng với quy mô hoành tráng vào bậc nhất Sơn Tây nhưng lại ít được mấy ai biết đến.

"Vua Quang Trung" qua nét vẽ của họa sĩ Triều Thanh năm 1790

BÀI HỌC NGOẠI GIAO THỜI TÂY SƠN TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, lịch sử giai đoạn thế kỷ XVII- XVIII là thời kỳ đầy thử thách và bi thương của dân tộc. Các tập đoàn phong kiến vì quyền lợi dòng họ hay bản thân đã gây ra muôn vàn biến động khiến xã hội Việt Nam thời kỳ này chao đảo, các tập đoàn phong kiến phân tranh đã xô đẩy nhân dân vào những cuộc chiến tranh phi nghĩa, chia sẻ đất đai gây nên những cảnh chia cắt đất nước chưa từng có trong lịch sử: cuộc nội chiến giữa nhà Mạc và nhà Lê kéo dài hơn 100 năm, cũng từ cuộc chiến tranh này là mầm mống cho sự phân tranh của Trịnh- Nguyễn suốt 200 năm chia cắt đất nước. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra và vương triều Tây Sơn ra đời về cơ bản đã xóa bỏ được nạn chia cắt, nạn cát cứ đó, xây dựng lại đất nước với những chính sách cải cách tiến bộ. Không những thế vương triều Tây Sơn còn viết tiếp trang sử hào hùng chống ngoại xâm: đánh tan 5 vạn quân Xiêm, quét sạch 29 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi. Bên cạnh những thành quả đạt được về mặt quân sự, chính trị, xã hội… Vương triều Tây Sơn, mà cụ thể là dưới sự lãnh đạo của Quang Trung- Nguyễn Huệ, đã để lại những trang sử vẻ vang trong mặt trận ngoại giao với triều đình Mãn Thanh hùng mạnh ở phương Bắc. Với tư tưởng ngoại giao hết sức linh hoạt, khôn khéo cộng với những nhà ngoại giao lỗi lạc, uyên thâm như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích. Đây là những bài học sâu sắc của cha ông để lại cho chúng ta trong tình hình hiện nay.

XUẤT XỨ CỦA "ĐẠI NAM NHẤT THỐNG TOÀN ĐỒ"

XUẤT XỨ CỦA "ĐẠI NAM NHẤT THỐNG TOÀN ĐỒ"

Trong kho tàng bản đồ cổ Việt Nam, Đại Nam nhất thống toàn đồđã được viện dẫn để minh chứng cho chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng bản đồ đó được trích từ cuốn sách nào, cho đến nay vẫn là vấn đề cần được làm sáng tỏ.

Trần Văn Giáp (1902-1973)

VỀ BẢN DỊCH VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ CỦA TRẦN VĂN GIÁP

Cho đến nay, đã có mấy bản dịch Vân đài loại ngữ được công bố(1), trong đó, bản dịch của Trần Văn Giáp được lưu hành phổ biến hơn cả. Gần 30 năm nay, bản dịch này đã có đóng góp lớn trong việc truyền đạt những giá trị nhiều mặt trong tác phẩm ưu tú của Lê Quý Đôn. Tuy nhiên, để bản dịch được hoàn thiện hơn, cũng cần duyệt xét lại từ các mặt giám định văn bản và dịch thuật của nó. Thời gian gần đây, ở nước ngoài đã có người nghiên cứu Vân đài loại ngữ, khảo sát lại bản dịch của Trần Văn Giáp và đã phát hiện một số vấn đề có ý nghĩa khoa học(2). Bài viết này nêu một số vấn đề tồn tại của bản dịch, nhằm kịp thời đính chính một số chỗ dịch chưa ổn, góp phần chỉnh lý bộ sách quí này.

TIẾN SĨ NGUYỄN NGỌC NHUẬN Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1999 - 2004)

LÝ TỬ TẤN VÀ VĂN BẢN

Lý Tử Tấn nhà văn, tác giả yêu nước nửa đầu thế kỷ XV, nguyên tên là Tấn, tự là Tử Tấn, về sau lấy tự làm tên, thành tên Lý Tử Tấn, hiệu Chuyết Am, người làng Triều Đông, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Tân Minh, huyện Thường Tín, Hà Nội. Ông đỗ Thái học sinh năm Canh Thìn (1400) đời Hồ Quý Ly. Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh ông đến hành tại yết kiến Lê Lợi, được nhà vua khen là người học rộng, cho giữ việc văn thư. Ông làm quan đến Hàn lâm ở Kinh diên trải các triều vua Lê Thái Tông, Nhân Tông(1)...

Chuông Thanh Mai đang được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử

VĂN BẢN CHUÔNG THANH MAI THẾ KỶ XVIII

Chuông Thanh Mai được phát hiện vào đầu tháng tư năm 1986 trong trường hợp nhân dân đào đất làm gạch ở bãi Rồng (ven sông Đáy) thuộc xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là Hà Nội). Trong bài này chúng tôi miêu tả và phân tích đôi nét về văn bản khắc trên chuông; đồng thời dịch nghĩa và công bố toàn bộ văn bản nhằm cung cấp thêm tư liệu để các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu thêm nhiều mặt về một giai đoạn lịch sử mà tới nay tài liệu còn quá ít ỏi.

Trịnh Khả là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam

GIA PHẢ DÒNG HỌ TRỊNH KHẢ

Trong dịp đi công tác ở huyện Từ Liêm, Hà Nội, chúng tôi có tìm được cuốn gia phả dòng họ Trịnh(1), trong đó nói khá chi tiết về tiểu sử của Trịnh Khả, một nhân vật đã đến với Lê Lợi từ những ngày đầu dựng cờ tụ nghĩa cho đến khi kháng chiến thắng lợi. Cuốn gia phả không chỉ hệ thống hóa về gia tộc nội ngoại dòng họ Trịnh từ Trịnh Khả về sau, mà còn là một sưu tập của những tư liệu như văn bia, sắc phong, thơ, câu đối có giá trị.

Hình minh họa

NGUYỄN CHẾ NGHĨA - TÁC GIẢ ĐỜI TRẦN

Nguyễn Chế Nghĩa là một nhân vật lịch sử mà chúng ta biết đến còn rất ít. Về ông, chúng ta mới biết đôi điều sơ sài rằng ông “người xã Hội Xuyên (còn có tên là Cối Xuyên) huyện Gia Lộc, nay thuộc tỉnh Hải Hưng. Ông là một danh tướng đời Trần, lập nhiều công trong lần chống quân Nguyên năm 1288. Cuối năm 1287, có tin quân Nguyên sắp sang đánh nước ta, ông thân đến hành dinh của Trần Hưng Đạo để xin được đi dẹp giặc. Hưng Đạo thử tài, rất vừa lòng, khen rằng: Người này chẳng kém gì Phạm Ngũ Lão, ta lại được thêm một tướng tài.

Hình minh họa

NGHỀ IN CỦA TA QUA KHO SÁCH HÁN NÔM

Nghề in của ta có từ khá sớm. Có thuyết cho rằng, đất Luy Lâu xưa là một trung tâm Phật giáo lớn, suốt từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 3(1) đã khắc in kinh Phật. Có thể đây là nơi in sách sớm nhất trong lịch sử ngành in nước ta. Sau này các thời Lý Trần đều nói đến việc in sách. Nhưng do sự phũ phàng của thời tiết, khí hậu, sự hủy hoại của chiến tranh, sự tàn phá có ý thức của các thế lực xâm lược, sách in ở nước ta bị mất mát nhiều. Hiện nay (trong kho sách Viện Hán Nôm chỉ còn giữ được các bản in từ đời Lê trở lại. Một số bản in của vài cơ sở in ra đời sớm và có tuổi thọ khá lâu như phương in Hồng Liễu 211 tuổi (1683 - 1904), Đa Bảo 216 tuổi (1665 - 1881), Vĩnh Khánh 157 tuổi (1750 -1907), Quốc Tử Giám 89 tuổi (1820 - 1909), Liễu Văn Đường 91 tuổi (1834 - 1925)(2)…


Other

  Previous page  1 2 3 4 5 6 7 8  Next page
 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc