Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

Tác giả Lã Nhâm Thìn

XÁC ĐỊNH MỘT SỐ BÀI THƠ CỦA NGUYỄN TRÃI HAY CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Tác giả Lã Nhâm Thìn sinh 1952 ông là Phó giáo sư - Tiến sỹ. Công tác tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tác phẩm đã xuất bản: Giảng văn văn học trung đại Việt Nam, NXB. Giáo dục, 1994 Chuyên đề Văn 9, NXB. Giáo dục, 1996 Thơ Nôm Đường luật, NXB. Giáo dục, 1997 Giảng văn Văn học Việt Nam, NXB. Giáo dục, 1997 Bình giảng thơ Nôm Đường luật, NXB. Giáo dục, 2002 Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, NXB. Giáo dục, 2006

ĐỒ HÌNH LỊCH CAN CHI VĨNH CỬU

ĐỒ HÌNH LỊCH CAN CHI VĨNH CỬU

Trong các thư tịch cổ, thời gian, nhất là khi ghi các sự kiện trọng đại thường được ghi bằng lịch can chi. Điều này gây không ít khó khăn cho các nhà khảo cứu và người đọc, vì ở ta khá hiềm các cuốn lịch có lịch can chi.

Ảnh minh họa

PHẠM ĐẠO PHÚ VỚI QUÊ HƯƠNG VÀ HỘI TAO ĐÀN

Vào thời Hồng Đức, ở làng Hoàng Xá tổng Thanh Khê huyện Đại An (nay là thôn Phạm Xá, xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) có hai anh em họ Phạm cùng đỗ tiến sĩ liền trong hai khoa. Đó là Phạm Đạo Bảo (còn gọi là Phạm Bảo) đỗ nhị giáp tiến sĩ khoa Đinh Mùi Hồng Đức thứ 18 (1478) và Phạm Đạo Phú đỗ tiến sĩ đệ tam giáp khoa Canh Tuất Hồng Đức thứ 21 (1490). Phạm Đạo Bảo là con ông chú, sau khi đỗ tiến sĩ làm quan võ, được vua Lê Thánh Tông cử làm Trấn thủ vùng Thanh Nghệ, Phạm Đạo Phú là con ông bác, đỗ tiến sĩ năm 28 tuổi.

Một đoàn tới thăm từ đường họ Vũ Trung Hành

TỤC CÔNG DƯ TIỆP KÝ: TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Tục công dư tiệp ký (Viết tắt là Tục CDTK) liên quan đến Công dư tiệp ký (viết tắt là CDTK). Do đó, trước hết chúng tôi trình bày vài nét về CDTK và tác giả của nó. CDTK là tác phẩm của Vũ Phương Đề. Ông viết lời tựa cho tác phẩm năm 1755. Theo Phan Huy Chú thì “CDTK 1 quyển, chia làm 12 loại, cộng 43 truyện)(1). Trước ngày đất nước thống nhất (1975), tác phẩm chưa được dịch in ở miền Bắc; còn ở miền Nam, CDTK được xuất bản năm 1961 - 1962 thành 2 tập(2) và năm 1972 tái bản gộp làm 1 quyển(3). Điều đáng chú ý là ngoài bìa dịch giả đề là Vũ Phương Đề: Công dư tiệp ký nhưng bên trong, tác phẩm lại có tới 91 truyện, nhiều hơn số truyện của Vũ Phương Đề tới 48. Phải chăng dịch giả đã không làm công việc khảo sát văn bản hoặc không có một văn bản nghiêm túc trong khi dịch? Để khắc phục tình trạng trên, trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu Tục CDTK.

Từ đường Trạng nguyên Nguyễn Trực ở làng Bối Khê

BÀI VĂN SÁCH THI ĐÌNH CỦA TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN TRỰC

Trong kho sách Hán Nôm có một khối lượng khá lớn văn bản ghi lại những bài văn hay của các ông nghè, ông cử làm trong các dịp thi Hội, thi Hương. Nìn chung, loại văn thơ thi cử, làm theo một khuôn khổ gò bó, ít sáng tạo lớn. Nhưng ở một số bài văn sách, nhất là các bài văn sách nói về đường lối xây dựng đất nước đương thời lại có những giá trị sử liệu nhất định.

Tiết Nghĩa Từ, đền thờ cụ Tiết Nghĩa Đàm Thận Huy tại Bắc Ninh

ĐÀM THẬN HUY VÀ TÁC PHẨM SĨ HOẠN CHÂM QUY

Trên Tạp chí Hán Nôm số 2.1987, chúng tôi có đăng bài Bước đầu tìm hiểu về Hội Tao đàn, giới thiệu một số nét chung nhất về Hội, như năm thành lập, thời gian hoạt đông, con số hội viên chính thức, chức danh những hội viên chủ chốt... Bài viết lần này về Đàm Thận Huy và tác phẩm Sĩ hoạn châm qui có thể xem như một nỗ lực mới nhằm đi sâu tìm hiểu những vấn đề tồm nghi ở một số thành viên quan trọng thuộc hội thơ Tao Đàn. Bài viết này, trước hết giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Đàm Thận Huy, đồng thời bàn về những nghi vấn chung quanh cuộc đời ông. Và, sau nữa là những ý kiến mới về tác phẩm Sĩ hoạn châm qui.

Học giả: Hoàng Văn Lâu

VĂN BẢN VÀ TÁC GIẢ CỦA MẪN HIÊN THUYẾT LOẠI

Mẫn hiên thuyết loại là một văn bản chép tay, ký hiệu A.1072, do Trường Viễn đông bác cổ sao chép khoảng đầu thế kỷ XX. Sách hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Nhà nghiên cứu Đinh Công Vĩ

LÊ QUÍ ĐÔN VÀ KIM THẠCH VĂN

Lê Quí Đôn chưa từng viết sách chuyên bàn về kim thạch văn. Song đây đó, trong nhiều tác phẩm của ông, vấn đề kim thạch văn vẫn thường xuyên được đề cập. Những ý kiến, phát biểu của ông về kim thạch văn có thể gom lại thành ba mảng sau:

Hình minh họa

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC MỘT ẤN TRIỆN TRIỀU NGUYỄN

ẤN TRIỆN - loại hình ta thường thấy xuất hiện không ít trên công văn, sắc, chiếu, sách. bằng khuôn cỡ, bố cục, chữ triện khác nhau: loại hình mà người làm công tác nghiên cứu văn bản Hán Nôm, khảo cổ, lưu trữ, bảo tàng đều thấy đó là đề tài cần tìm hiểu và giải mã.

Chiến tranh Việt Nam - Thông điệp từ những chiếc bật lửa zippo

Chiến tranh Việt Nam - Thông điệp từ những chiếc bật lửa zippo

Chiếc bật lửa zippo là vật dụng bất khả ly thân của nhiều lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Nó không chỉ là một công cụ để tạo ra lửa, mà còn là một vị sứ giả giúp truyền tải các thông điệp sâu kín của người lính đến với cuộc đời… Có thể cảm nhận điều này qua những dòng chữ khắc trên mỗi chiếc bật lửa.

Tòa án Công lí Quốc tế ICJ tại Hà Lan.

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

VNXĐ - Tác giả bài báo này đã có trên 20 bài viết về “ giải quyết tranh chấp biển đảo trên thế giới “, đăng tải trên báo “ AN NINH BIÊN GIỚI”. Trong bài “GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA”, tác giả đã rất công phu chuyển đến độc giả, những suy nghĩ sâu sắc có lí có tình về những khó khăn và thuân lợi của Việt Nam, trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền hai quần đảo trên với các nước láng giềng. Qua đây trang "Văn nghệ Xứ Đoài” xin cám ơn sự hợp tác của tác giả và trân trọng gửi tới bạn đọc bài viết này.

Hình minh họa

PHẢ GHI TRÊN ĐÁ CỦA DÒNG HỌ NGÔ Ở ĐÔNG ĐÔ

Xã Nam Hồng huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội có hai họ Ngô: họ Ngô xóm Đoài và họ Ngô xóm Đia. Trước cách mạng tháng Tám xóm Đoài thuộc xã Đông hồ huyện Kim Anh phủ Thiên Phúc tỉnh Bắc Ninh nên dân địa phương quen gọi dòng họ Ngô xóm Đoài là họ Ngô Đông Hồ. Tổ tiên dòng họ Ngô này có nhiều người đỗ đạt làm quan, trong đó có Ngô Luân (thế kỷ XV) đậu tiến sĩ khoa Ất Mùi (1475) làm chức Tham tụng Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các đại học sĩ thượng trụ quốc. Lúc trí sĩ, ông được tặng Thái phó, có chân trong “Tao đàn nhị thập bát tú” đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) giữ chức Đông các hiệu thư cùng với Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận phê bình thơ trong Tao đàn. Tác phẩm của ông còn lại 12 bài thơ hoạ thơ Lê Thánh Tông chép trong Toàn Việt thi lục.

Tượng Nguyễn Đình Chiểu

THÊM MỘT SỐ THƠ VĂN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Kể từ khi bản Lục Vân Tiên do G.Janeau phiên âm xuất bản ở Sài Gòn năm 1867 tới nay, hầu hết những bài thơ văn quan trọng của Nguyễn Đình Chiểu đều đã được sưu tầm và công bố trên sách báo bằng chữ quốc ngữ la-tinh. Tuy nhiên, rải rác đây đó vẫn còn có những thơ văn khác của ông, hoặc được lưu truyền qua lời truyền khẩu trong dân gian, hoặc đươc sao chép trong các tập Hán Nôm chép tay mà vì nhiều lý do, chưa được sưu tầm, phát hiện và công bố. Dưới đây là một số thơ văn loại đó của Nguyễn Đình Chiểu tìm thấy ở hai tỉnh Bến Tre và Long An từ tháng 03.1982 tới nay.

Tượng Nguyễn Đình Chiểu

TỪ NGỮ HÌNH TƯỢNG VỀ CUỘC ĐỜI VÀ CON NGƯỜI TRÊN VĂN BẢN THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Nguyễn Đình Chiểu luôn luôn sống trong lòng nhân dân, cảm nhận tất cả những gì xảy ra trong xã hội nhân quần. Ông viết ra những điều đã được cảm nhận đó. Cho dù là nói chuyện hư cấu từ một sứ sở đâu đâu, hay từ một cõi tiên cõi Phật nào khác… chung quy vẫn là câu chuyện nhân gian.

Hình minh họa

HAI TẤM BIA VỀ NINH NGẠN VÀ CUỐN VŨ VU THIỂN THUYẾT CỦA ÔNG

Trước nay, giới nghiên cứu còn rất dè dặt đối với Ninh Ngạn. Lược truyện các tác gia Việt Nam, (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971) cũng như Thư mục Hán Nôm (Thư viện Khoa học xã hội, 1969, in rônêô) không nhắc tới tác giả này. Gia phả giòng họ Ninh ở Ninh Bình có ghi nhận ông viết Vũ Vu thiển thuyết và Phong vịnh tập. Nhưng cho tới nay, cả hai tác phẩm đó đều không còn văn bản.

Tác giả Vũ Bình Lục

DỊCH GIẢ VÀ THI SĨ

Bài viết của Vũ Bình Lục

Hình minh họa

ĐỐ CHỮ HÁN TRONG CÂU ĐỐ TIẾNG VIỆT

Thời gian trước đây, nhiều người học chữ Hán thường được “đố chữ” bằng những câu như: “Chim chích mà đậu cành tre, thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm”; “Ba xe kéo lê trên đàng, tiếng vang như sấm” (đố chữ “đức” và chữ “oanh”.

VẤN ĐỀ MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG THƠ CA CỔ VIỆT NAM

VẤN ĐỀ MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG THƠ CA CỔ VIỆT NAM

Miêu tả thiên nhiên trong thơ ca cổ Việt Nam là vấn đề cần nghiên cứu trong hệ thống thơ ca Hán Nôm. Hiện nay thơ ca cổ Việt Nam được nhiều người và nhiều ngành quan tâm. Bài viết cuối cùng của nhà thơ Xuân Diệu(1) với các nhà thơ trẻ càng làm cho nhiều người nhất là giới trẻ trong các trường đại học, cao đẳng và chuyên nghiệp xúc động. Đang có ý thức mới (theo yêu cầu cuối cùng của Xuân Diệu) là đi tìm cái đẹp, cái hay trong thơ ca cổ Việt Nam, từ đó bồi dưỡng khả năng thẩm mỹ mang tính chất dân tộc sâu sắc. Nhiều trường đại học, số lượng sinh viên đăng ký làm luận văn, khoá luận về văn thơ cổ Việt Nam với tỷ lệ chiếm 80%(2) . Qua quá trình nghỉên cứu thơ ca cổ Việt Nam, một trong những mắc mứu là bằng lý luận và thực tế tác phẩm, làm sao giải quyết những vấn đề cơ bản trong văn học viết Hán Nôm như từ nguyên, điển cố, xuất xứ… Một trong những vấn đề có tính thẩm mỹ cao, có sức hấp dẫn, có khả năng giải quyết những vấn đề cụ thể về xã hội học, khả năng thẩm mỹ, v. v… là miêu tả thiên nhiên trong thơ ca cổ Việt Nam.

Hình minh họa

ĐÁ, THỢ KHẮC VÀ ĐẶC TRƯNG BIA THẾ KỶ XVI

Bia thế kỷ XVI gồm phần lớn bia mang niên hiệu nhà Mạc, số khác mang niên hiệu nhà Lê. Mỗi loại có đặc trưng riêng. Vấn đề được đặt ra ở đây là cái gì đã tạo nên những đặc trưng đó và đó là những đặc trưng như thế nào? Với bài viết này, chúng tôi bước đầu lý giải vấn đề trên từ cạnh khía “kỹ thuật”: đá và thợ khắc bia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với mùa Xuân xây dựng Đảng CSVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh với mùa Xuân xây dựng Đảng CSVN

Mùa Xuân năm 1930, Đảng ra đời, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối, tổ chức và giai cấp lãnh đạo cách mạng.

Mỗ (Hán tự)

TÌM HIỂU NGHĨA CỦA TỪ "MỖ"

Bài viết của Nguyễn Tá Nhí

ĐI TÌM GỐC GÁC LÝ TOÉT, XÃ XỆ

ĐI TÌM GỐC GÁC LÝ TOÉT, XÃ XỆ

Đi tìm gốc gác Lý Toét, Xã Xệ/Phạm Thảo Nguyên

MỘT GIẢ THUYẾT VỀ TỪ NGUYÊN CỦA TỪ "NÔM"

MỘT GIẢ THUYẾT VỀ TỪ NGUYÊN CỦA TỪ "NÔM"

“NÔM” là gì? Từ trước đến nay có những cách giải thích khác nhau. Cách hiểu phổ biến nhất là: “Nôm” bắt nguồn từ “Nam”. Về âm, Nam chuyển sang Nôm là điều thường gặp. Ta có Nam chuyển thành Nôm trong gió Nam chuyển thành gió Nồm. Về nghĩa, Nam đối lập với Bắc. Bắc là phương Bắc - chỉ Trung Quốc. Nam là phương Nam - chỉ Việt Nam. Và do đó chữ Nôm là chữ của phương Nam - của Việt Nam, đối lập với chữ Hán của phương Bắc - của Trung Quốc. Một cách giải thích khác: Nôm là nôm na, mộc mạc, xuề xòa, dễ dãi không câu nệ, thô thiển, không nhất quán, không cố định, tùy tiện. Nôm chính là cái tên được định danh theo đặc điểm tính chất của loại văn tự này.

Ngô Linh Ngọc (1922 - 2004)

CÁI "THẦN" VÀ CÁI "NHÃ" TRONG VẤN ĐỀ DỊCH THƠ CHỮ HÁN

VNXĐ - Ngô Linh Ngọc sinh trưởng trong một gia đình Nho học, và ông lại tự trang bị cho mình một vốn liếng Pháp văn dày dặn, khiến ông trở thành một người có hiểu biết cả Đông - Tây - Kim - Cổ. Ông cũng từng làm báo Tổ Quốc (của Đảng Xã hội). Ngô Linh Ngọc là một người rất am hiểu cổ văn, và đặc biệt yêu thích thơ Đường. Những Tương tiến tửu, Trường hận ca..nổi tiếng trong thi ca cổ điển Trung Hoa, đã được ông chuyển ngữ với tất cả tinh thần nguyên tác, bằng ngôn ngữ Việt uyển chuyển, lịch lãm và thuần Việt. Nhiều bài ông dịch đến nay chưa có ai vượt được. Xin giới thiệu bài viết này của ông.

KHẢO SÁT THÊM VỀ ỨC TRAI DI TẬP

KHẢO SÁT THÊM VỀ ỨC TRAI DI TẬP

Ngày nay khi đề cập đến văn bản thơ Nguyễn Trãi, chúng ta không thể không nhắc tới bộ Ức Trai di tập (1). Đây là bộ sách được biên tập vào thế kỷ thứ XIX, nội dung thu thập một số lượng tư liệu khá phong phú, nhờ đó trở thành văn bản quan trọng nhất lưu truyền cho đời sau nhiều trước tác thuộc các lĩnh vực của Nguyễn Trãi. Đáng quí nữa là sách đã được khắc in, nhờ đó càng làm tăng thêm độ tin cậy của văn bản. Nhưng bên cạnh bản in và vài bản sao in lại nguyên bản in này, hiện cũng còn nhiều bản chép tay khác cũng liên quan đến sách ƯTDT. Mặt khác hầu hết những bản chép tay này đều tỏ ra tàn khuyết, thiếu hoàn chỉnh, đồng thời không thể tránh khỏi lỗi về sao chép thông thường, nhưng mặt khác trong chúng lại có chứa nhiều điểm khác biệt cả về hình thức lẫn nội dung so với bản in, khiến ta phải nhìn nhận chúng với tư cách là những dị bản (chứ không phải bản sao đơn thuần). Cá biệt còn có những dấu hiệu cho thấy niên đại sao chép của chúng còn lớn hơn bản in nhiều năm. Biên tập, chỉnh lý sách ƯTDT là một quá trình kéo dài hàng mấy chục năm, kể từ khi thu thập tài liệu cho đến lúc khắc ván in. Muốn đi sâu tìm hiểu về quá trình đó cần phải xem xét một cách toàn diện tất cả các văn bản hiện còn.

Bi Đình với tấm bia bằng đá Thanh nặng 20 tấn có khắc bài "Khiêm Cung Ký" do vua Tự Đức soạn thảo

TỰ ĐỨC KHIÊM CUNG KÝ VÀ LỊCH SỬ

Có thể nói "Khiêm cung ký" là một bài văn bia đặc biệt trong số văn bia các vua nhà Nguyễn, vì đây là “lời tâm sự” của một ông vua, mục đích là cố tình thanh minh cho những việc làm của mình đã từng bị thiên hạ lên án.

Hình minh họa

BẢN ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ IN VÁN GỖ CỦA PHẠM CÔNG TRỨ

Bài viết này gồm hai phần: Phần một, giới thiệu sách, xác định tác giả và niên đại; Phần hai, những tư liệu mới do bản PHẠM CÔNG TRỨ đem lại.

Giếng đá cổ nhất Việt Nam; ảnh: Phạm Duy Trưởng

GIẾNG ĐÁ CỔ NHẤT VIỆT NAM

Trong dịp tết nguyên đán Quý Tỵ (2013) tôi về quê ăn tết, khi sang thăm nhà người anh họ làm nghề hát Văn, lúc đó chương trình truyền hình đang nói về những chiếc giếng. Người anh họ liền kể cho tôi nghe về một chiếc giếng đá mà anh đã thấy ở một ngôi chùa khi anh đến hát Văn. Qua lời miêu tả của anh làm tôi rất ấn tượng, tôi liền nhờ anh dẫn đến tận nơi.


Other

  Previous page  1 2 3 4 5 6 7 8  Next page
 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc