Home » Tin tức » Nhân vật - Sự kiện

THỔ NHĨ KỲ ĐẢO CHÍNH QUÂN SỰ BẤT THÀNH (KỲ II)

SUNday - 17/07/2016 08:27
Kỳ II: Một số nguyên nhân của cuộc đảo chính
Trước thời điểm diễn ra cuộc đảo chính ngày 15-7-2015, Nga và Thổ đã tiến rất gần đến một sự hòa giải sau 8 tháng căng thẳng.

Trước thời điểm diễn ra cuộc đảo chính ngày 15-7-2015, Nga và Thổ đã tiến rất gần đến một sự hòa giải sau 8 tháng căng thẳng.

3- Xung đột giữa chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa Tân Ottoman.
Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ là một quân đội có năng lực “làm đảo chính chuyên nghiệp” ! Nói như vậy có gì quá đáng không ? Hoàn toàn không ! Người ta từng biết đến 4 cuộc đảo chính thành công của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ và các vụ can thiệp của quân đội vào chính trường nước này trong hơn nửa thế kỷ qua.
Năm 1960, khi đảng cầm quyền của Thủ tướng Adnan Menderes ngày càng rời xa các nguyên tắc thế tục được đặt ra bởi Mustafa Kemal Ataturk, một cựu sĩ quan quân đội đã sáng lập nền Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Chính phủ bị chỉ trích khi cho phép dân chúng hoạt động tôn giáo, mở hàng trăm nhà thờ và cho phép cầu nguyện bằng tiếng Arab. Khi tình hình căng thẳng trong nước lên cao, ngày 27-5-1960, 38 sĩ quan cao cấp của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ dưới sự lãnh đạo của tướng Cemal Gursel đã tổ chức đảo chính lật đổ chính quyền với tuyên bố “đưa đất nước trở lại với nền dân chủ công bằng, trong sạch và vững chắc”. Kết quả của cuộc dảo chính này là Tổng thống Celal Bayar, Thủ tướng Adnan Menderes và các quan chức chính phủ khác bị bắt giữ và xét xử vì tội phản quốc. Thủ tướng Menderes sau đó bị treo cổ. Tướng Gursel lên làm tổng thống kiêm thủ tướng trong một chế độ đọc tài quân sự và nắm quyền cho tới năm 1966, khi một chính phủ dân chủ mới được bầu lên. Tuy nhiên, chính phủ dân bầu cũng chỉ tồn tại được 5 năm.
Đúng 11 năm sau cuộc đảo chính lần trước, năm 1971, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ một lần nữa lật đổ chính quyền. Khác với cuộc đảo chính nhanh gọn năm 1960, cuộc đảo chính lần này diễn ra sau nhiều tháng bạo lực và bất ổn trong nước. Điểm đặc sắc của cuộc đảo chính là này nó không diễn ra trong bạo lực mà thông quan các bức thư trao đổi giữa lãnh đạo quân đảo chính và chính quyền. Do đó, nó được gọi là “cuộc đảo chính qua bản ghi nhớ”. Khi đó, Tướng tổng tư lệnh quân đội Thổ Memduh Tagmac ra tối hậu thư cho Thủ tướng Suleyman Demirel, ép ông này phải từ chức. Cũng khác với vụ đảo chính năm 1960, sau đảo chính lần này, quân đội không đứng ra nắm quyền lực nhưng đã thành lập một Hội đồng Giám sát quốc gia để giám sát một loạt chính phủ chuyển tiếp cho đến năm 1973, khi một chính phủ chính thức, hợp hiến được bầu lên.
Tuy nhiên, chính trường Thổ Nhĩ Kỳ sau đảo chính không vì thế mà yên ắng. Bất ổn và khủng hoảng chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ vẫn không có dấu hiệu cải thiện sau vụ đảo chính năm 1971. Trong vòng 7 năm, đã có tới 5 chính phủ của các đảng phái thay nhau lên cầm quyền và không có một chính phủ nào thực hiện được cương lĩnh do chính mình hoạch định Tình hình đó khiến cho quân đội Thổ Nhĩ Kỳ quyết định can thiệp để giải quyết tình hình theo cách của họ. Ngày 12-9-1980, quân đội dưới sự lãnh đạo của tướng Kenan Evren đã tuyên bố tiến hành đảo chính trên truyền hình, cùng với thông báo thiết quân luật trên toàn quốc. Quân đội tuyên bố phế truất chính pohur hiện hành, giải tiasn quốc hội, bãi bỏ hiến pháp và xây dựng một hiến pháp mới, quy định tổ chức trưng cầu dân ý vào năm 1982. Tướng Kenan Evren, một trong những tướng lĩnh tổ chức đảo chính đã trở thành tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt 7 năm sau đó.
Đến năm 1997, tại Thổ Nhĩ Kỳ lại xảy ra một vụ đảo chính khác. Vụ đảo chính này không đổ máu và giống như vụ đảo chính năm 1980, đó là vụ đảo chính bằng “bị vong lục quân sự”. Khi đó, do lo ngại về sự hiện diện ngày càng tăng của các đảng phái Hồi giáo trong nước, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ dưới sự chỉ huy của tướng Ismail Hakki Karadayi đưa ra một bị vong lục (có giá trị như tối hậu thư) đối với chính quyền. Bị vong lục quân sự này nêu ra một loạt kiến nghị, như đóng cửa các trường học tôn giáo, cấm sinh viên đại học đeo mạng che mặt. Chính quyền không có lựa chọn nào khác ngoài tiếp thu những khuyến nghị này. Thủ tướng Necmettin Erbakan bị các tướng lĩnh ép phải từ chức, một chính phủ lâm thời được lập ra, và quân đội cuối cùng tước quyền lực của đảng Phúc lợi cầm quyền vào năm 1998.
Cũng trong năm đó, ông Recep Tayyip Erdogan, lúc đó là Thị trưởng thành phố Istanbul đã bị bắt và bị cấm tham gia chính trị trong 5 năm vì đã công khai đọc một bài thơ Hồi giáo. “Cuộc đảo chính mềm” này thành công một phần nhờ quân đội đã bắt tay với giới doanh nhân, các cơ quan tư pháp, truyền thông và các lãnh đạo chính trị các đảng phái đói lập. Theo các chuyên gia phân tích, sở dĩ quân đội Thổ Nhĩ Kỳ có thể can thiệp nhiều vào chính trị như vậy là do Hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ cho phép quân đội có quyền can thiệp vào nội tình đất nước khi cần và các lãnh đạo quân sự không chịu sự chi phối của bất kỳ đảng phái chính trị nào.
Trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ, người ta không còn klaj gì quãng thời gian huy hoàng kéo dài hơn 600 năm của dân tộc nào dưới thời Đế chế Ottoman, một nền quân chủ hồi giáo hà khắc, tàn bạo, từng thống trị toàn bộ vùng Tây Nam Á, Trung Cận Đông, Bắc Phi, Balkan Kavkaz và phần phía Nam của Đông Âu, phát huy ảnh hưởng đến tận sườn phía Đông Nam của đế quốc Áo - Hung. Cho đến nay, đa số người dân Thổ Nhĩ Kỳ vẫn mong muốn đất nước họ trở lại thời kỳ hoàng kim ấy.
Những người ủng hộ các cải cách của Atatürk và những người theo chủ nghĩa Hồi giáo đại diện cho hai cực về vai trò của tôn giáo trong sinh hoạt công cộng. Quan điểm của phe thân Atatürk về đại thể là kết hợp một loại chế độ dân chủ với một hiến pháp tách tôn giáo khỏi nhà nước và phương thức hoạt động thế tục theo mô hình phương Tây, ủng hộ sự can thiệp của nhà nước trong kinh tế, giáo dục, và các dịch vụ công cộng khác. Từ thập niên 1980, sự gia tăng bất bình đẳng về thu nhập và phân biệt đẳng cấp khiến chủ nghĩa dân túy Hồi giáo nổi lên. Đây là một phong trào mà theo lý thuyết thì nó ủng hộ nghĩa vụ với chính quyền, đoàn kết cộng đồng và công bằng xã hội.
Khi Chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ lên đến đỉnh điểm, Thổ Nhĩ Kỳ đã làm một động thái mở đường cho quá trình tái Hồi giáo hóa quốc gia này. Năm 1974, sau 50 năm tước quyền công dân của dòng họ Osmani, Nghị viện Thổ Nhĩ Kỳ đã trao quyền tái yêu cầu quyền công dân Thổ Nhĩ Kỳ cho những con cháu của dòng họ này. Họ đều đã thực hiện điều đó trong những thập niên tiếp sau và quá trình này đã hoàn thành với việc người đứng đầu dòng họ là Ertuğrul Osman V đã được trao quyền công dân Thổ Nhĩ Kỳ năm 2004. Từ những năm 1990, sau khi Liên Xô tan rã, những người Thổ Nhĩ Kỳ theo xu hướng Hồi giáo hóa bắt đầu nối lại quan hệ với các nước Cộng hòa Trung Á thuộc Liên Xô cũ, tạo nên những ảnh hưởng đối nội và đối ngoại đáng kể cho họ. Ngày 3-11-2002, trong một cuộc bầu cử trước thời hạn, Đảng Công lý và phát triển (APK) có xu hướng tư tưởng Hồi giáo hóa đã bất ngờ thắng cử, chiếm 35% số phiếu hợp lệ, giành được 362/550 ghế trong Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 16-11-2002, Phó Chủ tịch Đảng AKP Abdullah Gül được Chủ tịch AKP Recep Tayyip Erdoğan (hiện là đương kim Tổng thống) giới thiệu vào chức vụ Thủ tướng. Quá trình tái Hồi giáo hóa Thổ Nhĩ Kỳ được đẩy mạnh.
Vấp phải sự phản đối của các đảng theo chủ nghĩa thế tục ở Thổ Nhĩ Kỳ, Abdullah Gül phải rời khỏi chức vụ Thủ tướng và Recep Tayyip Erdoğan lên nắm chức vụ này. Tháng 5-2007, Abdullah Gül ra tranh cử chức vụ Tổng thống như bị Tòa án tối cao Thổ Nhĩ Kỳ ra lệnh cấm vì ông ta đã để cho vợ dùng một “hijab”, một thứ khăn trùm đầu mà những người theo phái thế tục cho đó là một biểu tượng của Hồi giáo chính trị. Thế nhưng trong cuộc bầu cử Quốc hội diễn ra tháng 7 năm đó, AKP lại giành thắng lợi và Tổng thống Ahmet Necdet Sezer phải từ chức. Ngày 28-8-2007, Abdullah Gül trở thành Tổng thống thứ 11 của Thổ Nhĩ Kỳ đến năm 2014.
Đảng AKP do Recep Tayyip Erdoğan sáng lập năm 2001, tập hợp những chính trị gia, các doanh nhân và những trí thức có xu hướng trung hữu và bảo thủ. Về đối nội, dảng này ủng hộ việc phát huy những truyền thống Hồi giáo, xây dựng một liên minh với những người Hồi giáo cánh hữu, những người theo chủ nghĩa dân tộc, tầng lớp trung hữu, những người Hồi giáo bảo thủ. Trong một thời gian dài, đảng này giành được sự hỗ trợ của phong trào Hồi giáo Cemaat do giáo sĩ Hồi giáo Fethullah Gülen đứng đầu. Fethullah Gülen là người rất có ảnh hưởng trong ngành tư pháp đã giúp sức cho AKP để làm suy yếu các phe phái đối lập chống lại AKP. Về đối ngoại, đảng này chủ trương thắt chặt liên minh với Mỹ và phương Tây, duy trì địa vị của Thổ Nhĩ Kỳ trong NATO và xúc tiến gia nhập EU.
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng AKP đã có một chương trình hành động bí mật mặc dù họ vẫn cố chứng minh là họ theo chủ nghĩa thế tục. Chính AKP cũng đặt quan hệ và hỗ trợ đắc lực cho Tổ chức khủng bố cực đoan “Anh em Hồi giáo” ở Ai Cập. Cả hai chính sách đối nội và đối ngoại của đảng này được coi là là Quý tộc Hồi giáo hay chủ nghĩa Tân Ottoman, ủng hộ cho sự hồi sinh của nền văn hóa Ottoman trên cơ sở dung hòa với nguyên tắc cộng hòa thế tục, đồng thời tăng cường sự hiện diện trên các khu vực trong lãnh thổ Ottoman cũ.
Sau 14 năm thi hành chính sách nói trên, AKP đã làm cho Thỏ Nhĩ Kỳ chỉ còn là nước cộng hòa thế tục ở cái vỏ. Còn bên trong, xu hướng tái khalip hóa đã trỗi dậy và dần dần thay thế chủ nghĩa thế tục. Một mặt, chính sách này tránh cho Thổ Nhĩ Kỳ khỏi sự trả đũa của các lực lượng khủng bố Hồi giáo cực đoan, tạo điều kiện cho Ankara rảnh tay trấn ấp những người Kurd đòi độc lập. Nhưng mặt khác, chính sách đó cũng dần dần biến Thổ Nhĩ Kỳ thành nơi ẩn nàu an toàn cho các tổ chức khủng bố Hồi giáo. Những nhà tư sản, doanh nhân Thổ Nhĩ Kỳ là tín đồ Hồi giáo đã không ngần ngại “chìa bàn tay”, “móc hầu bao” hỗ trợ cho các nhóm Hồi giáo khủng bố trong khu vực.
Chính sách của AKP do Recep Tayyip Erdoğan chỉ đạo đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ trong nước khiến cho trong hai năm gần đây, Ankara đã phải dùng vũ lực để chống lại nhưng người phản đối AKP. Ngày 23-5-2013, một cuộc biểu tình lớn do các nhà hoạt động môi trường tổ chức đã diễn ra tại Ankara Istanbul, İzmir, Bursa, Samsun, Edirne, Kayseri, Isparta, Adana, Eskişehir, Antalya, Diyarbakır, Giresun và phần lớn các thành phố lớn của Thổ Nhĩ Kỳ. Thành phần tham gia biểu tình bao gồm cả các cá nhân từ hai phe cánh tả và cánh hữu, gồm cả người Thổ Nhĩ Kỳ, người Kurd, người Armenia, người Hy Lạp và người Do Thái. Những sự bất bình của những người biểu tình bao gồm từ những mối quan tâm của chính quyền đến môi trường, các vấn đề như chủ nghĩa độc đoán của Thủ tướng Recep Tayyip Erdoğan và nội chiến ở Syria. Hàng trăm nhười bị thương, khoảng 1.700 người bị bắt.
Từ ngày 14 đến ngày 16-2-2014, một cuộc biểu tình tuần anh lớn khác đã diễn ra tại Istambul có sự tham gia của hàng chục nghìn người với khẩu hiệu “Công lý cho Thổ Nhĩ Kỳ”. Cuộc biểu tình được tổ chức để phản đói dự luật cải cách tư pháp cho AKP đệ trình với mục tiêu thu hẹp quyền lực của bộ máy tư pháp Thổ và siết chặt quyền lực của chính phủ Thổ đối với các cơ quan tư pháp. Những người biểu tình yêu cầu là rõ những cáo buộc tham nhũng nhằm vào con trai của 3 vị bộ trưởng trong một cuộc điều tra chống tham nhũng quy mô lớn, bắt đầu từ tháng 12-2013.
Chưa hết, ngày 10-10-2015, những người biểu tình ôn hòa đang tuần hành ở ankara để phản đối chính sách của chính quyền dùng vũ lực chống người Kurd PKK đã bị hai kẻ đánh bom tự sát. 95 người thiệt mạng và 246 người bị thương, trong đó có 48 người bị thương nghiêm trọng. Tuy chưa có tổ chức nào đứng ra nhận trách nhiệm những chính quyền Thổ đã lập tức quy kết cho tổ chức Nhà nước Hồi giáo IS gây ra vụ khủng bố đẫm máu này. Đảng Dân chủ Nhân dân (HDP) ủng hộ người Kurd đã chỉ rích về việc chính phủ không thể bảo vệ được công dân của mình. Còn Bộ trưởng phụ trách các vấn đề Liên minh châu Âu (EU) Ali Haydar Konca và Bộ trưởng Phát triển Muslum Dogan thì đã từ chức để phản đối chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành các chiến dịch quân sự chống lại các tay súng PKK. Tuy chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng những kẻ đánh bom muốn “phá” cuộc bầu cử bất thường của Thổ vào tháng 11-2015 nhưng thực tế cho thấy AKP lại giành thắng lợi và chiếm đa số trong Quốc hội.
Gần đây nhất, trước những cáo buộc từ phía Nga và một số cơ quan thông tấn rằng bộ máy tình báo Thổ và một số quan chức trong chính quyền Erdogan đã bắt tay với IS, tuồn vũ khí cho chúng và buôn dầu lậu với quy mô lớn, chính quyền Thổ đã bắt giam tổng biên tập tờ Cumhuriyet, ông Can Dundar cùng phóng viên của tờ này ở Ankara là Erdem Gul và khép họ vào tội phản quốc do xuất bản những hình ảnh vũ khí được cho là do tình báo Thổ Nhĩ Kỳ đưa vào Syria cho IS. Những thước phim do các nhà báo này quay tại hiện trường cho thấy cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ mở các thùng chứa vũ khí, đạn dược nằm sau xe tải, được cho là của cơ quan tình báo quốc gia MIT trên đường đi sang Syria. Ngoài ra, phong trào Fethullah Gulen, từng là đồng minh thân tín với Tổng thống Erdogan, nhưng nay lại bị Ankara coi là tổ chức khủng bố. Sự căng thẳng lên đến đỉnh điểm vào ngày 28-11-2015 khi ông Tahir Elci, Chủ tịch đoàn luật sư, người bị Ankara chỉ trích mạnh vì bác bỏ việc Thổ Nhĩ Kỳ chính thức gọi Đảng Công nhân Kurd (PKK) là một tổ chức khủng bố, bị bắn vào đầu trong lúc đang phát biểu tại tỉnh Diyarbakir. Cùng ngày hôm đó, hơn 2.000 người đã biểu tình tại Istambul để phản đối chính phủ khiến cảnh sát Thổ phải dùng hơi cay và vòi rồng để đán áp cuộc biểu tình.
Chính sách ngày càng thân hữu cũng như chủ trương Hồi giáo hóa Thổ Nhĩ Kỳ của chính quyền Ankara hiện nay rõ ràng đang vấp phải những sự chống đối mạnh mẽ từ trong nước cũng như sự bất bình từ phương Tây. Để gỡ bí cho những vấn đề này, Mỹ và phương Tây đã chọn được một giải pháp nhất cử lưỡng tiện, đấy Thổ Nhĩ Kỳ đối đầu với Nga nhằm làm cho tình hình Trung Đông thêm phức tạp cũng như tiến trình hòa bình cho Syria mà Nga khởi xướng bị trì hoãn. Hành động này cũng cho thấy thái độ không chỉ là hai mặt mà là bốn - năm mặt của Mỹ và phương Tây trong cuộc xung đột ở Trung Đông hiện nay cũng như ở các khu vực khác trên thế giới khi gặp phải những thế lực mạnh cản trở mưu đồ của họ.
Điểm lại những diễn biến trên đây tại chính trường Thổ Nhĩ Kỳ trong 55 năm qua, chúng ta có thể thấy căn nguyên sâu xa của cuộc đảo chính bất thành ngày 15-7-2016 vừa qua cũng như 4 cuộc đảo chính trước đó xảy ra tại nước này là môt phần của cuộc đấu tranh chính trị giữa hai thế lực theo “Chủ nghĩa thế tục Ataturk” và “Chủ nghĩa Hồi giáo Tân Ottoman”. Xét về động cơ trực tiếp, quan điểm của giới quân sự Thỏ Nhĩ Kỳ tương đối đồng nhất với quan điểm của giáo sĩ Fethullah Gulen về việc tách tôn giáo khỏi nhà nước, trong khi những người theo “Chủ nghĩa Hồi giáo Tân Ottoman” thì ngược lại. Và chính quyền của Tổng thống Recep Tayyip Erdogan cũng đã ngả theo Chủ nghĩa Tân Ottoman để duy trì địa vị trongh một đấy nước có tới 96,4% cư dân đăng ký là tín đồ Hồi giáo này.

4- Từ những động thái bất ngờ gần đây của ông Recep Tayyip Erdogan.
Trong cuộc chiến chống IS ở Syria, Thổ Nhiwx Kỳ đóng vai “ngư ông” trong cuộc chiến ở Syria và mượn cuộc chiến này để một mặt, trấn áp các lực lượng người Kurd, bất kể là “Kurd dân chủ” (được Mỹ ủng hộ) hay “Kurd lao động” (được Nga ủng hộ); mặt khác, hỗ trợ cho lực lượng Turman chiếm cứ vùng bắc Syria nới có lăng mộ Suleyman Shah, hoàng đế vĩ đại nhất của Đế quốc Ottoman một thời hùng mạnh trên lãnh thổ Syria.
Tuy nhiên, sư dính líu của Thổ Nhĩ Kỳ với IS bị cơ quan tình báo Nga FSB phát hiện và phơi bày ra ánh sáng đã giáng một đòn mạnh vào uy tín của liên minh chố IS do Mỹ đứng đầu. Không chỉ cả Mỹ và các nước NATO mất uy tín mà vị thế của Nga tại Trung Đông còn được nâng cao nhờ các hoạt động không kích có hiệu quả của họ cúng như liên minh tay ba Nga – Iran – Syria trở nên bền chặt, có nguy cơ làm phá sản kế hoạch khống ché vùng Trung Đông, một phần kế hoạch Đại Trung Đông của Mỹ.
Bị cả hai phía cô lập, Thổ Nhĩ Kỳ phản ứng như một kẻ mất trí khi quyết định cho tốp F-16 cất cánh từ Incirlik xâm phạm không phận Syria để bắn rơi chiếc cường kích Su-24 của Nga đang không kích các lực lượng IS bên trong lãnh thổ Syria. Còn lực lượng Turman dưới mặt đất đã bắn chết phi công Oleg Peshkov của Nga. Sự kiện này đã dẫn đến việc đóng băng quan hệ Nga – Thổ trong suốt 10 tháng qua, gây cho Thổ Nhĩ Kỳ không ít thiệt hại. Trong suốt 10 tháng đó, chính quyền Tayyip Erdogan từ chối đưa ra lời xin lỗi đối với Nga.
Tuy nhiên, chỉ trong hơn 1 tháng qua, thái độ của Ankara đối với Moskva đột ngột thay đổi kể từ khi thủ tướng Thổ Ahmet Davutoğlu từ chức và được thay thế bằng Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, hàng hải và truyền thông Binali Yıldırım. Trước hết, Tòa thượng thẩm của Thổ Nhĩ Kỳ phục hồi điều tra vụ bắn rơi máy bay Su-24 của Nga theo thủ tục tái thẩm, tống giam kẻ đã bắn chết phi công Oleg Peshkov của Nga và dự kiến đưa tên này ra tòa. Ông Tayyip Erdogan cũng đánh tiếng với Damascus về việc giảm căng thẳng, tiến tới bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Rõ ràng, những hành động này của chính quyền Ankara đã làm phật ý một số quân chức quân sự Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt là những sĩ quan từng tham giá lực lượng vũ trang thống nhất của NATO, được Mỹ và NATO đào tạo, những người muốn tiếp tục cuộc chiến ở Syria. Ngay sau khi đảo chính diễn ra, Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng và An ninh thuộc Hội đồng Liên bang Nga (tức Thượng viện Nga) Viktor Ozerov đã đưa ra nhận xét: “Nguyên nhân đảo chính nằm trong tổng thể nhiều vấn đề, tuy nhiên không loại trừ khả năng lời xin lỗi Nga của Tổng thống Erdogan và việc thay đổi chính sách của Ankara trong cuộc chiến chống tổ chức khủng bố IS đã trở thành nguồn cơn thôi thúc giới quân đội Thổ Nhĩ Kỳ hết kiên nhẫn.”.
Bên cạnh đó, những thông tin từ nội bộ quân đội Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy vào ngày hôm sau (16-7) sẽ diễn ra một cuộc thanh tra toàn diện đối với quân đội Thổ Nhĩ kỳ. Cơ quan an ninh và Tòa án Thổ Nhĩ Kỳ đã có trong tay những bằng chứng về sự dính líu của nhiều sĩ quan cao cấp trong quân đội với phong trào Gulen, còn gọi là phong trào Hizmet (Phụng sự) của Giáo sĩ Fethullah Gulen đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật ở Thổ Nhĩ Kỳ. Kế hoạch bắt giữ được trù tính vào 4 giờ sang ngfay 16-7-2016. Tuy nhiên, quân đảo chính đã ra tay trước để khỏi lâm vào thế bị động.
Một chính trị gia Nga khác, Quyền tổng thống Chechnya Ramzan Kadyrov cho rằng nỗ lực đảo chính quân sự ở Thổ Nhĩ Kỳ có thể liên quan đến thực tế rằng hiện nay Tổng thống Tayyip Erdogan bắt đầu thực hiện một chính sách độc lập hơn đối với phương Tây. Ông này cho rằng “sự thay đổi trong cách tiếp cận của Thổ Nhĩ Kỳ với các sự kiện ở Syria, cũng như chính sách độc lập hơn của ông Erdogan đối với phương Tây có thể kích động các tướng lĩnh “thân phương Tây” đảo chính giành chính quyền trong cả nước.” Nhận định của Ramzan Kadyrov không phải là không có cơ sở bởi trong lịch sử, tất cả các đồng minh, bạn bè, tay sai của Mỹ khi muốn hành động độc lập với Mỹ và phương Tây, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Mỹ và phương Tây đều được Mỹ và phương Tây “tặng” cho các “món quà” hết sức “giá trị”, đó là các “cuộc đảo chính” là các cuộc “gây rối loạn nội bộ”. Thổ Nhĩ Kỳ cũng không phải là ngoại lệ, cả Tayyip Erdogan lẫn Ngô Đình Diệm cũng đều không phải là ngoại lệ. Chỉ có điều Tayyip Erdogan may mắn hơn Ngô Đình Diệm. Vậy ai có thể giúp Erdogan thoát hiểm ?
Lần ngược trở lại thời gian 7 đến 8 tháng về trước, khi không quân Thổ Nhĩ Kỳ táo tợn bắn rơi chiếc cường kích Su-24 của Nga đang hoạt động trong không phận Syria, Ngày 5-12-2015, chuyên gia Mỹ Scott Bennet đã nhấn mạnh khả có thể xảy ra là một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Erdogan. Trong một cuộc phỏng vấn độc quyền với hãng truyền thông Nga Sputnik, ông này cho rằng có khả năng xuất hiện đảo chính lật đổ chính quyền Ankara và lực lượng có thể làm điều này chính là quân đội được chỉ huy bởi các tướng lĩnh dưới quyền của ông Erdogan. Ông này nhấn mạnh “Tôi cho rằng quân đội của chính ông ta sẽ nổi dậy, loại bỏ Erdogan và con trai ông ta. Khi đó, một chiến quyền mới sẽ ổn định hơn và Nga có thể thiết lập lại một mối quan hệ với với Thổ Nhĩ Kỳ. Khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ hòa bình với Tổng thống Syria Assad. Châu Âu cũng sẽ biết ơn điều này vì chính Erdogan đã gián tiếp tạo ra dòng người di cư ồ ạt vào các nước này trong nửa năm qua. Hành động đó của Ankara giống như việc Erdogan đang tống tiền châu Âu.”
Đúng là cuộc đảo chính đã diễn ra nhưng lại không hoàn toàn đúng như dự báo của Scott Bennet mà là ngược lại. Những thế lực trung lập hoặc thân Nga trong quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã không làm đảo chính mà là những thế lực thân Mỹ và phương Tây, được dung dưỡng tại Mỹ, những thế lực một thời là đồng minh chính trị của cả đương kim Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ và đảng AKP cầm quyền. Một lần nữa, câu hỏi lại được đặt ra: Ai đã giúp Tayyip Erdogan khỏi rơi vào thảm cảnh của Ngô Dình Diệm ? Giải đáp được câu hỏi này coi như tìm thấy nguyên nhân trực tiếp của cuộc đảo chính.

5- Moskva và Washington – Ai muốn lật đổ Tayyip Erdogan tại thời điểm này?
Một ngày sau khi dẹp tan cuộc đảo chính, Tổng thống Tayyip Erdogan tuyên bố thẳng thừng rằng giáo sĩ Fethullah Gulen, người lãnh đạo phong trào Hồi giáo Gulen đã bị chính quyền Thổ đặt ra ngoài vòng pháp luật và hiện đang số lưu vong tại bang Pensilvania (Mỹ) chính là kẻ giật dây cuộc đảo chính và người Mỹ chống lưng cho ông này. Tổng thống Thổ cũng yêu cầu Mỹ dẫn độ Fethullah Gulen về Thổ Nhĩ Kỳ. Ngay lập tức, Nhà Trắng bác bỏ cáo buộc về việc Mỹ dính líu vào cuộc đảo chính. Còn Fethullah Gulen thì “tố ngược” chính quyền Thổ “dàn dựng” cuộc đảo chính để lấy cớ đó buộc tội ông ta. Từ cấp độ thấp hơn, Thủ tướng Thổ đương nhiệm Binali Yıldırım còn đưa ra một lời tuyên bố “kinh khủng” hơn: “Mỹ không phải là bạn của Thổ Nhĩ Kỳ”. Không những thế, hai ngày sau cuộc đảo chính, mặc dù tuyên bố rằng quan điểm chống IS của Thổ Nhĩ Kỳ không thay đỏi những chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã tuyên bố cấm các máy bay của Mỹ và NATO cất cánh từ căn cứ không quân của Thổ tại Incirlik để ném bom các vị trí của IS ở Iraq và Syria.
Chỉ trong vòng 2 ngày, những thông tin “động trời” khác tiếp tục được đưa ra. Ngày 17-7-2016, phát biểu trên Đài truyền hình quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, Thị trưởng Ankara Ibrahim Gokcek nói rằng một trong những kẻ tham gia cuộc nổi loạn quân sự vừa qua là thành viên tổ chức của nhà truyền giáo Gulen và chính là người bắn hạ chiếc Su-24 của Nga hồi tháng 11 năm 2015. Cùng ngày, hãng thông tấn Sabah đưa tin: cựu Tư lệnh Không quân Thổ Nhĩ Kỳ, tướng Akin Ozturk đã bị bắt giữ do bị cáo buộc là kẻ lãnh đạo cuộc đảo chính. truyền thông Thổ Nhĩ Kỳ cho biết tướng Ozturk có thể liên quan với nhà thuyết giáo đối lập Fethullah Gulen mà các nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ cho là tổ chức cuộc đảo chính. Trong một diễn biến khác, Thủ tướng Binali Yıldırım đã thông tin trong một cuộc họp báo rằng “Những người lập ra ủy ban đảo chính bất hợp pháp đã bị lộ tên tuổi và sẽ bị bắt giữ. Số lượng bị bắt là 2.839 người, trong số đó có các sĩ quan cấp cao của quân đội gồm 5 viên tướng và 29 đại tá” Thủ tướng Thổ cho biết: “Các nhà lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ không nghi ngờ gì về sự trung thành của các quân nhân cao cấp không ủng hộ cuộc đảo chính, họ sẽ vẫn giữ chức vụ của mình”.
Người ta không thể không đặt câu hỏi rằng tại sao chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã nhanh chóng xác định danh tính nững kẻ phản loạn ? Tại sao quân đội trung thành với Chính phủ Thổ hầu như không bị bất ngờ về cuộc đảo chính ? Trong khi đó đa số người Nga tại Thổ Nhĩ Kỳ không hề biết gì vè âm mưu đảo chính, còn một bộ phận quân đảo chính thì lại cho rằng dó là một cuộc tập trận thông thường ? Câu hỏi này có thể được giải đáp bằng một sự kiện, đó là việc ngày 27-6, Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Mevlut Cavusoglu đến dự hội nghị ngoại trưởng các nước thành viên Tổ chức Hợp tác kinh tế Biển Đen (BSEC) tổ chức tại Sochi (Nga) theo lời mời của Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov. Lúc đó, mọi người đều nghĩ rằng việc này đơn giản chỉ là một cử chỉ hòa giải giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Nga. Nhưng sau khi cuộc đảo chính nổ ra. giới phân tích buộc phải đặt câu hỏi: Trong cuộc gặp ở Sochi bên lề Hội nghị, ông Sergey Lavrov đã “rỉ tai” ông Mevlut Cavusoglu những gì hoặc cao hơn, đã “trao tặng” ông Mevlut Cavusoglu những “món quà” gì ?
Trong một diễn biến có liên quan, ngày 6-7-2016, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan tuyên bố ông và Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ có một cuộc gặp cấp cao trong tháng 7 hoặc tháng 8. Ông này xác nhận với báo chí rằng: “Sau cuộc gặp giữa ngoại trưởng hai nước Thổ Nhĩ Kỳ và Nga ở Sochi, chúng tôi nhất trí cần phải có cuộc hội đàm giữa hai nhà lãnh đạo . Cuộc gặp có thể được tổ chức cuối tháng này hoặc trong tháng 8”. Ở chiều suy nghĩ ngược lại, người ta có thể thấy rằng nếu chính quyền của ông Tayyip Erdogan bị lật đổ thì việc “hòa giải” giữa Nga và Thổ sẽ không thành hoặc chí ít thì quá trình hóa sẽ bị kéo dài. Theo đó, Nga và Thổ cùng tiếp tục chịu nnuwxng thiệt hại không nhỏ. Vậy, ai được lợi nếu như chiesnh quyền của Tayyip Erdogan đổ. Câu trả lời hoàn toàn không khó khăn gì. Mỹ và phương Tây sẽ được lợi.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra tiếp theo của các nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ sau khi dẹp tan cuộc đảo chính nhằm vào các giới chức quân sự cầm đầu của đảo chính hụt này, trong đó viên cựu tư lệnh Không quân Thổ Nhĩ Kỳ, những kẻ trực tiếp nhúng tay vào vụ bắn rơi chiếc Su-24 của Nga, thổi bùng ngọn lửa nghi kỵ và bất hòa giữa Nga và Tổ Nhĩ Kỳ sẽ bị lột mặt nạ. Và khi đó, Mỹ khó mà trốn tránh được búa rìu của dư luận. Còn Thổ Nhĩ Kỳ thì có nhiều điều kiện thuận lợi để quét sạch ảnh hưởng của giới quân sự thân Mỹ và NATO cũng như màng lưới điệp viên của CIA trong quân đội Thổ.
Vì vậy, việc bình thường hóa quan hệ giữa Moskva và Ankara chính là điều mà cả Washington và Brussels đều không muốn. Trong khi đó thì Moskva không muốn có mọt cuộc đảo chính lật đổ chính quyền hiện hành ở Ankara khi mà tiến trình giải quyết tình hình Syria đã ở giai đoạn “cờ tàn”. Còn Nga và Thổ Nhĩ Kỳ thì đang nô lực tái khởi động hợp tác năng lượng, kinh tế… trong đó có tuyến đường ống dẫn đầu “Dòng chảy Phương Nam” đi qua Thổ Nhĩ Kỳ, tuyến đường sẽ gắn kết năng lượng giữ Nga với Châu Âu mà không cần đi qua Ukraina.
Vậy thì “dấu vân tay” của Mỹ đã hiện ra. Cuộc đảo chính dù bất thành nhưng đó là đòn cảnh cáo đối với Tayyip Erdogan khi ông này muốn hòa giải quan hệ Nga – Thổ.
(còn nữa)
Nguyễn Minh Tâm
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc