Home » Tin tức » Nhân vật - Sự kiện

Thế kỷ XXI - Thế kỷ của biển

TUEsday - 17/09/2013 07:49
Thế kỷ XXI - Thế kỷ của biển

Thế kỷ XXI - Thế kỷ của biển

Ngày 5/6/2011, tại hội nghị an ninh châu Á lần thứ 10 tại Shang riLa-Sinhgapo,Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng VN Phùng Quang Thanh đã khái quát tầm quan trọng của biển đối với kinh tế, quốc phòng an ninh các nước.Trong bài báo này, chúng tôi muốn nêu các luận chứng làm rõ vấn đề mà Đại tướng nêu ra để bạn đọc tham khảo.
Thế kỷ XXI - Thế kỷ của biển
Đại tá Ths Nguyễn Ngọc Điệp
 

Ngày 5/6/2011, tại hội nghị an ninh châu Á lần thứ 10 tại  Shang riLa-Sinhgapo,Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng VN Phùng Quang Thanh đã khái quát tầm quan trọng của biển đối với kinh tế, quốc phòng an ninh các nước.Trong bài báo này, chúng tôi muốn nêu các luận chứng làm rõ vấn đề mà Đại tướng nêu ra để bạn đọc tham khảo.
 1/ Thế kỉ 21 –thế kỉ của biển.
1.1  Biển –động mạch xanh của nền kinh tế thế giới.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, dân số thế giới tăng vọt, trình độ tiêu thụ vật chất của  một số nước nâng cao chưa từng thấy, thêm vào đó do nguồn tài nguyên phân bố không đều, tốc độ phát triển kinh tế của các nước khác nhau, làm cho sự phân công và chuyên nghiệp hóa giữa các nước từng bước được mở rộng. Về kinh tế , các nước phải dựa vào nhau, chế ước lẫn nhau, khiến mậu dịch thương mại quốc tế phát triển.Theo thống kê của WB, riêng trong lĩnh vực vận chuyển mậu dịch, hơn 80% là bằng đường biển.Trước mắt, dầu lửa là nguồn năng lượng của thế giới, từ những năm 60 của thế kỉ trước lại đây, mức độ vận tải dầu lửa trên biển tăng chóng mặt, sau những năm 80 nguồn năng lượng của các nước lớn phương Tây càng trở nên tồi tệ vì ngày càng phải dựa vào nhập khẩu dầu lửa.Ngày nay, dầu lửa mà nước Mỹ tiêu thụ trên 60% là lấy từ Trung Đông, và khối lượng dầu lửa khổng lồ ấy hoàn toàn được vận chuyển bằng đượng biển đến nước Mỹ. Một nước kinh tế phát triển hùng mạnh như Nhật Bản : 99,8% dầu lửa, 95,4% khí thiên nhiên, 99,9% quặng sắt,98,1% quặng đồng,100% quặng nhôm, thậm chí 90% muối ăn đều dựa vào nhập khấu và vận chuyển qua đường biển. Mặc dù Tây Âu một năm sản xuất trên 200 triệu tấn xăng dầu, nhưng lại tiêu thụ gần 1 tỷ tấn xăng dầu, 2/3 số săng dầu Tây Âu nhập từ vùng vịnh. Vì vậy sự vận chuyển xăng dầu cùng những vật tư chiến lược bằng đường biển quyết định lớn lao đến sự phát triển của nền kinh tế Tây Âu cũng như đối với các nước khác.
1.2  Biển- Kho báu tài nguyên: Tài nguyên là máu của nền kinh tế, là tiêu điểm tranh chấp quân sự. Trước mắt các nguồn tài nguyên truyền thống không có cách nào đáp ứng đầy đủ yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế. Theo đánh giá của Câu lạc bộ Rome: trữ lượng tài nguyên mà cả thế giới có cũng chỉ đủ đáp ứng tối đa là 500 năm nữa, đất đai có thể canh tác chỉ chiếm có 4% bề mặt trái đất, dân số thế giới đến năm 2025 sẽ khoảng 8,7 tỷ người. Ngồn tài nguyên cạn kiệt, khiến con người phải đi tìm các nguồn tài nguyên mới. Biển chính là kho báu tài nguyên vĩnh cửu của loài người. Biến chiếm 4/5 bề mặt trái đất, chứa đựng một nguồn tài nguyên phong phú: sinh vật, khoáng sản, năng lượng, hóa chất… Theo thống kê chỉ nguồn tài nguyên sinh vật biển có thể đáp ứng toàn thể nhu cầu về chấp Abumin cho khoảng 30 tỷ người. Điều quan trọng nhất là biển cung cấp nguồn tài nguyên khoáng sản khổng lồ: dầu lửa, khí thiên nhiên, than, sắt, côban… theo thống kê, trong một km3 nước biển chứa một nguồn kim loại quý trị giá khoảng 1oo triệu USD, bên cạnh đó nguồn tài nguyên đáng giá khác là: năng lượng sóng, năng lượng nhiệt, năng lượng hải lưu, năng lượng thủy triểu. Chúng đều có thể chuyển hóa thành điện năng. Về lý thuyết ước tính các nguồn năng lượng này xấp xỉ 150 tỷ kwh, trong đó khả năng khai thác là 7 tỷ kwh, tương đương với hơn chục lần sản lượng điện của toàn thế giới hiện nay. Bởi vì biển là nguồn tài nguyên tái sinh, không cạn kiệt, không gây ô nhiễm, vì vậy mặc dù trước mắt giá thành còn cao, chưa xây dựng được các nhà máy điện trên qui mô lớn , nhưng tương lai nó sẽ là một nguồn năng lượng  đáng kể của thế kỷ 21. Trên phạm vi toàn cầu, không ít nước đã thu được những nguồn của cải lớn từ biển. Cùng với sự phát triên của khoa học công nghệ, quy mô khai thác biển ngày càng lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều nước, nhanh chóng làm thay đổi địa vị và thực lực một số nước trên thế giới. Chẳng hạn, nước Anh bị suy yếu trong chiến tranh thế giới II, thêm vào đó là sự phá vỡ hệ thống thực dân sau chiến tranh, khiến kinh tế Anh suy giảm thảm hại. Nhưng nền kinh tế Anh được phục hồi từ sau khi khai thác dầu lửa tại biển Bắc, không những nước Anh trả hết nợ nước ngoài, từ một nước nhập khẩu dầu lửa trở thành nước xuất khẩu dầu lửa, sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng cường. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, Mỹ đã huy động hàng nghìn nhà khoa học tập trung nghiên cứu về biển, khai thác hợp lý biển, đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế & an ninh của nước Mỹ. Những năm gần đây một số nước đang phát triển cũng bắt đầu vươn mình khai thác biển. Na Uy vốn là một nước nghèo, thông qua khai thác dầu lửa trên biển Bắc ,đã trở thành một trong những nước giầu có ở Bắc Âu. Sự thực đã chứng minh rằng tài nguyên biển đã trở thành trụ cột phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia. Hiện nay dân số thế giới đã đạt trên 5 tỷ người, sự tăng trưởng nhanh của dân số, sự nâng cao chất lượng cuộc sống, nhu cầu tài nguyên càng lớn, nhân loại ngày càng phải dựa vào biển, khai thác biển.
1.3  Biển vừa là bình phong che chắn, lại vừa là bàn đạp cho chiến tranh.
          Đại bộ phận quốc gia & vùng lãnh thổ trên thế giới tiếp giáp biển. Hiện nay, 70% các xí nghiệp và 80% dân số toàn thế giới, hơn 200 thành phố lớn có trên 1 triệu người đều tập trung quanh vùng ven biển dài & hẹp trong vùng 200 km dọc bờ biển. Sự ổn định và an ninh của khu vực này liên quan trực tiếp đến lợi ích cơ bản của các quốc gia ven biển. Biển chính là chiếc bình phong che chắn cho các thành phố và vùng kinh tế chiến lược ấy. Nhưng biển lại không phải là thành trì che chắn không thể vượt qua. Một đất nước coi nhẹ biển, không có một nền quốc phòng ổn định và một lực lượng hải quân hùng mạnh thì biển lại trở thành con đường thuận lợi cho kể xâm lược xâm nhập vào đất liền. Kể từ sau chiến tranh thế giới lần II đến nay, các cuộc chiến tranh cục bộ xảy ra với những đặc điểm mới, trong đó điều đáng suy nghĩ là, chiến tranh trên mặt đất rủi ro lớn, hơn nữa đại bộ phận các cuộc chiến tranh trên mặt đất thường kéo dài, bên tấn công thường không đạt được mục tiêu dự định. Như: Mỹ  trong chiến tranh xâm lượcTriều Tiên, chiến tranh xâm lược Việt Nam, chiến tranh xâm lược của Liên Xô cũ tại Afganistan, chiến tranh Iran, Irac…. Đều diễn ra nhiều năm, bên xâm lược càng đánh càng sa lầy, mặc dù có trả giá rất đắt nhưng bên xâm lược cuối cùng đều nhận lời cáo chung là thất bại. Nhưng từ những năm 80 của thế kỷ 20 lại đây, mấy cuộc chiến tranh cục bộ trên biển diễn ra với thời gian được rút ngắn, rủi ro thấp, trả giá ít mà bên tấn công cơ bản lại đạt được mục tiêu đề ra. Như chiến tranh Manvinat 1982, quân Anh trong tình thế không chuẩn bị, chỉ trong một thời gian ngắn đã phái hạm đội hỗn hợp từ bản quốc hành trình khẩn cấp 13 nghìn hải lý tới vùng chiến sự Mavinat, một tuần sau khi tàu ngầm hạt nhân của Anh tiến vào vùng chiến sự, quân Anh đã bắt đầu tiến hành phong tỏa vùng biển 200 hải lý quanh đảo Mavinat. 20 ngày sau quân Anh đã hoàn thành phong tỏa kín vùng biển vùng trời Mavinat, sau đó quân Anh thành công trong việc đổ bộ trên đảo. Quân Anh dựa vào thực lực & sức mạnh vượt trội của hải quân với năng lực cơ động thần tốc nên đã giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh Mavinat. Ngày 17/1/1991 chiến tranh Vùng Vịnh nổ ra, mục đích chủ yếu là giành quyền kiểm soát dầu lửa trên vùng vịnh Ba tTư. Ngày 2/8/1990 trong ngày Irac tấn công Cô oét, tàu sân bay” Độc lập “của Mỹ đã tiến vào vùng biển Ba Tư, sau đó tàu chiến của hải quân nhiều nước đã tiến hành phong tỏa đường biển vào Irắc làm cho Irac bị cô lập với thể giới. Trong chiến tranh hiện đại, hải quân nhiều nước đã phát huy tác dụng to lớn làm cho chiến cục phát triển nhanh chóng. Chính sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ năng lực tác chiến của hải quân đã làm tăng thêm quyền lựa chọn cho các nước sử dụng lực lượng hải quân để giải quyết tranh chấp trên biển. Đối với bên phòng ngự mà nói, sự uy hiếp từ hướng biển ngày một gia tăng. Trên quan điểm quân sự, thì biến chính là bàn đạp của kẻ tấn công, cũng là bình phong lá chắn thiên nhiên của bên phòng ngự. Để bảo đảm có hiệu lực an ninh hướng biển của đất nước, các nước có biển đều tăng cường sức mạnh phòng ngự tác chiến theo hướng biển, mở rộng chiều sâu phòng ngự,tăng cường các công trình phòng ngự trên chiến trường biển và lực lượng tác chiến phòng ngự trên biển để tạo dựng môi trường an ninh ổn định trên vùng biển của đất nước.
1.4  /Biển – Tiêu điểm của cuộc đấu tranh quyền lợi. Lợi ích biển quan hệ đến vinh quang và cay đắng của mỗi đất nước, đã trở thành một trong những vẫn đề dân tộc và vấn đề quốc tế quan trọng nhất trong phạm vi toàn thế giới ngày nay. Trong bối cảnh đó, nước nào sáng suốt sẽ giành được quyền chủ động về chiến lược biển, nước nào hèn nhát dại khờ sẽ trở thành kẻ bị động. Những bài học đau đớn của lịch sự nhắc nhở chúng ta một cách sâu sắc: thứ nhất, có lưc lượng hùng mạnh trên biển thì biến chính là tấm bình phong che chắn trên lục địa, khi đó biến mới trở thành kho báu kiến tạo hạnh phúc cho dân tộc. Trái lại, biển không chỉ không có thể tạo phúc cho dân tộc mà còn trở thành con đường thông đạo và cửa ngõ cho kẻ xâm lược bành trướng; thứ hai: một dân tộc không có tri thức về biển là một dân tộc không có tương lai thịnh vượng, một nền quốc phòng mà không có quan niệm đúng đắn về phòng vệ biển là một nền quốc phòng què quặt. thêm nữa, một đất nước có biển nếu như không có một lực lượng đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi biển của họ thì không có cách gì giữ được sức sống lâu dài và địa vị của nước đó. Một dân tộc muốn kì vọng vào phát triển hòa bình, một khi lơ là tăng cường tiềm lực quốc phòng, sẽ không vượt qua được sự sàng lọc khắc nghiệt của lịch sử, cả dân tộc đó sẽ rơi vào vùng bi kịch là điều không thể tránh khỏi. Trên một ý nghĩa nào đó mà nói, nước nào tiến trước một bước trong việc khai thác biển, lợi dụng biển, thì nước đó không những mang lại lợi ích to lớn cho đất nước mình mà còn nắm quyền chủ động chiến lược cho đất nước mình trong thế kỷ này và mai sau. Vì vậy, vì tương lai của đất nước, chúng ta phải coi trọng chiến lược biển, phải coi nhiệm vụ bảo vệ và gìn giữ lợi ích biển là một mặt quan trọng của tư tưởng chỉ đạo chiến lược của nước ta từ nay về sau.
2      Nhiệm vụ trước mắt của chúng ta.
Đất nước ta phát triển gắn liền với biển Đông: Biển Đông bao bọc bởi lục địa châu Á và bán đảo Malaca về phía tây, Đài Loan, quần đảo Philippin và đảo Kalimantan về phía đông. Biển Đông có diện tích 3,5 triệu km2 được bao bọc bởi 9 nước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Brunay, Malaixia, Singapore, Thai Lan, Campuchia và vùng lãnh thổ Đài Loan.
Nước ta có một vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, có bờ biển dài 3260 km. Trong sự nghiệp xây dựng & bảo vệ tổ quốc, biển Đông có vai trò vô cùng quan trọng, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm  quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường của nước ta. Ngày nay tiềm lực biển của nước ta đã không ngừng lớn mạnh, phát triển với tốc độ khá nhanh và đã có những đóng góp quan trọng vào nhịp độ tăng trưởng của kinh tế xã hội. Mỗi  công dân chúng ta phải góp phần quan trọng trong việc xây dựng ý thức trách nhiệm của toàn xã hội đối với việc thực hiện chủ trương đường lối mục tiêu phát triển kinh tế biển đảo gắn liền với củng cố quốc phòng an ninh của Đảng. Tập trung tuyên truyền nội dung công ước quốc tế và  luật biển 1982 cũng như các quyết định pháp luật của Việt Nam về biển để làm cơ sở pháp lý đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc.
Mỗi người dân chúng ta  phải nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của biển đảo trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế, phải nhận thức rõ tầm quan trọng và tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh bảo vệ gìn giữ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển đảo của tổ quốc hiện nay. Trong thời gian tới, tình hình biển Đông tiếp tục tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định khó lường, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo nhưng phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển đảo của tổ quốc, tạo điều kiện cho đất nước hội nhập và phát triển kinh tế, phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển.
NNĐ
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc