Home » Tin tức » QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG

CHU VĂN AN

THUrsday - 07/08/2014 21:48
CHU VĂN AN (? - 1370) Hiệu Tiều Ẩn, tên chữ Linh Triệt, thụy Văn Trinh, sinh năm nào chưa rõ, người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội. Sau khi thi đậu Thái học sinh không ra làm quan, chỉ ở nhà dạy học. Năm Khai Thái đời Trần Minh Tông (1324 - 1329) nhận chức Quốc Tử Giám Tư nghiệp, dạy thái tử. Đời Trần Dụ Tông (1341- 1369), dâng sớ xin chém bảy nịnh thần, không được, bèn từ chức,về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, nay thuộc tỉnh Hải Dương. Mất năm Thiệu Khánh thứ nhất đời Trần Nghệ Tông (1370), được vua làm lễ tế và đặt tên thụy là Văn Trinh, lại cho phối thờ ở Văn miếu. Tác phẩm: Thất trảm sớ, Tiều Ẩn thi tập, Tiều Ẩn quốc ngữ thi tập, Tứ thư thuyết ước đều đã thất truyền. Hiện còn 12 bài thơ.
Tượng thờ Chu Văn An tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám (ảnh: Phạm Duy Trưởng)

Tượng thờ Chu Văn An tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám (ảnh: Phạm Duy Trưởng)

Nguyên tác:
 
 THÔN NAM SƠN TIỂU KHẾ
 
 Nhàn thân Nam Bắc phiến vân khinh,
 Bán chẩm thanh phong thế ngoại tình.
 Phật giới thanh u, trần giới viễn,
 Đình tiền phún huyết nhất oanh minh.
 
 
 
 
 
 
Dịch nghĩa:
 
TẠM NGHỈ Ở NÚI THÔN NAM
 
Thân nhàn như đám mây nhẹ bay khắp Nam Bắc,
Gió mát thổi bên gối, tâm tình để ngoài cuộc đời.
Cõi Phật thanh u, cõi trần xa vời,
Trước sân, hoa đỏ như máu, một chiếc oanh kêu.
 
Dịch thơ:
 
 Thân nhàn tựa áng mây trôi,
 Gió trăng nửa gối, việc đời nhẹ thênh.
 Cõi trần xa, cõi Phật thanh,
 Sân hoa máu đỏ chim oanh líu lường.
 
                                                    Đào Thái Tôn
                                    (Thơ văn Lý – Trần, Tập III)
 
Bản dịch khác:
 
 Thảnh thơi thân tựa áng mây vần,
 Gió mát bên tai, dứt tục trần.
 Xa cách cõi đời, thanh cõi Phật,
 Oanh kêu, hoa rỏ máu ngoài sân.
 
                                                    Huệ Chi
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 Nguyên tác:
 
 XUÂN ĐÁN
 
Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn,
Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.
Bích mê vân sắc thiên như túy,
Hồng thấp hoa sao lộ vị can.
Thân dữ cô vân trường luyến tụ,
Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan.
Bách huấn bán lành trà yên yết,
Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.
 
 
 
 
 
 
 
Dịch nghĩa:
 
SÁNG MÙA XUÂN
 
Nhà trên núi vắng vẻ, suốt ngày thảnh thơi,
Cánh cửa phên che nghiêng ngăn cái rét nhẹ.
Màu biếc át cả sắc mây, trời như say,
Ánh hồng thấm nhành hoa sương sớm chưa khô.
Thân ta cùng đám mây cô đơn, mãi mãi lưu luyến hốc núi,
Lòng giống như mặt giếng cổ, chẳng hề gợn sóng.
Mùi khói thông sắp hết, khói trà đã tắt,
Một tiếng chim bên suối làm tỉnh mộng xuân.
 
 Dịch thơ:
 
 Ngày thâu nhà núi vắng như không,
 Xếch xác rèm tre đỡ lạnh lùng.
 Chếnh choáng màu trời pha cỏ biếc,
 Đầm đìa hạt móc nhuốm hoa hồng.
 Thân quen bạn với mây rừng thẳm,
 Lòng vẫn in cùng giếng nước trong.
 Hương mới vừa pha trà đã nguội,
 Chim khe gọi tỉnh giấc xuân nồng.
 
                                                    Nhóm Lê Quý Đôn
                                    (Hoàng Việt thi văn tuyển)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyên tác:
 
MIẾT TRÌ
 
 Thủy nguyệt kiều biên lộng tịch huy,
 Hà hoa hà diệp tĩnh tương y.
 Ngư phù cổ chiểu long hà tại?
 Vân mãn không sơn hạc bất quy!
 Lão quế tùy phong hương thạch lộ,
 Nộn đài trước thủy một tùng phi.
 Thốn tâm thù vị như hôi thổ,
 Văn thuyết tiên hoàng lệ ám huy.
 
 
 
 Dịch nghĩa:
 
 AO BA BA (1)
 
Trăng nước bên cầu đùa giỡn bóng chiều hôm,
Hoa sen, lá sen, lặng lẽ tựa vào nhau.
Cá bơi ao xưa, rồng ở chốn nào?
Mây đầy núi vắng, hạc chẳng thấy về!
Mùi quế già bay theo gió làm thơm ngát con đường đá,
Rêu non đẫm nước che lấp cánh cửa thông.
Tấc lòng này hẳn chưa nguội lạnh như tro đất,
Nghe nói đến tiên hoàng luống gạt thầm giọt lệ.
 
 Dịch thơ:
 
 Trăng nước bên cầu giỡn bóng tà,
 Lặng tờ sen đứng, lá chen hoa.
 Cá bơi ao cũ, rồng đâu vắng,
 Mây phủ non suông, hạc ở xa.
 Quế cỗi gió đưa đường đá ngát,
 Rêu nan nước đẫm cửa thông nhòa.
 Tấc son nào đã như tro nguội,
 Nghe nói tiên hoàng, giọt lệ sa.
 
 Phan Võ
 (Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập II)
 
1 
Ao ở trong núi Côn Sơn, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương hiện nay. Đến đời Lê, sách “Công dư tiệp ký” vẫn còn ghi được dấu tích, nhưng nay đã mất.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyên tác:
 
SƠ HẠ
 
Sơn vũ liêu liêu trú mộng hồi,
Vi lương nhất tuyến khởi đình hòe.
Yến tầm cố lũy tương tương khứ,
Thiền yết tân thanh đoạn tục lai.
Điểm thủy khê lan vô tục thái,
Xuất ly dã duẩn bất phàm tài.
Thê ngô tĩnh cực hoàn thành lãn,
Án thượng tàn thư phong tự khai.
 
 
 
 
Dịch nghĩa:
 
ĐẦU MÙA HÈ
 
Nhà trên núi vắng vẻ, vừa tỉnh giấc mộng ban ngày,
Một làn gió mát nhẹ thổi vào cây hòe trước sân.
Én tìm tổ cũ, theo nhau từng đôi bay đi,
Ve sầu cất tiếng đầu mùa, đứt nối vọng tới.
Sen dưới khe lấm tấm trên mặt nước,
không bợn chút phàm tục,
Măng đồng nội trồi ra khỏi dậu,
chẳng phải khí chất tầm thường.
Phượng hoàng đậu cành ngô,
lặng lẽ quá đến thành lười nhác,
Cuốn sách nát để trên án, gió tự mở ra.
 
Dịch thơ:
 
 Trại vắng non phơi tỉnh giấc ngày,
 Trước sân hòe mát gió lung lay.
 Ve vui nắng mới kêu bầy lại,
 Én nhớ nhà xưa rủ bạn bay.
 Dưới suối phô thanh sen điểm sắc,
 Đầu rào vượt tục trúc khoe hay.
 Cành ngô phượng đậu lâu nên biếng,
 Sách nát trên yên tùy gió vầy.
 
                                                    Trần Lê Sáng
                                    (Thơ văn Lý – Trần, Tập III)

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc