Home » Tin tức » QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG

NGÔ SĨ LIÊN

MONday - 14/07/2014 20:45
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

NGÔ SĨ LIÊN (? - ?) Ngô Sĩ Liên là người làng Chúc Lý, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Ông tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn khá sớm, cùng với Nguyễn Nhữ Soạn (em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trãi) được Lê Lợi giao cho làm Thư ký trong quân và sứ giả. Không rõ ông sinh năm nào và mất vào năm nào, nhưng thọ tới 98 tuổi. Chỉ biết ông giữ các chức vụ quan trọng dưới các triều thời Lê sơ như Lê Thái Tôn (1434-1442), Lê Nhân Tôn (1442-1495), Lê Thánh Tôn (1460-1497). Năm Đại Bảo thứ ba đời vua Lê Thái Tôn tức năm Nhâm Tuất (1442), Ngô Sĩ Liên thi đậu tiến sĩ và được cử vào Hàn lâm viện. Khi Lê Nghi Dân giết Lê Nhân Tôn và cướp ngôi vua, Ngô Sĩ Liên giữ chức Đô ngự sử. Sau khi lên ngôi vua được ít lâu, Lê Thánh Tôn cử ông làm Sử quán tu soạn, biên soạn bộ Sử ký toàn thư. Ông đã căn cứ vào bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Sử ký tục biên mà biên soạn ra bộ Sử ký toàn thư. Bộ sách này sau mấy lần khảo đính và bổ sung, mang tên là Đại Việt Sử ký toàn thư như chúng ta hiện có.



 
ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ
(trích)
ĐẠI THẮNG QUÂN NGUYÊN
 
Ngày 26, giặc đánh vào các ải Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược, Chi Lăng, quan quân đánh bị thua, lui về đóng ở bến Vạn Kiếp. Lúc ấy vua ngự chiếc thuyền nhẹ sang lộ Hải Đông, ngày đã gần chiều, chưa ăn cơm sáng, có tiểu tốt là Trần Lai đem dâng cơm gạo xấu, vua khen là trung, ban cho tước thượng phẩm, kiêm chức Tiểu tư xã xã Hữu triều môn ở Bạch Đằng.
Hưng Đạo vương vâng lệnh điều quân dân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm, chọn người mạnh khỏe làm quân tiên phong, vượt biển vào Nam, thế quân đã hơi nổi; các quân nghe thế, không quân nào là không đến tụ họp. Vua làm thơ đề ở cuối thuyền rằng: "Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Ái do tồn thập vạn binh" (Cối Kê việc cũ người nên nhớ, Hoan Ái hãy còn mười vạn quân).
Hưng Vũ vương Nghiễn, Minh Hiến vương Uất, Hưng Nhượng vương Tảng, Hưng Trí vương Hiện đốc suất quân các xứ Bàng Hà, Na Sầm (sửa là Na Ngạn), Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn cộng 20 vạn quân đến họp ở Vạn Kiếp, theo sự điều khiển của Hưng Đạo vương, để chống quân Nguyên.
Trước đây, Hưng Đạo vương có gia nô tên là Dã Tượng, Yết Kiêu, đối đãi rất hậu. Đến khi quân Nguyên đến, Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân, Dã Tượng thì theo đi. Lúc quan quân thua trận, thuyền quân đều chạy tan, vương muốn đi theo lối chân núi, Dã Tượng nói: Yết Kiêu chưa thấy đại vương, tất không dời thuyền đi chỗ khác. Vương đi ngay đến Bãi Tân, duy có thuyền của Yết Kiêu vẫn còn ở đấy. Vương mừng lắm, nói rằng: "Chim hồng hộc bay được cao là nhờ ở sáu cái lông cánh, nếu không có sáu cái lông cánh ấy thì cũng như chim thường thôi". Vương nói xong thì thuyền chèo đi, quân kỵ của giặc đuổi theo không kịp. Vương đến Vạn Kiếp, chia quân đóng giữ ở Bắc Giang.
Sai Đinh Củng Viên quyền coi việc Thánh Từ cung Nội sát viện.
Ất Dậu, năm thứ 7 (1285) (từ tháng 9 trở đi là năm Trùng Hưng thứ 1; Nguyên Chí Nguyên thứ 22). Mùa xuân, tháng Giêng, ngày mồng 6, Ô Mã Nhi nhà Nguyên đánh vào các xứ Vạn Kiếp và núi Phả Lại, quan quân chạy tan vỡ.
Ngày 12, quân giặc đánh Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn bắt được quân của ta, thấy người nào cũng thích hai chữ "Sát Thát" bằng mực vào cánh tay, tức lắm, giết hại rất nhiều. Rồi tiến đến bến Đông, dựng cờ lớn. Vua muốn sai người đi dò tình hình giặc mà chưa biết sai ai. Chi hậu cục thủ là Đỗ Khắc Chung chạy đến tâu rằng: "Tôi là kẻ ti tiện không có tài gì xin đi". Vua mừng lắm nói: "Biết đâu trong ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ ngựa ký ấy". Bèn sai Khắc Chung đem thư đến quân Nguyên xin giảng hòa. Ô Mã Nhi hỏi rằng; "Vua nước ngươi vô lễ, sai người thích chữ "Sát Thát", khinh nhờn quân thiên triều, lỗi ấy to lắm". Khắc Chung trả lời: "Chó trong nhà cắn người lạ, vì không phải là chủ nó. Do lòng trung thành tức giận, họ tự thích mực lấy, quốc vương tôi có biết đâu. Tôi là kẻ hầu gần, sao việc ấy lại không có?". Bèn giơ cánh tay cho xem. Mã Nhi nói: "Đại quân ta ở xa đến đây, nước ngươi sao không trở ngược giáo đều đến ra mắt, mà lại chống cự mệnh lệnh? Càng con bọ ngựa chống lại bánh xe, rồi sẽ ra sao?" Khắc Chung trả lời: "Hiền tướng không theo kế sách của Hàn Tín bình nước Yên này xưa, đóng quân ở đầu địa giới, đưa thư tín trước, nếu không chịu hòa hiếu mới là có lỗi; nay đem quân bức nhau, tức như người ta nói "muông cùng phải đánh lại, chim cùng phải mổ lại", huống chi là người!". Mã Nhi nói: "Đại quân của ta mượn đường nước ngươi để đi đánh Chiêm Thành, vua nước ngươi nếu đến gặp nhau thì trong cõi yên ổn, không xâm phạm mảy may, nếu cứ chấp mê thì trong khoảng giây phút núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ mục". Khi Khắc Chung về rồi, Mã Nhi bảo các tướng rằng: "Người ấy đương lúc bị uy lực áp chế mà lời nói sắc mặt vẫn tự nhiên, không hạ thấp chủ nó làm Chích, không nịnh hót ta làm Nghiêu, nước nó có người giỏi, chưa dễ đánh lấy được". Sai người đuổi theo nhưng không kịp.
Ngày 13, giờ mão, Khắc Chung từ chỗ quân Nguyên trở về, quân giặc theo chân đến, cùng với quan quân đánh nhau.
Ngày 28, Hưng Đạo vương bàn xin thượng tướng thái sư Quang Khải ngăn quân của nguyên soái Toa Đô ở Nghệ An.
Tháng 2, ngày Giáp Thìn mồng 1, con thứ của Tĩnh Quốc đại vương Quốc Khang là Thượng vị Chương Hiến hầu tên là Kiện và liêu thuộc là bọn Lê, Tắc đem cả nhà đầu hàng quân Nguyên. Toa Đô sai đưa bọn Kiện về Yên Kinh. Thổ hào ở Lạng Giang là bọn Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh đánh chặn ở trại Ma Lục; gia nô của Hưng Đạo vương là Nguyễn Địa Lô bắn chết Kiện. Tắc đem xác của Kiện để lên mình ngựa trốn đi đêm, chạy được mấy mươi dặm đường, đến Khâu Ôn chôn lại đấy.
Sai người đưa công chúa An Tư (em gái út của Thánh Tôn) đến cho Thoát Hoan, là có ý muốn làm thư bớt tai nạn của nước vậy.
Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng (vương là dòng dõi Lê Đại Hành, chồng sau của công chúa Thụy Bảo, ông cha làm quan ở đời Thái Tôn, được cho quốc tính là họ Trần) đánh nhau với giặc ở bãi Đà Mạc (tức là Thiên Mạc, nay là bãi Mạn Trù) bị chết. Khi bị bắt, không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, không trả lời. Hỏi: "Có muốn làm vương đất Bắc không?". Vương thét to rằng: "Thà làm ma nước Nam chứ không làm vương đất Bắc". Rồi bị giết.
Thế quân giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến nguồn Tam Trĩ, sai người chở thuyền ngự ra Ngọc Sơn để đánh lừa quân giặc. Lúc ấy xa giá nhà vua xiêu dạt, mà Quốc Tuấn vốn tự phụ kỳ tài, lại có mối hiềm cũ của Yên Sinh vương, mọi người có ý ngờ vực. Quốc Tuấn theo vua, tay cầm cái gậy đầu có sắt nhọn, mọi người đều gườm mắt nhìn. Quốc Tuấn bèn vất cái sắt nhọn đi, chỉ cầm cái gậy không thôi. Lại còn nhiều việc giống thế.
*
*                      *
Tháng 3, ngày Giáp Tuất mồng 1, hai vua bỏ thuyền đi bộ đến xã Thủy Chú, lấy thuyền ra sông Nam Triệu (tức huyện Thủy Đường), qua biển Đại Bàng vào Thanh Hóa.
Thượng vị Văn Chiêu hầu là Lộng đầu hàng với Thoát Hoan; rồi sau Chiêu Quốc vương là Ích Tắc, và bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đều đem cả nhà đầu hàng nhà Nguyên.
Trước kia, khi Ích Tắc chưa sinh, Thái Tôn nằm chiêm bao thấy người thần có ba mắt tự trên trời xuống, nói với Thái Tôn rằng: "Tôi bị thượng đế quở trách, xin thác sinh làm con vua, sau sẽ về phương Bắc". Đến khi Ích Tắc sinh, giữa trán có cái vết, giống như con mắt, mà hình dáng cũng giống như người trông thấy trong khi chiêm bao. Khi 15 tuổi, thông minh hơn người, thông kinh sử và các kỹ thuật, vẫn ngầm có chí tranh ngôi trưởng; từng đem thư riêng gửi khách buôn ở Vân Đồn, xin nhà Nguyên đem quân xuống Nam. Đến đây, quân Nguyên sang xâm lấn, Ích Tắc đầu hàng để mong được làm vua. Nhà Nguyên phong cho Ích Tắc làm An Nam quốc vương. Đến sau quân Nguyên bị thua, Ích Tắc trong lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc.
Nguyên soái Toa Đô đem 50 vạn quân do Vân Nam qua nước Lão Qua, thẳng đến Chiêm Thành cùng với quân Nguyên họp ở châu Ô Lý, rồi cướp châu Hoan, châu Ái, tiến đến đóng ở Tây Kết, hẹn trong ba năm dẹp yên nước ta. Vua bàn với bầy tôi rằng: "Quân giặc đi xa lâu năm, xe lương muôn dặm, thế tất mỏi mệt, ta đem quân nhàn rỗi đối phó với quân họ đã mệt nhọc, làm nhụt khí họ trước, tất phá tan được".
Mùa hạ, tháng 4, vua sai bọn Chiêu Thành vương (không rõ tên), Hoài Văn hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đem binh nhẹ đón đánh ở bến Tây Kết. Quan quân cùng với quân Nguyên đánh nhau ở Hàm Tử quan. Các quân đều có mặt ở đấy, duy quân của Chiêu Văn vương là Nhật Duật có người nước Tống mặc áo kiểu Tống, cầm cung tên để đánh. Thượng hoàng sợ các quân khác hoặc không thể nhận ra được, mới sai người dụ rằng: "Quân ấy là quân Thát đát của Chiêu Văn đấy, nên nhận kỹ lấy". Vì người Tống và Thát Đát tiếng nói và áo mặc giống nhau. Quân Nguyên thấy đều kinh hãi, bảo nhau là có người Tống sang đánh giúp, vì thế thua chạy. Trước kia nhà Tống mất nước, có người sang quy phục nước ta, Nhật Duật dung nạp. Trong bọn ấy có Triệu Trung, Nhật Duật cho làm gia tướng, cho nên công đánh giặc Nguyên, Nhật Duật lập được nhiều hơn cả.
Tháng 5, ngày mồng 3, hai vua đánh được giặc ở phủ Trường Yên, chém đầu cắt tai không xiết kể. Ngày mồng 7, tin thám báo rằng: Toa Đô từ Thanh Hóa kéo quân ra. Ngày mồng 10, có người từ chỗ giặc trốn đến quân ngự dinh tâu báo rằng: Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp với em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh được giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương, quân giặc tan vỡ. Bọn thái tử Thoát Hoan và bình chương A Lạt chạy qua sông Lô. Ngày 15, hai vua làm lễ bái yết các lăng ở Long Hưng. Ngày 17, Toa Đô cùng Ô Mã Nhi từ ngoài biển lại đánh vào sông Thiên Mạc, muốn họp quân ở kinh sư để giúp lẫn nhau, Du binh đi đến huyện Phù Ninh, viên phụ đạo huyện ấy là Hà Đặc lên núi Trĩ Sơn cố giữ. Quân giặc đóng ở động Cự Đà, Đặc lấy tre đan thành hình người to lớn, mặc áo cho, cứ đến tối đêm thì dẫn ra dẫn vào; lại dùi thủng cây to, cắm tên lớn vào giữa lỗ để cho giặc ngờ là sức bắn khỏe suốt được cây to. Giặc sợ không dám đánh nhau với Đặc. Quân ta hăng hái xông ra đánh phá được giặc. Đặc đuổi đánh đến A Lạp, làm cầu phao sang qua sông, hăng đánh quá bị chết. Em là Chương bị giặc bắt được, lấy trộm được cờ xí và y phục của giặc trốn về, đem dâng lên vua, xin dùng cờ ấy giả làm quân giặc để đến quân doanh của giặc. Giặc không ngờ là quân của ta. Bèn đánh tan quân giặc. Ngày 20, hai vua tiến quân đóng ở bến Đại Mang. Tổng quản nhà Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Ngày hôm ấy đánh bại giặc ở Tây Kết, quân giặc chết và bị thương rất nhiều, chém được đầu nguyên soái Toa Đô. Nửa đêm Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hóa hai vua đuổi theo không kịp, bắt được dư đảng hơn 5 vạn người đem về. Ô Mã Nhi chỉ còn một chiếc thuyền lớn vượt biển trốn thoát. Hưng Đạo vương lại cùng với Thoát Hoan và Lý Hằng đánh nhau ở Vạn Kiếp, giặc thua, chết đuối rất nhiều. Lý Hằng đem quân hộ vệ Thoát Hoan chạy về Tư Minh. Quân ta lấy tên thuốc bắn trúng vào đầu gối bên tả của Hằng, Hằng chết, tỳ tướng là Lý Quán thu nhặt 5 vạn quân còn lại lấy đồ đồng giấu Thoát Hoan vào trong để trốn về Bắc, đến Tư Minh Hưng Võ vương đuổi theo, lấy tên thuốc bắn trúng Lý Quán chết. Quân Nguyên vỡ cả. Vua trông thấy thủ cấp của Toa Đô, thương hại nói: "Người làm tôi phải nên như thế này" rồi cởi áo ngự sai hữu ti đem liệm chôn, nhưng ngầm sai lấy đầu Toa Đô đem tẩm dầu để răn, vì cớ Toa Đô mượn đường để vào nước ta đã 3 năm vậy.
*
*                      *
Tháng 6, ngày mồng 6, hai vua trở về kinh sư. Thượng tướng là Quang Khải làm thơ rằng:
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan,
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ cựu giang san.
(Chương Dương bẻ gươm giặc;
Hàm Tử bắt rợ Hồ
Muốn được thái bình nên gắng sức,
Muôn năm sông núi vẹn dư đồ).
Ngày hôm ấy nước to.
Sai Trung phẩm phụng ngự là Đặng Du Chi đưa bọn tể thần của Chiêm Thành là Bà Lậu Kê Na Liên cộng 30 người về nước, vì đi theo Toa Đô mà bị bắt.
Mùa thu, tháng 8, sai Tả bộc xạ là Lưu Cương Giới tuyên phong các công thần theo thứ bậc khác nhau, và trị tội những người hàng giặc.
Tháng 9, đổi niên hiệu là Trùng Hưng năm thứ 1. Đại xá cho thiên hạ.
Bia chùa Báo Thiên gãy làm đôi. Núi Cảo Sơn lở.
Ngày 12, tôn thêm huy hiệu cho các tiên đế và tiên hậu.
Mùa đông, tháng 10, xuống chiếu định hộ khẩu trong nước. Triều thần can là dân đương lao khổ, việc sử định hộ khẩu không phải là việc cần làm ngay. Vua nói: "Chỉ có lúc này mới nên sửa định hộ khẩu, đừng để cho kẻ định dòm thấy dân ta điêu hao?" Bầy tôi đều khen phục.
Bính Tuất Trùng Hưng năm thứ 2 (1286) (Nguyên Chí Nguyên năm thứ 23). Mùa xuân, tháng Giêng, thả quân Nguyên về nước.
Tháng 2, nhà Nguyên sai Hợp Tản Nhi Hải Nha sang nước ta.
Tháng 3, vua nhà Nguyên sắc cho Thượng thư sảnh là Áo Lỗ Xích, Bình chương sự là Ô Mã Nhi, Đại tướng là Trương Văn Hổ điều động 50 vạn quân, sai miền Hồ Quảng làm 300 chiếc thuyền đi biển, hẹn đến tháng 8 họp cả ở Khâm Châu, Liêm Châu và sai đem quân ba hành sảnh là Giang Chiết, Hồ Quảng và Giang Tây xâm lấn phương Nam, mượn cớ đưa người đầu hàng và Trần Ích Tắc về nước lập làm An Nam quốc vương.
Mùa hạ, tháng 6, sai các vương hầu tôn thất đều mộ binh và thống lãnh quân thuộc hạ của mình. Vua hỏi Hưng Đạo vương Quốc Tuấn: "Thế giặc năm nay thế nào?". Quốc Tuấn trả lời: "Nước ta thái bình lâu ngày, dân không biết việc binh, cho nên năm trước quân Nguyên xâm lấn, hoặc có người đầu hàng trốn tránh. Nhờ được uy linh của tổ tông và thần võ của bệ hạ đã quét sạch được rợ Hồ. Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc đánh dẹp mà quân họ thì ngại về đi xa; vả lại họ đã cạch về sự thất bại của Hằng và Quán, không có lòng chiến đấu nữa. Cứ ý thần xem thì tất đánh tan được". Vua bèn sai Hưng Đạo vương tổng đốc các vương hầu tôn thất điều quân và làm đồ khí giới thuyền ghe.
Mùa đông, tháng 10, kiểm điểm và luyện tập các quân đã điều động.
Đinh Củng Viên xin thôi quyền nhiếp việc Nội mật viện. Vua y cho, cho tước Nội minh tự.
Đinh Hợi, năm thứ 3 (1287) (Nguyên Chí Nguyên năm thứ 24). Mùa xuân, tháng 2, Nguyên Thánh thiên cảm hoàng thái hậu băng.
Tháng 2, cá nhà táng chết cạn ở sông Bạch Đằng dài đến 2 trượng 6 thước, dày đến 5 thước.
Nhà Nguyên phát quân ba hành sảnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng, quân Mông Cổ, quân Hán Nam cùng quân Vân Nam và quân người Lê ở bốn châu ngoài biển chia đường vào cướp. Sai bọn vạn hộ Trương Văn Hổ chở 70 vạn hộc lương do đường biển đi theo, lại đặt Chinh Giao Chỉ hành thượng thư sảnh, cho Áo Lỗ Xích làm Bình chương sự, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp làm Tham tri chính sự phụ trách, đều chịu tiết chế của Trấn Nam vương.
Các quan chấp chính xin chọn người mạnh khỏe làm quân để thêm số quân. Hưng Đạo vương nói: "Quân cần tinh không cần nhiều, dù đến như Bồ Kiên có 100 vạn quân, có làm gì được đâu?".
Tháng 2, xá cho thiên hạ.
Mùa hạ, tháng 4, cho Tá Thiên đại vương là Đức Việp quyền giữ việc tướng quốc. Duyệt binh; sử kiện; định các danh sắc.
Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, có nhật thực.
Tháng 11, ngày 11, giờ Mùi, mặt trời lay động thành ra bốn góc.
Ngày 14, Trịnh Xiển tâu về việc Thái tử nhà Nguyên là A Đài đánh vào cửa ải Phú Lương. Vua hỏi Hưng Đạo vương rằng: "Giặc đến làm thế nào?". Hưng Đạo trả lời: "Năm nay giặc đến dễ đánh".
Ngày 24, sai cấm quân giữ cửa ải Lãnh Kinh. Hưng Đức hầu là Quán đem quân đón đánh, lấy tên thuốc độc bắn giặc chết và bị thương rất nhiều. Giặc lui về đóng ở cửa ải Vũ Cao.
Ngày 28, Phán thủ thượng vị Nhân Đức hầu là Toàn đem thủy quân đánh ở vụng Đa Mỗ, giặc chết đuối rất nhiều, bắt sống được 40 tên và thuyền ngựa, khí giới đem về dâng.
Tháng 12, ngày 16, xuống chiếu cho Minh tự là Nguyễn Thức đem quân Thánh dực dũng nghĩa đến chỗ Hưng Đạo vương để giữ cửa sông Đại Than.
Ngày 26, gặp quân giặc cùng đánh nhau, giặc thua.
Ngày 30, thái tử nhà Nguyên là A Đài cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn quân đánh vào Vạn Kiếp, rồi thuận dòng xuôi về phía Đông, người các hương Ba Điểm, Bàng Hà đều đầu hàng.
Khi ấy, thủy quân của nhà Nguyên đánh Vân Đồn. Hưng Đạo vương giao hết công việc ở biên thùy cho Vân Đồn phó tướng là Nhân Huệ vương Khánh Dư. Khánh Dư đánh nhau với giặc bị thua. Thượng hoàng nghe tin, sai trung sứ giải Khánh Dư đem về Kinh Đô. Khánh Dư bảo với trung sứ rằng: "Lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội, nhưng xin hoãn cho vài ba ngày, để tôi lập công chuộc tội, rồi sẽ chịu búa rìu cũng chưa muộn". Trung sứ nghe theo lời xin. Khánh Dư đoán biết là quân giặc đi rồi, thuyền lương tất theo sau, bèn thu nhặt quân còn lại để đợi. Không lâu, thuyền chở lương của giặc quả nhiên đến. Khánh Dư đánh, giặc bị thua, bắt được lương thực khí giới của giặc không xiết kể, bắt sống quân giặc rất nhiều. Lập tức chạy thư về tâu. Thượng Hoàng tha tội trước không hỏi đến và nói: "Quân Nguyên chỉ nhờ về lương cỏ khí giới, nay ta đã bắt được, sợ nó chưa biết tin, hoặc giả còn hung hăng chăng?". Bèn tha cho người bị bắt đến doanh quân Nguyên để báo tin. Quả nhiên quân Nguyên rút lui. Cho nên năm nay nhân dân không bị thảm họa như năm trước là Khánh Dư cũng có dự công. Khi Khánh Dư mới đến trấn giữ Vân Đồn, tục ở đấy làm nghề buôn bán sinh nhai, ăn uống, y phục đều trông vào khách buôn phương Bắc, cho nên quần áo đồ dùng theo tục người Bắc. Khánh Dư điểm duyệt quân các trang, hạ lệnh rằng: "Quân đóng ở Vân Đồn là để ngăn giữ giặc Hồ, không nên đội nón của phương Bắc, trong khi vội vàng khó lòng phân biệt; nên đội nón Ma Lôi (Ma Lôi là tên một hương ở Hồng Lộ, làng này khéo nghề đan cật tre làm nón, cho nên lấy tên làng làm tên nón), ai trái thế tất phải phạt". Mà Khánh Dư đã sai người nhà mua nón Ma Lôi từ trước, chở thuyền đến đậu ở trong cảng rồi. Lệnh đã hạ, sai người ngầm bảo người ở trang rằng: "Hôm nọ thấy ở trước vụng biển có thuyền chở nón Ma Lôi đậu". Do đấy người trong trang nối gót nhau tranh mua nón, bắt đầu mua mỗi cái nón không quá 1 tiền, đến sau giá cao, bán một cái nón giá một tấm vải, thu được số vải đến hàng nghìn tấm. Thơ của người khách mừng Khánh Dư có câu "Vân Đồn Kê khuyển diệc giai kinh" (nghĩa là: Gà chó Vân Đồn cũng đều sợ) là nói thác kinh phục uy danh, nhưng thực ra có ý mỉa mai ngầm. Khánh Dư tính người tham bỉ, phàm người trong quản hạt ai cũng ghét cả. Nhân Tôn vì tiếc là có tài làm tướng, nên không nỡ bỏ mà thôi.
Mậu Tí, năm thứ 4 (1288) (Nguyên Chí Nguyên năm thứ 25). Mùa xuân, tháng Giêng Ô Mã Nhi đánh vào phủ Long Hưng. Ngày mồng 8, quan quân họp đánh ở ngoài biển Đại Bàng, bắt được 300 chiếc thuyền đi tuần của giặc và chém được mười thủ cấp. Quân Nguyên bị chết đuối nhiều.
Tháng 2, ngày 19, Ô Mã Nhi đánh vào trại Yên Hưng.
Tháng 3, ngày mồng 8, quân Nguyên hội ở sông Bạch Đằng để đón thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ nhưng không gặp. Hưng Đạo vương đem quân đánh, giặc bị thua. Trước đấy Vương đã đóng cọc ở sông Bạch Đằng, phủ cỏ lên trên. Ngày hôm ấy nhân lúc nước triều lên, Hưng Đạo cho quân khiêu chiến, rồi giả cách thua, quân giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền của giặc bị vướng cọc. Nguyễn Khoái đem quân Thánh dực nghĩa dũng đánh nhau với giặc, bắt được Bình chương là Áo Lỗ Xích. Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh hăng, quân Nguyên chết đuối không xiết kể, nước sông đến nỗi đỏ ngàu. Đến khi Văn Hổ đến, quân phụ hai bên bờ sông ra sức đánh, giặc lại thua. Nước triều xuống mạnh, thuyền lương của Văn Hổ gác lên trên cọc, nghiêng đắm gần hết. Quân Nguyên chết đuối rất nhiều. Bắt được hơn 400 chiếc thuyền đi tuần. Nội minh tự Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc, dâng lên thượng hoàng. Thượng hoàng sai dẫn lên thuyền ngự cùng ngồi và cùng uống rượu nói chuyện vui. Thoát Hoan và A Đài đem quân trốn về Tư Minh, thổ quan là Hoàng Nghệ bắt được đem dâng. Hai vua trở về phủ Long Hưng. Ngày 17, đem các tướng của giặc bị bắt là Tích Lệ Cơ Ngọc và Nguyên soái Ô Mã Nhi, Tham chính Sầm Đoạn, Phàn Tiếp, Điền nguyên soái và các Vạn hộ, Thiên hộ làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng. Trước đấy, quân Nguyên đã đào Chiêu Lăng muốn phá đi, nhưng không xâm phạm đến quan tài; đến khi giặc thua, chân ngựa đá ở lăng đều bị lấm bùn, đó là thần linh giúp ngầm vậy. Vua làm lễ yết có câu thơ rằng:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
(Xã tắc hai lần phiền ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Ngày 27, xa giá hai vua trở về kinh sư.
Mùa hạ, tháng 4, thượng hoàng ngự ở lang Thị vệ (vì cung điện bấy giờ bị giặc đốt hết), đại xá cho thiên hạ. Phàm nơi nào từng bị binh lửa cướp phá thì tha tô ruộng và tạp dịch toàn phần, các chỗ khác thì giảm bớt hoặc miễn theo thứ bậc khác nhau...
*
*                      *
... Tháng 3, ngày mồng 1, có nhật thực.
Mùa hạ, tháng 4, bàn xét công dẹp giặc Nguyên, tiến phong Hưng Đạo vương làm Đại vương, Hưng Võ vương làm Khai quốc công, Hưng Nhượng vương làm Tiết độ sứ. Người nào có công to được ban cho quốc tính, Khắc Chung được dự, lại cho làm Đại hành khiển. Đỗ Hành chỉ được phong Quan nội hầu, vì khi bắt được Ô Mã Nhi không dâng lên vua mà lại dâng lên thượng hoàng. Hưng Trí vương không được thăng trật, vì đã có chiếu cho người Nguyên về nước, các tướng không được cản trở mà lại còn đón để đánh. Cho man trưởng ở Lạng Giang là Lương Uất làm trại chủ Quy Hóa, Hà Tất Năng làm Quan phục hầu, vì cớ đem quân người Man ra đánh giặc. Việc thưởng tước đã xong, còn có người chưa bằng lòng. Thượng hoàng dụ rằng: "Các ngươi quả biết rõ là giặc Hồ nhất định không dám lại xâm lấn nữa thì nói rõ cho trẫm biết, dù có thăng lên đến cực phẩm trẫm cũng không tiếc. Nếu không thế đã vội thưởng hậu, lỡ ra giặc Hồ trở lại mà bọn ngươi lại lập được công nữa thì trẫm lấy gì mà thưởng để khuyến khích thiên hạ?". Mọi người đều vui phục cả.
Tháng 5, trị tội những người hàng giặc, chỉ quân dân được miễn tội chết, nhưng bắt chờ gỗ đá làm cung điện để chuộc tội; quan viên phạm tội thì tùy tội nặng nhẹ mà xử trị.
Cho Phùng Sĩ Chu làm Hành khiển. Sĩ Chu người xã Cổ Liễu ở Trà Hương. Khi quân Nguyên sang, vua sai Sĩ Chu bói. Sĩ Chu đoán rằng: "Thế nào cũng đại thắng". Vua mừng bảo rằng: "Nếu đúng như lời sẽ có trọng thưởng". Khi dẹp giặc xong vua nói: "Thiên tử không có nói đùa", nên có mệnh này. Sĩ Chu là người trung hiếu, có văn nghệ, làm quan đến Thiếu phó, hiệu là Tốn Trai tiên sinh.
Gia phong Nguyễn Khoái làm Liệt hầu, cho một quận làm ấp thang mộc, gọi là Khoái lộ, (nay là phủ Khoái Châu).
Định các công thần (đánh Nguyên) lần trước lần sau, người có công lớn lên trước phá giặc thì chép vào tập Trung Hưng thực lục và sai vẽ tượng.
Xử tội đồ các quân dân hai hương Ba Điểm, Bàng Hà làm binh thang mộc, không được làm quan, cấp cho các tể thần làm hoành (nô) sai khiến.
Trước khi quân Nguyên sang lấn, các vương hầu quan liêu nhiều người đến hàng ở dinh giặc; đến khi giặc thua, bắt được một hòm tờ biểu của những người hàng giặc, thượng hoàng sai đốt đi để yên lòng những kẻ phản trắc; duy có kẻ nào trước đây đã đầu hàng giặc rồi thì tuy bản thân ở triều đình của giặc cũng kết án vắng mặt, xử tội lưu hay tử, điền sản tịch thu làm của nhà nước, bỏ quốc tính. Như Trần Kiện là con Tĩnh Quốc thì đổi làm họ Mai, người khác cứ theo lệ ấy mà đổi, như bọn Mai Lộng. Ích Tắc là chỗ tình thân anh em, tuy trị tội cũng thế, nhưng không nỡ đổi họ xóa tên, chỉ gọi là Ả Trần, cho là hèn nhát như đàn bà vậy. Đương thời ghi chép đều xưng là Ả Trần, Mai Kiện.
Có Đặng Long là cận thần của vua, là người văn học giỏi giang, nhưng tước ở bực dưới, từng được dự ghi chú để thăng, vua muốn cho làm Hàn lâm học sĩ, thượng hoàng ngăn lại không cho. Long có lòng bất bình, đến đây hàng giặc, đến khi thua bị bắt, đem chém để rao cho mọi người.
Thượng hoàng ngự đến hành cung Thiên Trường, có làm bài thơ rằng:
Cảnh thanh u vật diệc thanh u.
Thập nhất tiên châu thử nhất châu.
Bách hộ sinh ca cầm bách thiệt;
Thiên hàng nô bộc quất thiên đầu.
Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự;
Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu.
Tứ hải dĩ thanh trần dĩ tĩnh,
Kim niên du thắng tích niên du.
(Cảnh thanh u, vật cũng thanh u.
Mười một tiên châu đây một châu.
Trăm giọng chim là muôn bộ sáo;
Nghìn cây quất ấy nghìn tên nô.
Trăng vô sự chiếu người vô sự;
Nước ngậm thu in trời ngậm thu.
Bốn biển đã yên, nhơ đã sạch,
Năm nay chơi thú quá năm xưa).
Vì là xúc cảm về hai trận đánh giặc mà phát ra thành thơ vậy...
(Trích Đại Việt sử ký toàn thư)
Bản dịch: Cao Huy Giu
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc