Home » Tin tức » QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG

NGÔ THÌ NHẬM

WEDnesday - 23/07/2014 23:38
NGÔ THÌ NHẬM (1746 - 1803) Quê quán: Tả Thanh Oai, Hà Nội. Ông là con Ngô Thì Sĩ. Nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, nhà văn lỗi lạc. Tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên. Năm 1768 đỗ Giải nguyên rồi Tiến sĩ Tam giáp. Năm 1775 được bổ làm quan ở Bộ Hộ. Năm 1778 làm Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên. Năm 1778 ra cộng tác với nhà Tây Sơn, giữ chức Tả Thị lang Bộ Lại sau thăng làm Thượng thư Bộ Lại. Năm 1790 ông giữ chức Binh bộ Thượng thư. Sau khi Quang trung mất, ông không được tin dùng, quay sang nghiên cứu Phật học. Nhà Tây Sơn đổ, nhà Nguyễn Ánh trả thù man rợ những người cộng tác với Tây Sơn, ông cũng nằm trong số đó. Sau trận đòn thù ở Văn Miếu năm 1803, ông về nhà thì mất. Tác phẩm chính: Hi Doãn thi văn tập, Hoàng hoa đồ phổ, Xuân Thu quân kiến, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, Hải Đông chí lược. Ông còn là một trong những tác giả tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái.
Tượng thờ Ngô Thì Nhậm trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt (Bảo tàng Quang Trung, Bình Định)

Tượng thờ Ngô Thì Nhậm trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt (Bảo tàng Quang Trung, Bình Định)

HÀNH TRẠNG BA VỊ TỔ SƯ
(TAM TỔ HÀNH TRẠNG)

 
HÀNH TRẠNG THỨ NHẤT
 
Đức Điều Ngự Giác Hoàng lúc còn làm Thái tử thường hay theo xa giá vua Thánh Tông lên chơi núi Yên Tử. [Lúc ấy] ngài muốn bỏ ngôi để đi tu, vua cha không cho. Khi đã lên ngôi, hằng ngày vua vẫn giảng cứu kinh nhà Phật, các qui tắc nội thiền với ngài Đại Đăng, Tuệ Trung. Lĩnh hội được đạo Thiền, vua bèn quyết chí đi tu, lấy pháp danh là Điều Ngự Đầu Đà (1). Vua thường đi vân du mọi nơi, bài trừ những đền miếu thờ dâm thần(2) và bố thí pháp dược(3) cho nhân dân. Khi được Pháp Loa theo về, vua rất mừng vì cho là có đạo cốt, nên đem Pháp Loa lên núi bảo rằng:
Đề điểu huyết lưu vô dụng xứ
Tây sơn y cựu mộ vân hoành
Dịch nghĩa:
Chim kêu đổ máu toàn vô dụng
Núi tây chiều xế vẫn mây treo(4).
Pháp Loa tiến lên hỏi:
- Khi mà mây muôn dặm đã thu rồi thì thế nào?
Vua đáp:
- Mưa dầm dề!
Hỏi:
- Khi mà mây muôn dặm đóng kín thì thế nào?
Đáp:
- Trăng vằng vặc(5)!
Hỏi:
- Ba mươi hai tướng và tám mươi thứ đẹp là thế nào(6)?
Đáp:
- Nếu lấy sắc mà xem ta, lấy thanh âm mà tìm ta, người ấy là theo tà đạo, không sao thấy được Như Lai(7).
Pháp Loa lại hỏi:
- Thế nào là Phật?
Vua đáp:
- Cám bã ở dưới cối(8)!
Hỏi:
- Nói rằng Tổ sư ở phương Tây lại là ý gì(9)?
Đáp:
- Cùng một hố không có đất khác nhau(10).
Hỏi:
- Nói rằng thuyết Hữu và thuyết như dây sắn dựa vào cây là thế nào(11)?
Đáp:
Thuyết Hữu thuyết Vô
Sắn khô, cây ngã.
Nào sư, nào sãi,
Vỡ óc đập đầu.
 
Thuyết Hữu thuyết Vô,
Thể lộ gió vàng.
Số cát Căng Già(12),
Gươm đao đâm chém.
 
Thuyết Hữu thuyết Vô,
Lập tông lập chỉ,
Đập ngói khoan rùa(13),
Trèo non lặn suối.
 
Thuyết Hữu thuyết Vô,
Chẳng Vô chẳng Hữu.
Rạch thuyền tìm gươm(14),
Vạch tranh tìm ngựa(15)!
Thuyết Hữu thuyết Vô,
Loanh quanh hồi hộ.
Nón tuyết giầy hoa,
Ôm cây chờ thỏ(16).
Thuyết Hữu thuyết Vô,
Từ xưa đến nay
Nhìn ngón quên trăng(17)
Chết đuối trên cạn.
 
Thuyết Hữu thuyết Vô,
Như thế như thế,
Tám chữ mở ra(18),
Không nắm vào đâu.
 
Thuyết Hữu thuyết Vô,
Nhìn phải nhìn trái.
Gắt mắng inh ỏi,
Quát tháo om sòm.
 
Thuyết Hữu thuyết Vô,
Nhức nhức nhối nhối.
Dứt sắn chặt cây,
Người người thoải mái(19)!
Pháp Loa tiếp thu được tâm ấn, vua bèn sai dựng Phật đường và cho làm trụ trì, rồi giảng Truyền đăng lục cho nghe. Sau đó, vua xua hết người ngoài và Tam bảo nô, chỉ dắt Pháp Loa cùng lên am Tử Tiêu, xây một ngôi nhà đá gọi là Ngộ Ngữ Viện ở cạnh am. Lúc bấy giờ chỉ còn đệ tử cao nhất là Bảo Sái ở lại hầu hạ. Vua đi khắp các ngọn núi, Bảo Sái bạch rằng:
- Đức ngài tuổi cao như vậy mà dầu dãi tuyết sương thì mạng mạch(20)  của phép Phật sẽ ra sao?
Vua đáp:
- Thời vị lai(21)  đã đến, ta đương tính việc đi lâu dài đây.
Niên hiệu Hưng Long thứ 16, ngày mồng 5 tháng 10, công chúa Thiên Thụy(22)  sai người nhà lên núi, tâu với vua rằng:
- Công chúa bệnh tình nguy kịch, muốn được trông thấy Điều Ngự.
Vua bùi ngùi nói:
- Đây chẳng qua thời tiết mà thôi!
Vua liền chống gậy xuống núi, chỉ mang theo mỗi một người hầu. Mồng 10 tới kinh đô. Ngày 15 dặn dò xong, vua lại trở về núi và nghỉ đêm ở chùa Siêu Loại. Sáng hôm sau, ngài dậy rất sớm, đi bộ lên chùa làng Cồ Pháp và tự tay đề thơ rằng:
Thế số nhất tức mặc,
Thời tình lưỡng hải ngân.
Ma cung hồn quản thậm,
Phật quốc bất thăng xuân.
Dịch nghĩa:
Số trời một hơi thở,
Tình đời hai con mắt(23).
Cung ma không đáng kể,
Cõi Phật xuân đời đời.
Ngày 17 vua nghỉ đêm ở chùa Sùng Nghiêm. Tuyên Từ Hoàng Thái hậu mời đến am Bình Dương dùng cỗ chay, vua hớn hở nói:
- Đây là cúng dâng lần cuối cùng đấy!
Vua nhận lời ngay. Qua ngày 18, vua lại đi bộ lên chùa Tú Lâm ở trên ngọn núi An Sinh Kỳ Đặc. Thấy mình đau đầu, vua bảo hai nhà sư Tử Man và Hoàn Trung rằng:
- Ta muốn lên núi Ngọa Vân, nhưng chân không bước nổi, biết làm sao đây?
Hai nhà sư nói:
- Đệ tử xin hết sức giúp đỡ.
Vừa lên đến núi Ngọa Vân, vua cảm tạ hai nhà sư và bảo:
- Thôi, xuống núi ngay đi, chăm chỉ tu hành, chớ coi sinh tử là việc chơi!
Ngày 19 vua sai người hầu là Pháp Không lên núi Tử Tiêu, gọi ngay Bảo Sái đến. Bảo Sái đi tới suối Doanh, trông thấy một đám mây đen từ núi Ngọa Vân bay qua núi Lỗi, đến chỗ suối thì nước bỗng dâng cao tới mấy trượng, rồi lại phẳng lặng như thường. Lại có hai con rồng đầu to như đầu ngựa cùng nghểnh cổ lên cao tới một trượng, hai mắt sáng như sao, một chốc thời biến mất.
Ngày 21 Bảo Sái đến Ngọa Vân. Vua thấy đến bèn cười hỏi:
- Ta sắp đi đây, sao ngươi tới muộn thế? Trong Phật pháp có chỗ nào chưa hiểu được thì hỏi ngay đi!
Bảo Sái thưa:
- Phật mặt trời Phật mặt trăng(24)  ý nghĩa như thế nào?
Vua lớn tiếng bảo:
- Tam Hoàng Ngũ Đế là gì?
Đáp:
- Chỉ là những rừng hoa chói lọi, những cuộn gấm rỡ ràng, những khóm trúc ở miền Nam, những cây gỗ ở đất Bắc, chứ còn là gì!
Vua bảo:
- Chọc mù mắt của ngươi, giết chết mới xong!
Mấy ngày liền, trời đất tối om, gió giật dữ dội, mưa tuyết phủ kín cây cối, hầu vượn chạy quanh am, chim chóc hót thê thảm. Đêm mồng một tháng chạp, sao sáng đầy trời, vua hỏi:
- Giờ này là giờ gì?
Bảo Sái thưa:
- Bây giờ là giờ Tí.
Vua lấy tay đẩy cánh cửa sổ trông ra mà nói:
- Đây là giờ của ta đó!
Bảo Sái hỏi:
- Vua đi đâu bây giờ?
Vua nói:
- Hết thảy pháp không sinh, hết thảy pháp không diệt(25). Hiểu được thế thì chư Phật thường hiện ra trước mắt, còn gì là đi, còn gì là đến.
Nói xong, vua liền nằm như sư tử(26) và tịch ở am trên núi. Pháp Loa theo lời di chúc, rước hài cốt của vua vào giàn hỏa, rồi nhặt được một nghìn viên xá lị đem về. Vua Anh Tông đem một phần xá lị táng ở Đức lăng, còn một phần thì để ở kim tháp trong núi và cho sửa chữa lại tất cả các chùa trên núi ấy, đặt tượng vàng để thờ phụng.
Sách Khóa hư lục chép rằng: Đức Điều Ngự ta lìa bỏ trần tục, xa rời cung vua, ngồi ngự trên sơn môn, nghiễm nhiên thường trụ (Sơn môn tức là chùa Long Động).[1]
 
HÀNH TRẠNG THỨ HAI
 
Tôn giả Pháp Loa, người họ Đồng. Bà mẹ Tôn Giả một đêm nằm chiêm bao thấy dị nhân trao cho một thanh gươm thần, liền vui vẻ ôm vào lòng. Đến khi có thai, vì ghét đã sinh nhiều con gái, liền dùng thuốc trục thai, nhưng vô hiệu. Lúc Tôn Giả ra đời hương thơm đầy nhà, hàng tháng hương vẫn không mất. Bà mẹ vui mừng đặt tên là Kiên Cương. Lớn lên thông minh trí tuệ khác thường, không ăn thịt và các thứ tanh hôi. Năm Hưng Long thứ 12, vua Trần Nhân Tông xuất gia, đi đến hạt Nam Sách, trông thấy Tôn Giả, vua lấy làm lạ mà rằng: "Gã kia có đạo nhãn, sau này tất thành đại khí của đạo ta". Và vì mừng thấy Tôn Giả đến, nên vua đặt tên cho là Thiện Lai, rồi khiến đến tham yết Hòa thượng Tính Giác để thụ giới. Nhưng mãi vẫn không thấy Hòa thượng chỉ bảo cho điều gì, Tôn Giả bèn tìm kinh Hải nhãn mà xem. Một hôm xem mãi đến khuya, thấy hoa đèn rụng, Tôn Giả hốt nhiên bừng tỉnh, từ đó phát nguyện theo 12 hạnh đầu đà (tu khổ hạnh). Về sau, Tôn Giả theo vua Nhân Tông đến lán kỳ lân ở Linh Sơn thụ giới. Vua đặt cho hiệu là Pháp Loa. Năm thứ 16, vua Nhân Tông lên trụ am trên đỉnh núi Ngọa Vân, khiến Pháp Loa làm pháp tự thay ngài làm trụ trì và cho mở Phật đường làm lễ truyền thụ. Vua Anh Tông ngự đến, đứng vào khách vị, các quan liêu đều đứng ở dưới sân, vua Nhân Tông lên Phật đường thuyết pháp, dắt Pháp Loa vào chỗ ngồi, chắp tay vặn hỏi những chỗ khó, lấy áo pháp khoác cho. Tháng 12, Nhân Tông nhập diệt (tịch), Pháp Loa rước xá lị đặt vào cung vua, rồi trở về làm bộ sách Thạch tất ngộ ngữ tụng, thuật lại những pháp ngôn của Nhân Tông lúc còn ở Thoái viện. Trong 19 năm, Pháp Loa dựng hơn 800 ngôi chùa lớn. Các bậc vương công quí nhân đua nhau cúng ruộng đất vàng bạc vào chùa. Cứ ba năm làm lễ độ tăng một lần, tăng chúng đông hơn ngàn người, Pháp Loa thường phải giảm dần số lượng. Vua có cấp thuyền công và phu chèo, nhưng ngài không nhận. Bà Bảo Từ Hoàng Thái hậu(1) và quan Tư đồ Văn Huệ vương(2) đều cùng xuất gia thụ giới. Mỗi khi vua Anh Tông gửi thư đến, đều xưng là đệ tử. Người bốn phương theo học ngày càng đông, trong đó Huyền Quang là giỏi nhất, rồi đến Cảnh Nguyện, Cảnh Huy, Huệ Nhiên, Huệ Chúc và Hải Ấn. Ngài sáng lập viện Quỳnh Lâm và am Hồ Thiên Chân Lạc, sai đệ tử chia nhau đi trụ trì. Sau lại mở chùa Côn Sơn và Thanh Mai, đến đâu cũng trở thành chùa chiền nổi tiếng. Ngài có bài thơ luyến cảnh Thanh Sơn như sau:
 
Sơ sấu cùng thu thủy,
Sàm nham lạc chiếu trung.
Ngang đầu khan bất tận,
Lai lộ hưu trùng trùng.
Dịch nghĩa:
Vóc gầy chiếu xuống tận đáy hồ thu,
Chót vót soi bóng trong tia nắng chiều.
Ngẩng đầu xem mãi không chán,
Đường về đây thăm thẳm mấy trùng.
Năm Đại Khánh thứ 4, ngài ốm nặng, bèn đem chiếc áo của Nhân Tông để lại và bài kệ Tả tâm giao cho Huyền Quang, đồ pháp bảo và trụ trương giao cho Cảnh Nguyên, tràng hạt giao cho Cảnh Huy, gậy trúc giao cho Huệ Quang, pháp thư giao cho Huệ Nhiên, bạc vàng giao cho Hải Ấn, chày vàng giao cho Huệ Chúc.
Nhưng bệnh lại khỏi dần, được chiếu chỉ nhà vua tới đàn cầu mưa, tức ứng nghiệm. Sau đó, vâng mệnh vua đến dự hội An Lạc, thì bị ốm lại. Huyền Quang đến thấy Pháp Loa đương ngáy khò khò mà lại kêu lên ba tiếng(3), bèn hỏi:
- Tôn giả nói mơ sao?
Pháp Loa nói:
- Ngủ thì nói mơ, không ngủ thì không nói mơ.
Huyền Quang hỏi:
- Làm sao ngủ và thức đều như lúc không đau ốm?
Pháp Loa nói:
- Ốm cũng mặc kệ nó, không ốm cũng mặc kệ nó!
Huyền Quang lại hỏi:
- Thế nhưng, trót đã có tiếng nói thì sao?
Pháp Loa nói:
- Kể gì tiếng gió thổi qua cây. Người ngây cũng có kẻ cảm được tiếng cây qua gió thổi(4).
Huyền Quang nói:
- Cổ nhân đến lúc này (lúc sắp chết), đều có làm kệ, sao Tôn sư lại không có(5)?
Giây lâu, Pháp Loa ngồi dậy, đòi bút viết chữ lớn rằng:
Vạn duyên tiệt đoạn nhất thân nhàn,
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian.
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,
Na biên phong nguyệt cánh đường khoan.
Dịch nghĩa:
Chặt đứt muôn duyên thì thân được nhàn,
Hơn bốn mươi năm trong cõi mộng hão huyền.
Trân trọng xin ai chớ hỏi đến tôi,
Gió trăng bên kia rất thoáng nhẹ êm ái.
Lúc ngài tịch (chết) tuổi bốn mươi tư, được gia hiệu là Tịnh Trí Đại Tôn Giả, đệ tử đưa linh cữu đến mũi Thanh Mai an táng. Vua Anh Tông làm thơ viếng có câu:
Tự tòng Pháp Loa khứ thế hậu,
Thiên hạ Thích tử không vô nhân.
Nghĩa là:
Sau khi Pháp Loa qua đời,
Phật tử trong thiên hạ trống trải không người.
Nói về trước tác của ngài thì có: Tham tiền chỉ yếu, Kim cương trường đà la ni kinh, Hoàn pháp hoa kinh lược sớ, Bát nhã hữu tâm kinh khoa sớ và bài văn Phát nguyện (đại lược nói rằng: những hành nguyện của các Phật và các Bồ tát, thì hết thảy chúng sinh hoặc chê, hoặc kính nhờn, hoặc cúng thi, hoặc xâm đoạt v.v... tất cả những thứ đó đều bỏ hết, khiến cho đều chứng tới ngôi bồ đề v.v...).
Chùa Hương Hải là di tích của ngài.[2]
 
 
 
 
 
HÀNH TRẠNG THỨ BA
 
Tôn giả Huyền Quang, chín tuổi đã làm được thơ văn. Chuyên tập về cử nghiệp (thi cử). Mười chín tuổi vào cửa Không (xuất gia). Thi đỗ Tam giáo trạng nguyên, nhưng không muốn làm quan. Ngài xin về núi chuyên việc tu trì và theo Bảo Phác Thiền sư (1) thụ giới ở Quỳnh Lâm(2). Vua Nhân Tông ngự giá đến chùa, trông thấy ngài biết là đại khí. Pháp Loa bèn đem ngài vào hầu cận vua. Sau khi vua mất, Pháp Loa tiếp ngài và bảo rằng: "Di chúc của Điều Ngự, ngươi quên rồi hay sao?". Từ đấy, ngài theo học Pháp Loa. Tháng 2, năm Đại Khánh thứ 4, đời vua Minh Tông, Pháp Loa ốm nặng, bèn đem chiếc áo của Điều Ngự để lại và bài kệ Tả tâm trao cho Ngài. Rồi đó, Pháp Loa khỏi bệnh và tháng 12 năm ấy thì dựng viện Quỳnh Lâm để ở. Năm Khai Thái thứ nhất, Pháp Loa nhập diệt (chết), ngài tuân theo di chúc đến trụ trì ở sơn viện và làm am Quỳnh Động bên cạnh, để bắt chước Điều Ngự khi ở núi có làm Thoái viện. Mỗi khi công việc thuyết pháp nhàn rỗi, ngài thường làm thơ ngâm vịnh, để di dưỡng tinh thần, âm điệu ý tứ đều rất trang nhã. Ngài có bộ Ngọc tiên tập được lưu truyền lúc bấy giờ, nay không còn nữa...
Cao Xuân Huy dịch[3]
 
 
 
 
 
BÀN VỀ VĂN (VIẾT CHO ÔNG EM THỨ HAI)
 
Mới đây, ta suy nghĩ câu "Văn chương là tinh túy của Thái cực"(1) của Trần Tử(2), thấy nó rất có ý vị. Văn chương của Thái cực phát lộ ra ở phía trên là mặt trời, trăng sao, ở giữa là kinh, truyện của thánh hiền, ở dưới là núi non, sông bể. Song mặt trời, trăng, sao, núi non, sông bể tại sao mà chuyển vần, trôi, đứng, cái "tình" của nó, ta không thể biết được. Ta chỉ thấy cái "hình" của nó thôi. Riêng có kinh, truyện của thánh hiền là nêu ra được hết tinh thần và hình thể của Thái cực. Thái cực tức là Đạo, tinh thần và hình thể của Thái cực là những cái rộng lớn và ẩn vi(3) của Đạo. Những cái đó đều nhờ văn chương mà biểu lộ ra.
Từ khi có người sinh ra đến nay, văn chương thịnh nhất, không ai bằng Khổng Tử. Văn chương của Khổng Tử được chép ra ở sáu Kinh(4). Những cái uẩn súc của sáu Kinh chỉ là một khối Thái cực hồn nhiên, còn sáu Kinh chỉ là để chép lại cái Đạo của Thái cực mà thôi. Vậy thì sáu Kinh là thuyền, mà Đạo là người ở trong thuyền. Khổng Tử lấy đạo làm thể, lấy sáu Kinh làm thuyền, cho nên dù có trăm nhà nổi dậy như sóng gió, nhưng thuyền của Khổng Tử ở giữa dòng vẫn vững vàng không lay chuyển. Dương Chu, Mặc Địch, Hàn Phi, Lý Tư(5) đã ra sức phá hoại mà thuyền vẫn không chìm, khách nào như mặt trời, trăng, sao dù mây đen cũng không che nổi ánh sáng; núi non, sông bể, dù khói mờ cũng không giảm bớt được cao sâu. Đây là chỗ gọi là cái tinh túy của Thái cực.
Từ sau bảy thiên của Mạnh Tử(6), họ Dương có Kinh Thái huyền(7), họ Hàn có thiên Nguyên đạo(8), họ Chu có sách Dịch thông(9), họ Trình có sách Dịch truyện(10), họ Thiệu có sách Kinh thế(11), họ Trương có sách Chính mông(12), đều là dòng dõi của sáu Kinh, phát huy cái ý nghĩa thâm thúy của sáu Kinh, song chủ trương mỗi người một khác. Chu Tử(13)  ra đời, mới tập hợp tất cả lại, thành một cái hoàn mỹ. Văn chương Chu Tử đại thể là hàn gắn những chỗ rò thủng ở con thuyền sáu Kinh. Song tinh túy của nó thì tập trung vào hai cuốn Hoặc vấn về sách Đại học, Trung dung. Trong khoảng mênh mông vô cùng tận, tác giả đã tìm ra được những chỗ qui kết. Những qui kết ấy không ngoài mấy điều "chân tích" (thực sự chứa góp), "lực tiễn" (dùng sức thực hành), "chủ kính" (lấy kính làm cốt), "cùng lý" (suy đến cùng). "Chân tích", "lực tiễn" là "thể", "chủ kính", "cùng lý" là "dụng".
Sau Chu Tử, thì Chân Đức Tú, Ngụy Liễu Ông, Hứa Hành, Diêu Khu, Lưu Nhân, Ngô Trừng(14), cũng là những nhà văn "biết đạo". Nhưng trong đám ấy, người có chân kiến hơn cả, phải kể Lưu Nhân, trong bài Thoái Tề ký. Lưu Nhân nói: "Những người mang cái thuật của họ Lão, đem cái lợi, hại của một thời mà lường sự vui buồn của thiên hạ, cuối cùng đi đến chỗ lỡ nước, hại dân. Song những người ấy vẫn đứng ra ngoài vòng vạn vật mà không chịu trách nhiệm gì, lại còn tự cho là mình đúng với cái nghĩa "tùy thời" của Khổng, Mạnh và cái danh lý của Trình, Chu. Họ không ngần ngại gì mà tự đánh giá thế và mọi người cũng không ai tranh cãi". Văn chương của Lưu Nhân như thế là có lý. Nhân hẳn là người đã hiểu sâu đến chỗ thần diệu của Khổng, Mạnh, Trình, Chu rồi. Nhưng sau Lưu Nhân lại nói cái "thuật của Lão tử"? Vì các học giả nhìn vào sự "chân tích", "lực tiễn" của các bậc hiền thánh rất mơ hồ, họ chỉ biết dụng công vào việc "chủ kính" và "cùng lý" mà thôi. Thế rồi công việc "chủ kính" đã đưa họ đến chỗ "ngưng thầm lặng biết", "ngồi yên định tưởng", biến chữ "kính" thành một thứ tĩnh mịch không vận động gì hết, chữ "cùng lý" đã đưa họ đến chỗ "chủ tâm mơ hồ", "nói phiếm thành suông", cho cái "lý" ấy là một vật trống không, không thể nắm được. Như thế, không những không đạt tới tinh túy, mà còn bác tạp thêm nữa. Đó phải chăng là lưu tệ của văn chương? Hay là cái tinh túy đã bị lật trái mà thành phai mờ? Nếu như mặt trời, trăng, sao, vận chuyển lẫn lộn thì cái cao sáng nhất lại biến thành "hối", thành "thực"(15); núi non, sông, bể, trong khi chảy, đứng, là lâu dài nhất lại biến thành "vỡ lở", "khô cạn", đó là do "lệ khí"(16)  cảm triệu gây ra. Đến như học "chủ kính", "cùng lý", mà đến nỗi bác tạp, là do cao minh quá lạm gây ra. Còn đã gọi là tinh túy thì chẳng bao giờ phai mờ cả.
Đồng thời với Chu Tử, có hai người họ Thái và họ Lục(17). Họ Lục theo cái học "chủ kính", họ Thái theo cái học "cùng lý". Chu Tử đã lấy cái "chính" quán triệt cả hai, nên hai người này đều đã đến cái sâu của chỗ tinh túy. Chỉ vì bản lĩnh của cái gọi là tinh túy như thế nào, học giả không thể nhận được, cho nên những kẻ sĩ học rộng nghĩ xa, học "chủ kính" thì sa vào thuyết Thiền học, "cùng lý" thì sa vào thuyết Trang. Đó đâu phải vì họ không biết nguyên nhân, nên mới sa vào hai thuyết ấy. Đấy là cái bệnh cảu học giả không biết rằng học rộng thì phải tóm tắt lại cho tường. Bởi thế ta thường nói: "Khổng Tử là khối Thái cực của văn chương. Mạnh Tử và các nhà Nho về sau, tức là Thái cực sinh ra Lưỡng nghi(18), Chu Tử và các nhà Nho về sau, tức là Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng(19). Tứ tượng biến hóa, mọi loài đông đúc(20). Đã đông đúc thì không tinh túy được nữa và trở thành bác tạp. Đã bác tạp, thì cái gọi là văn chương, chẳng qua chỉ là cỏ rác mà thôi. Các học giả, nếu không biến đổi được khí chất, nuôi dưỡng được tâmtính, mà cứ đi vào con đường Thiền và Trang, thì dù có muốn xét lại thân mình đẽo gọt văn mình, bỏ cái phù hoa để trở về với cái hiện thực, cắt cái sai ngoa để giữ lấy thuần túy, cũng không thể nào làm được.
Hãy đọc kỹ thơ của Trần tử, như những câu:
Người xưa nay còn ai?
Người nay bỗng thành cổ.
Thánh hiền đi không về,
Khôn dại cùng lối cũ.
Lại những câu:
Tài nhiều bị đời ghét,
Học rộng bị người ghen.
Thông minh lẫn hỗn độn(21),
Sắc sảo mất hồn nhiên.
Ý những câu ấy gần gũi với thuyết Trang. Hiện nay, kiếm được người có học, có tài như người này thật là khó. Nhưng xem chừng ông ấy cũng chưa có bản lĩnh. Nghe nói lúc trước, ông ấy đã theo học Phạm Thạch Động(22). Văn chương của Thạch Động như thuyền không lái, ngựa bất kham, khí phách sắc sảo, lời lẽ hùng hồn, nhưng không có cốt cách vững chắc. Cho nên khí chất và tâm tính cũng thế. Gọi là kẻ sĩ giỏi văn thì được, chứ gọi là kẻ sĩ "bác văn ước lễ"(23) thì không được. Đây là do nguồn gốc thầy bạn của Trần Tử khiến như vậy. Cứ theo đà ấy mà đi, thì sẽ trở thành con người "cuồng giản"(24) như của Khổng thường gọi và đến cuối cùng thì sẽ là người mang cái thuật Lão Tử đứng vào chỗ cái nghĩa "tùy thời" của Khổng Mạnh và "danh lý" của Trình, Chu. Thiên hạ mắc vạ không nhỏ.
Tuy nhiên, với người ấy, ta vẫn có thể đánh bạn được. Trong các học giả ngày nay, lấy đâu ra những người như thế để cùng nhau nói chuyện về văn chương? Chắc chắn khí chất và tâm tính của ông ta đã vào bậc thông minh, sắc sảo. Thông minh sắc sảo đâu phải là một thứ gì thái quá? Chỉ sợ không được như thế mà thôi. Nếu được như thế, mà lại biết hàm dưỡng cái thông minh, uẩn súc cái sắc sảo lại, thì trên đường đi đến tinh túy, chỉ có một bước thôi. Ôi! "Người nay, người xưa", đều là người cả, nhưng đạo làm người, ta phải nghĩ sao để lập thành được? "Thánh hiền đi không về", nhưng có bao giờ đi đâu? Sự nghiệp của thánh hiền, ta phải nghĩ sao để nối tiếp. "Khôn dại cùng một lối", vậy thì đường cũng có đường khôn, đường dại. Theo đường khôn mà đi, thì hẳn không bị vấp ngã. "Tài nhiều bị đời ghét". Tài nhiều mà không kiêu, không lận, thì ai ghét? "Học rộng bị đời ghen". Học rộng mà tự mình lập dị thì ai ghen? Trí thông minh của ta là đủ để nhận xét việc của vũ trụ, mà không xuyên tạc hỗn độn; tài sắc sảo của ta, dùng đủ để hiểu biết lẽ trung trời cho(25) mà không để mất tính hồn nhiên, vui thì ta làm, buồn thì ta tránh. Đó là một Thái cực, động tĩnh hồn nhiên, há lại không phải cái tinh túy trong văn chương của Phu Tử (Khổng Tử) mà mọi người được nghe đó sao? Nếu biết tìm đến cái gọi là bản lĩnh của tinh túy mà ra sức làm, thì những cái phù hoa không cần phải bỏ mà tự nó bỏ, những cái sai ngoa không cần phải cắt mà tự nó cắt, có thể trở lại với đơn thuần thực tế và giữ được nguyên vẹn cái "bản chân"(26) của ta.
Tiện bút viết ra đây, ông nghĩ thế nào? Có thể đem nói chuyện với Trần Tử được không?


[1] (1) Đầu Đà: Tiếng Phạn là Dutha có nghĩa là quét sạch (bụi trần), sau dùng chỉ chung những người tu hành khổ hạnh.
(2) Dâm từ: Theo Từ nguyên, "dâm từ" là những đền miếu thiết lập ngoài quy luật của nhà chức sắc (lạm thiết chí từ miếu dã). Sách Đường thư chép: Địch Nhân Kiệt đến Giang Nam phá hủy "dâm từ" 1700 ngôi, chỉ để lại có 4 ngôi là Hạ Vũ, Ngô Thái Bá, Quý Trác và Ngũ Viên.
( 3) Pháp dược: Theo đạo lý của Phật thì dứt đau khổ cả về thể xác lẫn tinh thần, nên gọi là pháp dược.
 (4)Ý nói lặn lội trong cuộc đời chìm nổi chẳng ích gì, cứ bình thản như mây chiều ở núi tây là được. Đây là những câu nói của các nhà sư thường gọi là công án. Công án của Thiền tông thường khó hiểu. Thiền tông chủ trương lãnh hội công án bằng trực giác, chứ không phải bằng lý trí. Nói cách khác Thiền tông chủ trương hạn chế lý trí trong cái gọi là phương tiện trí (Upayajnana) và dùng cái gọi là chân thật trí (Tattvajnana) để hiểu biết.
 (5) Ý nói phải có cách nhìn điên đảo khác với thế tục.
(6) Nói về những cái đẹp biểu hiện bên ngoài của Phật như tay dài quá gối, mình sắc vàng, da dẻ mịn màng, đi đứng đường bệ... (Xem Trí độ luận).
 (7) Như Lai: Tức là Phật tính. Câu này trích trong kinh Kim cương (Vajira Suci).
 (8) Cám bã ở dưới cối: Ý nói cái gì cũng là Phật.
 (9) Ý nói Phật pháp là gì.
 (10) Ý giống như chú thích (1) Nói về những cái đẹp... (Xem Trí độ luận).
(11) Ý hỏi thuyết Hữu và thuyết Vô có giống như cây sắn dựa vào thân cây vì giữa Hữu và Vô cũng nương tựa nhau.
(12) Ý nói nhiều người đếm được như cát sông Hằng.
(13) Đập ngói khoan rùa: Nguyên bản chép "Đả mã toàn quy" nghĩa là: "đập ngựa khoan rùa". Theo chúng tôi, nên chữa lại là "Đả ngõa toàn quy", nghĩa là "đập ngói khoan rùa", ở đây có lẽ chỉ những việc làm tủn mủn vô ích. Trong sách Đại Nam thiền uyển truyền đăng lục có chép thơ của Thiền sư Viên Chiếu: "Xảo ngôn lệnh sắc giả, toàn quy đả ngõa nhân", nghĩa là: "Kẻ mồm mép bề ngoài, kẻ đập ngói khoan mai rùa".
(14) Xưa có người nước Sở đánh dấu ở mạn thuyền để tìm kiếm rơi. Ở đây ví người này và người cố chấp ở thuyết Hữu và thuyết Vô đều là những việc vô ích.
(15) Xưa con trai Bá Nhạc (thầy xem tướng ngựa) đem sách tướng ngựa của bố đi tìm mua về một con ngựa không cưỡi được. Ý giống như trên.
(16) Xưa có người nước Tống trông thấy con thỏ húc phải gốc cây mà chết, anh ta bèn ngồi đấy để chờ trường hợp tương tự xảy ra. Ý giống như trên.
(17) Nhìn ngón quên trăng: (chấp chỉ vong nguyệt) nhìn ngón tay mà quên mặt trăng, ý nói chỉ cố chấp cái phương tiện mà quên cái cứu cánh. (Xem kinh Viên giác).
(18) Tám chữ mở ra: (bát tự đả khai) có nghĩa là đã trình bày rõ ràng không còn giấu diếm gì nữa.
Tám chữ bát tự: kinh Niết bàn ghi: "Sinh diệt diệt dĩ tịch diệt vi lạc", nghĩa là: "Sinh thành hủy diệt cũng là ở trong cõi diệt, chỉ có tịch diệt mới là vui".
Cũng có ý kiến cho rằng "tám chữ" ở đây là chỉ tám chữ trong kinh Kim cương: "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm", nghĩa là "đừng để tâm của mình bị lôi cuốn bởi điều gì".
 (19) Cả đoạn này Trần Nhân Tông đồng thời gạt cả thuyết Hữu lẫn thuyết Vô bằng phương pháp bất nhị (bất nhị pháp môn). Theo Trần Nhân Tông thì Hữu và Vô đều là những chủ trương thiên kiến, cứng nhắc. Nhưng hai phái đó quấn vào nhau như sắn quấn vào cây. Chúng đánh đổ nhau bằng những luận chứng như nhau, mỗi bên chấp nê một thuyết như người tìm gương theo vạch thuyền, ôm cây đợi thỏ; hay như người nhìn ngón tay mà quên mặt trăng, họ cãi vã quát tháo ồn ào, tìm kiếm khổ sở, đau đầu nhức óc mà chẳng được gì. Bất nhị pháp môn gạt cả hai, chủ trương cái gọi là bình đẳng quan (Samata).
Bài Bát bất kệ của Tuệ Trung Thượng Sĩ thể hiện bình đẳng quan này: "Pháp thân vô khứ diệc vô lai, chân tính vô phi diệc vô thị, hữu hữu vô vô tất cánh đồng, phiền não Bồ đề nguyên bất nhị, bất sinh hoàn bất diệt, vô thủy diệc vô chung". Có nghĩa là: "pháp thân không đi đâu mà cũng không từ đâu lại, chân tính không sai cũng không đúng, hữu hữu vô vô đều như nhau, phiền não và Bồ đề vốn không phải là hai, không sinh cũng không diệt, không bắt đầu cũng không kết thúc".
(20) Tính mệnh huyết mạch: Ý nói đến sự sống còn của Trần Nhân Tông.
(21) Thời vị lai: Ở đây chỉ giờ phút cuối đời của Trần Nhân Tông.
(22) Chị vua Trần Nhân Tông
(23) Nguyên văn: hai bể bạc. Đạo gia gọi vai là "lầu ngọc" (ngọc lầu), mắt là "bể bạc" (ngân hải).
(24) Phật mặt trời: (nhật diện Phật) Phật sống một ngàn tám trăm tuổi.
Phật mặt trăng: (nguyệt diện Phật) Phật sống một ngày một đêm (Phật học tiểu từ điển, tr.107-108).
(25) Pháp: Tiếng Phạn là dharma, có nghĩa là hết thảy sự vật sự lý. Hết thảy pháp không sinh, hết thảy pháp không diệt, nghĩa là mọi sự vật sự lý đều không thể sinh ra cũng như không thể hủy diệt (xem Duy ma kinh).
(26) Nằm như sư tử: Một lối nằm của người tham thiền, hoặc tập khí công. Nằm nghiêng bên phải, chân phải co lại, chân trái đặt trên chân phải, tay phải co lại để sát mặt đất gần đầu, tay trái đặt dọc theo người, hoặc ngược lại.
 
 
 
[2] (1) Mẹ của vua Trần Nhân tông
(2) Tức Trần Quang Triều, cháu Trần Hưng Đạo, làm quan Tư đồ nắm quyền phụ chính.
(3) Bia "Đệ nhị đại tổ bi trùng tu sự tích ký" dựng năm 1684 tại chùa Hương Hải (Nam Sách, Hải Hưng) ghi Pháp Loa ngáy một tiếng chứ không phải ba tiếng.
 (4) Tiền Tông chủ trương tránh dùng ngôn ngữ, văn tự. Trang Tử nói những lý luận trong sách vở chẳng qua cũng như tiếng gió thổi qua bộng hốc của cây trong rừng (sách Tề vật luận).
Ý Pháp Loa nói: Tôi nói mơ cũng chẳng qua như tiếng gió thổi trên cây, đều là tự phát chứ không có dụng ý gì.
(5) Xin đối chiếu một đoạn sau đây ở sách Tam tổ thực lục (Ký hiệu Thư viện khoa học xã hội là A. 786).
"Ngày mười một, đang đêm Huyền Quang đến thăm bệnh, thấy sư đang ngủ mà lại nói lảm nhảm. Huyền Quang nói: sao lại ngủ cũng như tỉnh? Sư nói: ngủ với tỉnh cũng là một, chỉ có lúc vô bệnh là thế. Huyền Quang nói: có lý đâu có bệnh vô bệnh là một? Sư nói: có bệnh hay vô bệnh không liên quan gì đến nó. Huyền Quang nói: nhưng lại có tiếng nói là nghĩa làm sao? Sư nói: gió lướt vào cây, sao lại có tiếng? Huyền Quang nói: tiếng gió lướt cây không ai nghi hoặc, nhưng ngủ mà nói mê thì người ta nghi hoặc. Sư nói: có thể đứa ngu cũng nghi hoặc cả gió lướt cây".
 
[3] (1) Bảo Phác Thiền sư: chưa rõ.
  (2) Chùa Quỳnh Lâm ở huyện Đông Triều, Quảng Ninh.
 

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc