Home » Tin tức » QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG

NGUYỄN PHI KHANH

SUNday - 24/08/2014 20:50
NGUYỄN PHI KHANH (1355? – 1428?) Tên thực là Nguyễn Ứng Long, hiệu Nhị Khê, vốn quê ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc, nay là xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, Hải Dương, sau di cư đến xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Nam Thượng, nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội. Làm gia sư rồi sau trở thành con rể quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Đậu Thái học sinh năm Giáp Dần (1374), nhưng là con nhà thường dân mà lấy vợ hoàng tộc nên chỉ được giữ chức Kiểm chính là một chức quan nhỏ. Khi Nhà Hồ thay Nhà Trần, ông đổi tên là Nguyễn Phi Khanh ra làm quan với Nhà Hồ. Tháng Mười hai năm Tân Tỵ (1402), được cử làm Học sĩ Viện Hàn lâm. Sau lần lượt được thăng đến Thái tử tả tán Thiện đại phu, Tư nghiệp trường Quốc Tử Giám. Năm 1406, quân Minh sang xâm lược, năm sau Nhà Hồ thất trận, ông nằm trong số tù bị bắt về phương bắc. Theo gia phả họ Nguyễn Nhị Khê thì Nguyễn Phi Khanh mất tại Trung Quốc năm 73 tuổi (1428). Tác phẩm: Nhị Khê thi tập, đã mất, hiện còn Nguyễn Phi Khanh thi văn do Dương Bá Cung sưu tập.
Tranh: Nguyễn Trãi khóc cha Nguyễn Phi Khanh tại ải Nam Quan

Tranh: Nguyễn Trãi khóc cha Nguyễn Phi Khanh tại ải Nam Quan

Nguyên tác:
 
 HOÀNG GIANG DẠ VŨ
 
 Liễu phố tam thu vũ,
 Quân bồng bán dạ thanh.
 Cô đăng minh hựu diệt,
 Hồ hải thập niên tình.
 
 
Dịch nghĩa:
 
MƯA ĐÊM Ở HOÀNG GIANG (1)
 
Mưa thu trên bến liễn,
Tiếng rỏ xuống mui thuyền tre lúc nửa đêm.
Ánh đèn cô đơn khi tỏ khi mờ,
Tấm lòng hồ hải đã mười năm nay.
 
Dịch thơ:
 
 Mưa thu trên bến liễu,
 Thánh thót giọt mui thuyền.
 Hắt hiu đèn một ngọn,
 Hồ hải chốc mười niên.
 
 Tiên Sơn – Huệ Chi
 (Thơ văn Lý – Trần, Tập III)
 
1 

1. Hoàng Giang: Tên gọi khúc sông Hồng chảy qua vùng Sơn Nam Hạ, bao gồm từ Hà Nam đến Nam Định ngày nay
 
Nguyên tác:
 
THU THÀNH VÃN VỌNG
 
Mộc lạc đô thành cửu nguyệt thiên,
Tà dương tráo địa tiệt vân yên.
Ly hồng viễn viễn nghênh phong trận,
Khích nguyệt quyên quyên cách thụ huyền.
Ngâm hứng tứ thời thu dị cảm,
Nhân sinh vạn sự lão kham liên.
Binh qua huống phục điêu tàn hậu,
Giao vọng tình mân nhất khái nhiên!
 
Dịch nghĩa:
 
CHIỀU THU ĐỨNG TRÔNG Ở TRÊN THÀNH
 
Lá cây rụng ở đô thành, dưới bầu trời tháng chín,
Bóng chiều lồng mặt đất cắt ngang mây khói.
Đàn chim hồng biệt ly, xa xa bay ngược gió,
Vầng trăng treo ngọn cây, bóng qua kẽ lá
Hứng ngâm thơ trong bốn mùa tới mùa thu là dễ cảm nhất.
Muôn việc trong đời người, tuổi già thật đáng thương
Huống chi lại là cảnh điêu tàn sau cơn bình hỏa,
Trông vời trời tạnh, một phen ngậm ngùi!
 
Dịch thơ:
 
Đô thành tháng chín lá theo sương,
Mây khói trời tà vệt cắt ngang.
Đón gió, trận giăng bầy nhạn thẳm,
Treo cây, kẽ lọt ánh trăng vàng.
Bốn mùa thi hứng: thu sinh cảm,
Muôn việc đời người: già đáng thương.
Huống lại điêu tàn sau lửa chiến,
Vời trông trời tạnh ngậm ngùi vương.
 
                                                   Đào Phương Bình
                                   (Thơ văn Lý – Trần, Tập III)
 
 
Nguyên tác:
 
THÔN CƯ CẢM SỰ KÝ 
TRÌNH BĂNG HỒ TƯỚNG CÔNG
 
Đạo huề thiên lý xích như thiêu,
Điền dã hưu ta ý bất liêu?
Hậu thổ sơn hà phương địch địch,
Hoàng thiên vũ lộ chính thiều thiều!
Lại tư võng cổ hồn đa kiệt,
Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu.
Hảo bả tân thi đương tấu độc,
Chỉ kim ngọa bệnh vị năng triều
 
1 

Dịch nghĩa:
 
Ở QUÊ XÚC ĐỘNG TRƯỚC VIỆC XẢY RA,
GỬI TRÌNH TƯỚNG CÔNG BĂNG HỒ (1)
 
Ruộng nương nghìn dặm đỏ như cháy,
Đồng quê than van, không biết trông cậy vào đâu?
Non sông Hậu thổ (2) đang nứt nẻ,
Mưa móc Hoàng thiên (3) hãy còn xa vời!
Lưới tham quan lại vơ vét hết kiệt,
Mùa màng của dân đã cạn mất nửa.
Xin đem bài thơ mới này thay cho tờ tấu,
Hiện nay đang nằm trên giường bệnh
                             chưa thể đến chầu được.
 
Dịch thơ
 
 Đồng điền nghìn dặm đỏ như thiêu,
 Biết tính làm sao, nhộn tiếng kêu.
 Đất nẻ, non sông khô đến thế,
 Trời nung, mưa móc hiếm bao nhiêu.
 Lưới tham quan lại vơ hầu kiệt,
 Dầu mỡ dân gian cạn đã nhiều.
 Thơ mới xin dùng thay bản tấu,
 Chưa về chầu được, ốm nằm liều.
 
                                                                    Huệ Chi
 
1. Tướng công Băng Hồ: Tức Trần Nguyên Đán. (Xem tiểu sử trong cùng tập).
2. Hậu thổ: Thần Đất.
3. Hoàng thiên: Trời.
 
Nguyên tác:
 
HỒNG CHÂU KIỂM CHÍNH DĨ DƯ
VẬN TÁC THUẬT HOÀI THI, KIẾN PHÚC,
DỤNG KỲ VẬN DĨ TẶNG
 
Vạn tính ngao ngao đãi bộ cầu.
Thùy gia kim ngọc á cao khâu!
Nhân tình gian hiểm, quân phương cốc,
Thế lộ phong đào, ngã diệc châu.
Đế lý, khách hoài, phùng mộ vũ,
Thư phòng, cựu thoại, niệm anh du.
Tây phong quát mộng truyền biên tín,
Tràng đoạn nam nhiên tứ ngũ châu
 
Dịch nghĩa
 
KIỂM CHÍNH HỒNG CHÂU (1) DÙNG VẦN CỦA TÔI ĐỂ LÀM BÀI THƠ THUẬT HOÀI, SAU KHI ĐỌC TÔI LẠI DÙNG VẦN ẤY LÀM THƠ TẶNG ANH (2)
 
Muôn họ đang nhao nhác chờ miếng cơm manh áo,
Nhà ai đó vàng ngọc sánh ngang gò cao!
Anh đang là cái bánh xe lăn trong sự gian hiểm của tình người,
Tôi cũng như con thuyền trong cơn sóng gió của đường đời.
Tâm trạng làm khách ở quê vua gặp cơn mưa chiều.
Câu chuyện cũ ở phòng văn gợi nỗi nhớ
                                          những cuộc chơi hồi trẻ.
Gió tây đánh thức giấc mộng, truyền tin tức
                                                     từ biên cương tới,
Đứt ruột về bốn năm châu mảnh đất phía nam.
  
Dịch thơ:
 
Muôn dân cơm áo chực nhao nhao,
Vàng ngọc nhà ai sánh núi cao.
Anh giống xe lăn trong hiểm trở,
Tôi như thuyền dạt giữa ba đào.
Làng vua, nỗi khách, mưa chiều đến,
Việc cũ, phòng văn, chuyện thuở nào.
Gió tỉnh hồn mơ, tin gửi tới,
Bốn năm châu huyện, ruột như cào.
 
                                                   Nguyễn Đức Vân
                                   (Thơ văn Lý – Trần, tập III)
 
 
  1
 

1. Kiểm chính Hồng Châu: Tức Nguyễn Hán Anh, em đồng hao của tác giả, lấy Trần Thị Thai con gái Trần Nguyên Đán. Sau cũng đậu Thái học sinh và cũng được giữ chức Kiểm chính Hồng Châu tức Hải Dương ngày nay.
2. Bài thơ này gồm hai bài, chúng tôi chọn bài 1.
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc