Home » Tin tức » QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG

NGUYỄN VĂN SIÊU

SUNday - 24/08/2014 20:38
NGUYỄN VĂN SIÊU

NGUYỄN VĂN SIÊU

NGUYỄN VĂN SIÊU (1799 - 1872) Vốn tên là Định, tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình, nguyên quán ở làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Hà Đông (cũ). Đỗ Phó Bảng năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), được bổ làm Kiểm thảo viện Hàn lâm, rồi làm Viên ngoại lang Bộ Lễ, Thừa chỉ ở Nội các kiêm chức Thị giảng (giảng sách cho các hoàng tử...) dưới hai triều Minh Mệnh, Thiệu Trị. Dưới triều Tự Đức từng làm Phó sứ trong sứ đoàn sang Trung Quốc, khi về được thăng Học sĩ Viện Tập Hiền, rồi ra làm Án sát Hà Tĩnh, Án sát kiêm Tuần phủ Hưng Yên. Năm 1854, ông từ quan, từ đó chuyên tâm vào việc dạy học và viết sách. Tác phẩm: Phương Đình dư địa chí, Chư kinh khảo ước, Chư kinh khảo thích, Tứ thư bị giảng, Phương Đình tùy bút lục... về thơ văn có các bộ: Phương Đình thi loại, Phương Đình văn loại, Phương Đình thi văn tập.
PHƯƠNG ĐÌNH THI VĂN TẬP
 
HAI LOẠI VĂN CHƯƠNG
Từ buổi nhận được thư ông, trong thư có nhắc tới những áng thời văn mà tôi sáng tác, cùng những thơ phú, cổ văn và còn gợi ý: “Mong ông chỉ rõ những điều mực thước, để giúp thêm cho sự học vấn của tôi”. Tôi ngẫm nghĩ câu nói đó có ý vị đậm đà, hơn nữa mùa xuân vừa tới, chẳng những sự cấp bách của việc tìm tòi tri thức, mà cái ông duyệt lại nội tâm cũng gấp. Vả lại Định tôi năm nay cảm thấy trong người nhiều bệnh, bỏ quên sách vở đã lâu ngày, biết bao giờ trở lại được cùng đôi ba bạn đồng đạo, đồng tâm, dắt nhau dưới ngọn gió xuân. Chứ bây giờ thì một mình đơn lẻ, quay đầu lại trăng gió Liêm Khê vẫn còn đó,mà cái vui kia mãi mãi khôn về. Tuy vậy, điều đáng mừng là lời di giáo vẫn còn mà Định tôi không thể tự cưỡng, thì có lẽ mình đã phụ sự trông đợi của bạn và thầy nhiều lắm. Cho nên tôi gác sự thẹn thùng để lại đem ngôn ngữ mà lên tiếng với người đời. Nhưng hiếm nỗi về văn chương đương thời tôi ít lưu tâm, còn thơ phú, cổ văn tuy có để ý nhưng học vấn còn nông cạn, những điều mình thấy còn chưa chính xác. Thấy chưa chính xác thì nắm giữ không chuyên, nắm giữ không chuyên thì bàn bạc không sành. Cho nên không dám đem cái bệnh của mình để làm lây người khác. Tuy vậy Định tôi cùng ông ngày thường chẳng giấu gì nhau, hơn nữa ông lại là người chu đáo, ắt hẳn không lầm. Nhân cảm về sự chân thành của ý trong thơ gửi tới, cùng cái sức duyệt lại nội tâm cũng để nâng dậy sự lười nhác nơi tôi, cho nên tôi không thể không lần lượt soạn ra để trả lời, còn sự dùng hay bỏ thì tùy ông lựa chọn. Song tôi lại thường suy nghĩ: Học vấn mà tìm nó ở văn chương thì không thể, nhưng không có văn chương thì lại không đủ để nhìn thấy học vấn. Bọn người viết văn thời bây giờ, trước tiên khước từ điều đó, vì ý nghĩ lợi lộc vắt ngang trước ngực, họ bỏ sách chẳng thèm ngó tới, bàn luận dông dài, ngày ngày đem những lời bàn cũ rích, chắp nhặt thành văn. Tuy họ biết rõ là vô nghĩa lý, nhưng cứ theo bừa để mua chuộc thói đời. Phương chi những người không biết lại không phải là hiếm. Hoặc có kẻ có đôi câu nghe được, thì tâng bốc lẫn nhau. Hoặc có kẻ bàn cao tán rộng thì cho rằng: Thời xưa không có ai đáng là bậc thầy, dù Khổng Tử, Mạnh Kha sống lại, liệu có ích gì cho bọn ta đây. Hoặc có kẻ chán ghét loại văn chương của bọn thế tục, thì lại bỏ ngoài cái việc thân tâm, ngày ngày đem thơ văn của Lý, Đỗ, Liễu, Hàn gượng thay lời lẽ, rồi đem ra khoác lác cùng người: Đây là Hàn, đây là Đỗ. Nếu như họ bằng Hàn, Đỗ thì chả nói làm chi. Nhưng khốn nỗi cái học của họ còn kém xa Hàn, Đỗ. Cũng có bọn người, tự biết mình không khuất phục được ai, thì cố nặn ra loại văn bí hiểm, quái dị, để che giấu cái học thô mãng nông cạn của mình, mà còn làm ngu dốt những người đồng loại. Lúc đầu thì bọn ngu tin theo, sau đó thì kẻ trí cũng bị mê hoặc. Cái hại còn quá quắt hơn cái loại văn của bọn người không đọc sách lúc bấy giờ. Vì rất sợ điều đó, cho nên tôi nói: “Học vấn mà đi tìm nó ở văn chương thì không thể”.
- Thế thì văn chương không đáng thờ hay sao?
Xin thưa rằng:
- Có loại đáng thờ, có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người. Phu tử xưa đã nói: “Làm việc có sức thừa thì đem nó mà học văn chương”. Học trò ghi lại bốn điều dạy bảo của thầy: Điều thứ nhất là văn chương. Kẻ sĩ theo đòi văn chương đã lâu ngày, nhưng tra cứu về chỗ bàn về việc viết văn của người, thì chỉ thấy nói: “Lời đạt mà thôi”. Vì “Văn” và “Đạo” tuy có tên khác nhau, nhưng nội dung của nó thì bắt nguồn từ “Đạo”.
Thế nhưng thế nào gọi là đạo?
- Đó là cái tâm ta sẵn có. Văn chương ắt lưu giữ ở tâm này. Điều giáo huấn về “Lời đạt”, tiên nho Đông Pha đã từng bàn tới. Nhưng Định tôi lại cho “Đạt” là cái gọi là “Có gốc”. Ví như nước vậy. Nước của biển khơi, tuy gò đảo chắn ở phía trước, nhưng dòng không rối loạn. Ao vịnh rất xa, nhưng nguồn mạch thường thông. Được thế là vì biển chứa chất sâu dày vậy. Tĩnh thì thể nghiệm nó ở bản thân, động thì tham cứu nó ở sự. Nó là cái mà ta nắm được, để làm trọn vẹn cho “Cái vốn có” của mình. Sau đó, tiếp xúc với sự vật thì nó bật ra. Không một lời nào là không bình dị, không một ý nào là không ngân vang. Há không phải là thông suốt ở nơi tâm, thì sau đó thông suốt ở nơi tay và miệng. “Lời” mà đến chỗ “Đạt”, thì cái học có thể hiểu là như thế nào. Cho nên tôi nói rằng: “Ngoài văn chương không đủ để thấy cái học”. Nhưng học mà đến như vậy, có người có thể học được chăng? Có người không thể học được chăng? Nhiều người có thể học được, có người không thể học được, đó là sự hạn chế của mình thôi. Vì họ chỉ chăm chăm nghĩ tới trách nhiệm nhất thời, mà không nghĩ tới trách nhiệm đối với người khác. Cho nên phần nhiều họ chỉ để ý tới cái ngọn, mà không biết để ý tới cái gốc. Học chỉ cốt ở thi đỗ và họ nói rằng: “Thế là trách nhiệm của ta đầy đủ rồi”.
Phàm những kẻ chỉ cầu mong ở thi đỗ, ngoài ra không còn một cái học nào khác. Họ không biết rằng: Tu sửa cái “Gốc” thì cái “Ngọn” dày lên. Nếu chỉ che đậy qua loa cái trách nhiệm ở gần, thì bỏ mất trách nhiệm ở xa. Hiện giờ bậc minh thánh ở trên, mọi người hiền ra sức. Bờ cõi không yên thì ra quân đánh dẹp, đó là trách nhiệm của người gìn giữ biên cương phải gánh, gặp năm đói kém thì đem thóc gạo giúp đỡ cho dân nghèo, đó là trách nhiệm của người coi việc nông trang phải gánh. Còn bọn ta thì: Tên không liệt vào sổ quân, thân không dự vào thuế khóa, nước nhà đã không bắt ta gánh vác vào việc lo toan này. Như vậy, đâu phải còn có điều trông đợi riêng ở bọn ta trong đó. Phương chi ăn thì người làm ruộng cày thay ta, ở thì người thợ làm thay ta, dùng thì người buôn bán trao đổi thay ta. Vậy thì cái trách nhiệm mà người đời đòi hỏi ở bọn ta cũng không phải nhẹ, mà bọn ta coi việc này là một điều tắc trách, thì hóa ra ta đã phụ vua ta và người đời chẳng lớn lắm sao? Dù triều đình không đem việc gìn giữ phòng cương và việc khuyến khích nông tang mà bắt bẻ chúng ta, thì người bình luận có quan tâm đến thế hệ sau này cũng sẽ nói: “Sinh ở thời đại sùng thượng văn chương này, mà anh lại là một kẻ sĩ, thế thì sự tích lũy của anh có điều gì đáng lấy, học thuật của anh có điều gì đáng truyền, hay anh chỉ đem khoa cử để che tai lấp mắt người đời đó sao?”
Bạn tôi không phải là người tắc trách nhất thời, mà thường gìn giữ lời di giáo của Phu tử, lại có thừa những điều để nâng dậy chí khí lười nhác của tôi, chữa cái bệnh học vấn của tôi. Khiến tôi cùng với bạn tôi không phụ vua tôi và người đời, thì ai còn trách được. Nhân thư của bạn tôi gửi tới, nên tôi bàn tới điều này. Bạn tôi nghĩ sao? Ngoài ra không còn gì nói hết.
 
 
RÕ LÀ MỘT ÁNG VĂN CHƯƠNG CỦA
TẠO HÓA (1)
 
Lời càng khéo thì càng mất điều chân thực (Chân), ý càng kỳ thì càng rơi xuống hư hao (sức). Đến như các bậc nho giả chú kinh đã nhiều, mà kẻ làm sai kinh cũng không phải là ít. Phương chi mới học viết văn, mà muốn có lời ý sâu xa, uyên ảo của thánh hiền được ư? Đó chẳng qua chỉ là loại văn chương khoa cử tầm thường mà thôi. Đến như thi học, tả văn, xưa nay ai nấy đều trở thành trường phái (Gia), cũng không phải là điều ít ỏi! Nhưng bọn người đi tìm cái hay ở thơ văn cũng lại rất nhiều. Bọn người đi tìm cái hay ở thơ văn, khi tới rồi cũng chỉ như vậy, mà thơ văn chưa hẳn là hay. Còn bọn người không đi tìm cái hay ở thơ văn, khi đã tới thì không thể lường được, mà thơ văn chưa hẳn là không hay. Ta hãy đem việc này so sánh với việc trồng cây. Một bên, thì mở rộng cho cây hàng trăm mẫu ruộng, tưới cho cây bằng nước sông Giang, sông Hoài, mong cho thân cây cao hàng trăm trượng, sương gió tôi luyện cho cành của nó, móc mưa dầm cho gốc của nó, cành to gốc lớn, mặc ý vươn ra bốn mặt…Cho nên nó xanh tươi mầu mỡ biết bao! Rõ là một áng văn chương của tạo hóa! Một bên thì thả cho cây một nửa sọt đất, tưới cho cây bằng nước vũng nước khe. Mong cho thân cây cao vừa gang tấc, hôm nay uốn cái cành, ngày mai tỉa cái lá, dọc ngang uốn éo, trăm vẻ đổi thay, tuy tạm đủ giúp cho ngắm nghía, nhưng sinh ý nào khỏi héo khô. Bởi vì cái tô sức ở bên ngoài thì bên trong tàn tạ, cái vui đắp ở bên trong, thì bên ngoài tốt tươi. Đó là cái gọi là cái lớn thì đủ sức bao dung cái nhỏ, mà cái nhỏ không đủ sức nâng đỡ cái lớn(2).
 
 
THƯ VIẾT CHO TRẦN ĐỨC ANH
 
Tôi xin bầy tỏ dưới ghế Trần Khuất Trai tiền bối: Tháng trước gặp tiền bối nơi quán trị Hồ Gươm, cùng người ngủ lại một đêm, may mắn được tiếp lời bàn luận về chuyện văn chương, thảng có một hoặc vài kiến giải cũng là buột miệng nói ra. Ngày hôm sau nhân khi đi dạo Hồ Gươm, tiền bối giao cho làm một bài ký, từ chối đôi ba lần không được, nên buột ý viết ra. Sau khi chia tay trở về, còn đang đợi chờ điều khả phủ, thì liền đó được tiền bối giao cho việc kiểm duyệt những bài cổ văn và hơn ba mươi thiên thơ mà tiền bối đã viết ra, và còn dặn: “Tôi tuy không phải là bạn vong niên, nhưng ông cứ chỉ giáo cho, thế là được lắm”. Đỡ lấy việc này, tôi thấy trong lòng run sợ, nhưng từ chối lại không được. Sau khi lĩnh ý, hoặc vì xem lướt nên chưa hiểu hết, tôi cứ chần chừ ngày tháng, chưa dám vội thêm chỗ dị đồng, nhưng tiền bối lại đôi ba lần thúc giục, và dặn thêm: “Duyệt xong, hãy đem những chỗ xưa nay sử dụng coi là tạm được của văn chương mà viết rõ ra một lượt, đó là điều mong muốn của tôi”.
Ôi lầm rồi! cho ta người không biết, thì không làm khổ nhau, còn cho ta là người biết thì ta không phải là người “Thực biết”. Nếu quả “Thực biết” mà đem cái sức bình sinh của ta chỉ dùng cho thơ văn, liệu có ích gì! Nhưng đã vâng lời chỉ giáo thì đâu dám đơn sai. Tôi nhẩm đi đọc lại nhiều lần, mới biết văn chương của tiền bối, có lẽ muốn mô phỏng họ Đào. Như bài Tạp vịnh sau khi say mô phỏng hệt những bài uống rượu của họ Đào, bài Trồng cú và bài Đi tản bộ nơi đồng quê mô phỏng hệt bài Trở về đồng ruộng. Lại như bài Xin ở trọn với ông già rừng núi là mô phỏng bài Quy khứ lai từ, bài Quy ngu ký là mô phỏng bài Ngũ Liễu tiên sinh truyện. Còn bài Du tiên ước lại tương tự với bài Đào hoa nguyên. Phỏng theo họ Đào như tiên bối đã là một bậc cừ khôi. Hâm mộ lời ý “Hòa bình” và “Chân thực” của họ Đào, nhưng phải chăng cần có thêm cái “hành tích” của ông ta nữa? Vì bằng không có cái đó, thì sao gọi là “Chân thực” được?
Tôi thấy từ xưa tới nay các nhà mô phỏng họ Đào nhiều lắm, dù cho họ có cái hành tích của ông, nhưng cũng không sao giống được. Vì con người của họ Đào rất chân chính, tài lại cao, ý lại xa, cho nên thơ văn của ông không gò ép, mới nhìn hầu như tản sơ đạm phác, nhưng bên trong lại chứa đựng nhiều tư thái hào hùng, phong độ kỳ diệu, muốn khơi dậy ý chí của con người, cho nên các nhà chỉ phỏng theo được cái vỏ của nó mà thôi. Tôi thường nghe Hàn Thoái Chi có nói: “Đào Tiềm và Nguyễn Tịch chưa tránh khỏi nhược điểm, nhưng cũng là sự bất hạnh của hai ông, nếu họ được gặp Khổng Tử và cùng ngao du với người như Nhan Uyên và Tử Lộ, thì đâu đến nỗi phải gửi gắm nơi chua cay, ẩn lánh nơi tăm tối?”. Tôi e rằng chưa hẳn như vậy. Bởi vì người ta chưa tự tin sâu sắc, nếu tự tin sâu sắc, thì hàng ngày đem sách vở còn để lại mà tuy tìm những câu vấn đáp của các môn đồ nơi cửa ngõ thánh hiền, cùng những chỗ mà họ tự nói lên cái chí của mình, với cái cách khắc kỷ cầu nhân, cái cớ hành tàng dụng xả mà họ bàn tới, thì tuy xa cách trăm nghìn năm, nhưng cũng bàng hoàng như đứng đi bên cạnh. Chu toàn với các bậc thầy là đủ, cần chi mà phải tìm kiếm nơi đâu. Hà tất phải cùng thời với họ, trực tiếp với họ, rồi sau mới có niềm vui như vậy? Họ Đào không phải là không tự tin, nhưng cái thế mà ông gặp phải không được thuận lợi, cho nên cái tâm của ông mờ tối, nên khi phát ra lời, thì đâu phải hết thẩy đều “Phẳng lặng” (Hòa bình)? Phương chi không có trái tim và hành tích của họ Đào, nhưng họ chỉ biết cái chỗ có thể giống nhau. Thơ thì như loại “Hái cú dưới dậu đông, xa xa thấy non nam”. Văn thì như loại “Tính ưa nhàn tĩnh, đọc sách tới chỗ tâm đắc thì hớn hở quên ăn. Mỗi khi chim mùa đổi giọng thì hớn hở vui mừng” mà thôi! Còn các loại khác như “Được trở lại tự nhiên”, “Ta sinh ra trong khoảng đời mộng ảo”, cũng như “Không cầu vinh lợi, giầu sang đâu là điều mong muốn của ta. Là dân Vô Hoài chăng? Là dân của họ Cát Thiên chăng? Thì cũng đâu phải là điều ta ưa thích”. Nói chung người thời xưa vui thì làm, lo thì thôi. “Thôi” và “Làm” tuy khác nhau, nhưng trong đó còn nhiều phận sự, ngoài điều đó ra, mặc người là được. Chứ đâu rảnh thì giờ “Gióng trống khua chiêng” để tự thể hiện lấy mình mà còn có điều chưa “Phẳng lặng”? Song cái mà họ Đào “Gióng trống khua chiêng” lại không chuyên ở điều đó.
Lúc thiếu thời, tôi học chú tôi, thấy tiền bối đôi khi qua lại, ý khí tưng bừng, nói năng hòa nhã. Tôi tuy tuổi nhỏ, chưa thấu suốt văn chương, nhưng cũng thấy cái tài của tiền bối, thì ắt đỗ cao, đó là một việc không cần bàn cãi. Nhưng tiền bối lại dứt khoát thề rằng: “Cái học khoa cử là con đường đi theo của nghĩa lợi, ta coi thường mà chẳng thèm ngó tới”. Phải chăng tiền bối có chí ở cái học thánh hiền? Sự lập chí như vậy, e rằng thời nay khó ai có thể làm thầy được tiền bối. Lâu ngày không gặp, nên vẫn đinh ninh rằng: tiền bối một ngày kia ắt phiêu nhiên tự tại. Nay vừa gặp, lại thấy hình hài như cây khô, nói năng phần nhiều chẳng hợp lòng người, nên tôi rất lấy làm ngờ cái chuyện “Xa đời tuyệt chúng, đứng ở một mình”. Nhưng khi xem tới thơ văn cũng giống như cách sống như ngày nay của tiền bối, nếu có điều đáng coi trọng là do cái cớ của tiền bối, nếu có điều không đáng coi trọng thì không phải cái cớ của tiền bối vậy.
Xưa Tô Tử Chiêm cũng cậy có tài khí, khoảng nửa chừng gặp nhiều điều không được như ý, cho nên văn chương của ông phần nhiều ưa thích họ Đào và cuối cùng quay về với ý của Trang Sinh(3). Tô Tử Chiêm há không thể “Một lần thay đổi mà trở về với đạo”, để đến nỗi không rơi vào Tôn, Ngô(4), cũng rơi vào Trang, Lão(5). Bởi vì ông quá khuôn mình để cùng được như người mà không tự tin sâu sắc vào “Cái vốn có” của bản thân mình. Tiếc cho Tử Chiêm! Lại cũng tiếc cho tiền bối!
Có lẽ cái “Khí” của con người không thể khiến nó quá căng, cũng như không thể khiến nó quá lướt. Chỉ nên khéo nuôi dưỡng nó khi mình còn đương cường tráng, khiến nó không mất “Sự chính trung”, lâu ngày sẽ dần dà biến đổi, nên khi phát ra lời thì phẳng lặng, chân thực mà có sắc thái huy hoàng, vì cũng chỉ tìm nó ở nơi mình mà thôi. Tôi đương muốn nuôi dưỡng nó mà còn chưa làm được, cho nên không phải là “Thực biết”. Song trong cuộc đời làm văn, e rằng tôi vẫn dùng thuật ấy. Đó là cái điều tôi có thể mách với tiền bối. Còn như việc sử dụng hình thức bề ngoài thì tiền bối đã là bậc già dặn trong làng bút mực, tôi đâu dám xen lời.(6)  
 
 
 
HÀNH TRẠNG(7) TIÊN SINH BÙI TỒN AM TƯỚNG CÔNG(8)
 
Đặc tiến kim tử Vinh Lộc đại phu Nhập thị kinh diện Nhập thị tham tụng Binh bộ tả thị lang Thự Lại bộ tả thị lang kiêm Tri đông các kiêm Tri Quốc Tử giám Tế tửu đời Lê xưa là Kế liệt hầu quý Huy Bích, tự Hy Chương, hiệu Tồn Am Cư sĩ; người trấn Sơn Nam, nay là Hà Nội, phủ Thường Tín, huyện Thanh Trì, xã Thịnh Liệt, thôn Bùi Động.
Tổ chín đời là Chí Đức công, người thôn Hạ, xã Quảng Công, sau đổi là Định Công, bản huyện. Đó là vị Tổ đầu.
Tổ tám đời được tặng Tả dụ đức Diễn Phúc bá, gia phong Quận công, dời đến Tịnh Liệt, sau đổi là Thịnh Liệt; đây là cụ Thủy Tổ nơi dời đến.
Tổ bảy đời làm quan đời Lê Hồng Đức (1470 - 1497). Cụ đỗ Tiến sĩ, làm Thượng thư, nắm Lục bộ tước Quảng Văn hầu; phong tặng Thái phó Quảng Quận công. Đây là Thủy tổ của một thế gia công tộc.
Tổ thứ sáu Bá Thị, làm Thượng thư bộ Hộ, tặng Kinh Quốc công; Thúc thị đỗ Bảng nhãn, làm quan Hộ bộ Tả thị lang, tước Mai Lĩnh hầu, gia phong Mai Quận công.
Tổ thứ năm là quan Thượng thư, tước Tiên Quận công.
Con đích của Mai Quận công giúp nhà Lê trung hưng, cùng với bác là Kinh Quận công và toàn họ giúp nước, sự nghiệp hiển hách. Cha con ông bác đều được phong tước công; con cháu được phong tước hầu có hơn mười người. Đây là một thế tộc công thần.
Cao tổ khảo làm quan Đô chỉ huy đồng trí, tước Trà Lĩnh bá; phong tặng Chưởng vệ sự Trà Lĩnh hầu, gia phong Phụ quốc thượng tướng quân Thiếu bảo Diên Quận công; húy Công Cẩn, hiệu Nam nhạc phủ quân.
Bà Cao tổ họ Nguyễn, được phong Quận phu nhân.
Tằng tổ làm Quan Vệ úy kiêm Lương tử, được phong tặng Anh liệt tướng quân Đô tổng binh sứ tước Vĩnh Tích hầu; húy Công Liêm, hiệu Sùng Hưng phủ quân.
Bà Tằng tổ họ Ngô, được phong tặng Tự phu nhân.
Hiển bá khoản làm quan Thị nội văn, chức Hiển cung đại phu, Thái Nguyên đẳng xứ tư trị Thừa chính sứ ty tham nghị; được phong tặng Hoằng Tín đại phu Hàn lâm viện thị độc; gia phong Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Phong Khánh bá; húy Xương Tự, tự Gia Lạc, hiệu Phủ Trai Tiên sinh.
Bà Hiền tổ được phong tặng Liệt phu nhân. Bà thứ họ Trần.
Hiển khảo cố gắng học, nhờ chức quan của phụ thân được ấm phong Thí tướng sĩ lang giảng dụ, được phong tặng Triều liệt đại phu Đông các đại học sĩ; gia phong Trung trinh đại phu Hàn lâm viện thừa chỉ Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu; gia phong Dục Xương bá; húy Dung Thực, tự Tĩnh Phủ, hiệu Trúc Viên Cư Sĩ.
Bà Hiển khảo họ Bùi, được phong tặng Liệt phu nhân; gia phong Tự phu nhân. Bà sinh hai con, ông là anh vậy.
Ông sinh vào giờ Canh Tý, ngày hai mươi tám, tháng tám, năm Giáp Tý (1744), đời Cảnh Hưng năm thứ năm.
Lúc nhỏ ông lắm bệnh, ốm yếu xanh gầy, nói lắp tiếng khó nghe, hai bên đương môn không đều, một bên lộ xuống. Cụ Trúc Viên nghĩ là ông sẽ khó nuôi, lấy làm lo lắng. Một hôm ông theo Cụ qua xã Hoàng Thứ, gặp mưa; cơm xong qua Bình Lục, có thầy tướng. Cụ bảo xem. Thầy tướng nói: Cậu này mắt đẹp mà dài, mày cong như trăng mới, đương cao trán dầy, ấn đường rộng, tai thùy châu, ngoài hai mươi tuổi sẽ quý hiển, tuy lắm bệnh nhưng không ngại.
Rồi qua năm tráng kiện lên, mọc râu, mặt đẹp như cô đào hát; tiếng nói vang rền. Cụ Trương Đình Tuyên ở bộ Công vừa thấy đã phải khen rằng: Ở nước ta, tôi chưa thấy ai khôi ngô được như cậu này, sao có người đẹp đến thế!
Duy ông vốn tính thực thà, có khi suốt ngày không nói một câu, lại không thích đi chơi. Lúc chín tuổi theo cụ Phong đến nhà học An Lũ ở Thanh Miện, gặp lúc Hoàng Giáp Trần Văn Chước làm ma cho phu nhân, học trò kéo đi. Ông thấy đây là việc hành lễ ở nhà một triều sĩ, bèn đi xem, xem về nói với cụ Phong rằng: Cụ Trần làm đám tang cho vợ, người thân có thắp hương rót rượu được không? Cụ Phong bảo: chồng làm chủ đám tang vợ, con cái phải thờ điện; có lẽ tại con trai ông ấy còn bé quá hoặc bên ngoại pháp độn mà bên nội thông tuệ vậy.
Đến như việc đọc sách tìm ý lớn, mỗi lần ông hỏi, phần nhiều cũng đại loại hỏi sâu như thế.
Cụ Phong trong lòng rất mừng. Đến năm ông mười bảy tuổi, xin vào học thầy Nguyễn Bá Ninh, hiệu Thân Trai ở Linh Đường. Mới hơn một tháng, thầy hỏi rằng: Thày học trước đây của anh là ai? Ông đáp là chỉ học với cha. Cụ Thân Trai khen: sao lại có người nhỏ tuổi mà thông minh đến như vậy, hầu như sách nào cũng được dạy rồi.
Năm mười chín tuổi, ông thi Hương, đỗ cùng Hy Thạc Bùi Quân Trụ, con tộc trưởng. Năm Quý Mùi (1763) thi Hội, không đỗ. Ông theo học thầy Quế Đường Lê Quý Đôn ở Diên Hà (Thái Bình), được giúp đỡ rất nhiều. Thầy thương ông nghèo, cho ở đến lúc học xong.
Năm Mậu Tý (1768), dấy lên vụ án Hoàng Thái tử Duy Vĩ, Trịnh Soái phủ Tĩnh vương Sâm trong lòng vẫn đố kỵ, bức xin chiếu chỉ bỏ ngục. Xưa, khi ông thi Hội năm Quý Mùi, nằm mộng thấy phía tả quan thí viện, bên cạnh đường có một cụ già y mạo kỳ vĩ, có hơn mười người theo hầu. Cụ ngoảnh nhìn ông, cao giọng ngâm: “Tam cương cửu trù tuyệt, quốc hựu hà năng tồn” (Tam cương cửu trù mất, nước lại còn hay chăng); cứ ngâm nga như vậy đến mấy lần. Khi tỉnh dậy, ông không hiểu là điềm gì. Đến nay chợt hiểu, than rằng: Chẳng nhẽ là chỉ việc này ư? Trong lòng buồn chán.
Tháng hai năm Ất Sửu, bộ Lễ yết bảng thi Hội, ông mặc nhiên không báo quyển. Cụ Phong từ Giáo quân về, biết ông không có ý đi thi. Cụ nói: Cha già rồi, mệt mỏi về việc chạy đi chạy lại, chỉ mong có một con thi đỗ, cha sẽ về quê, có ngày được vui với người thân. Nếu đúng như thần báo mộng, việc ứng xử phải đúng đạo. Ông nghe thế mới nộp quyển. Thi Hội đỗ. Tháng bảy thi Đình, ban Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Đình Nguyên.
Năm đó, ông hai mươi sáu tuổi.
Lúc đầu, ông nhận chức Hiệu lý ở Hàn lâm viện, lấy chức nhàn làm quan. Ông có khi ở nhà đọc sách, có khi về tỉnh làm thuốc. Cụ Phong thường than thở rằng, nay người ta đều thông đạt, chỉ có con mình là khờ khạo, sau này nhờ ơn mà được có chức vụ, e rằng không biết ứng xử theo thời thế!
Bạn đồng niên là Lạp Sơn Nguyễn Trọng Dương cũng nói với ông rằng: Anh đúng là người tốt, nhưng muốn tiến thủ, trước hết phải làm quen với các quan to, họ bày vẽ cho mới được.
Ông Lạp Sơn nhắc nhở nhiều lần như vậy. Ông từ tạ và nói rằng, ai có thể dìu dắt được, tôi chỉ đành an phận.
Ông Lạp Sơn ngạc nhiên, nói: Nay tôi mới biết tâm sự của anh. Vậy thì rất đáng mừng.
Năm Canh Dần (1777), ông vào làm Đốc đồng ở trấn Nghệ An, phụng sai đi khuyến dụ Thuận Hóa, điều trần công tội các tướng tá và việc dân tình quá khổ cực. Tiếp đến ở Trấn Ninh có biến, có lệnh cho Tương Đông hầu Nguyễn Xuân Phủ đem quân đi phòng bị, ông được lấy làm Tham biện việc quân. Giặc Liêm Trì Thai đã lui, Mang Long chạy dài nhưng thổ binh lưu lại ở Trần Ninh đã quá ba tháng, xa xôi khó nhọc, xin được về cùng lính trước để cuộc sống được yên. Ít lâu sau sai hiệp trấn thủ kiêm Thự tham chính cùng Trấn thủ Côn Lĩnh hầu Vũ Tá Côn mật tìm một số dân đinh ẩn lậu cùng việc đặt thuế muối. Các việc đều giải quyết khoan hồng, mọi người khen là thuận tiện.
Năm Tân Sửu (1781) được ban chức Nhập thị bồi tụng, sau đó vào kinh làm tờ Khải xin từ không nhận, triều đình không cho. Một lần Soải phủ Tĩnh Vương ốm. Đặng Thị ngầm có ý đổi con đích, muốn họp để dò ý mọi người. Bản điều trần đầu tiên của ông viết đại thể rằng: nay phụng ý đức ngày càng thịnh, cho cầu lời dạy xưa, tất là để trừng tâm tỉnh ngộ, như điều sách Mạnh Tử gọi là tu thân bớt dục vọng: như điều Kinh Dịch gọi là theo thiện sửa sai; như điều Luận ngữ gọi là vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, theo cái trung của việc nuôi dưỡng, lấy đạo để đón cái khí trung hòa của trời đất.
Soái phủ đọc đến chỗ đó, mỉm cười, nói: Ông họ Bùi này lại muốn cảnh tỉnh ta chăng!
Bản điều trần thứ hai của ông lại viết: Giữa cha và con có quan hệ rất khó nói liều, cúi mong tìm hiểu ở nghĩa cổ, lấy đó làm cái kế phát triển gốc cành cho muôn đời.
Soái phủ đọc đến đó cứ gật đầu mãi. Ra lệnh giao Khải cho Quyền phủ Quận Huy bàn bạc thi hành. Sau Khải chạy. Lại truyền cho ông Bùi, sau dăm ba ngày, phải vào tẩm cung chờ hỏi; nhưng rồi Chúa bị bệnh sợ gió, cuối cùng ông không vào. Năm bốn mươi ba tuổi, năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Soái phủ Tĩnh Vương mất, con là Cán kế vị; mới hơn một tháng, lính hai xứ tụ tập rất đông ở cửa phủ, bất Quận Huy ra giết ở chỗ đám đông. Lính tranh nhau vào nhà giam Trịnh Tông, hộ vệ ra phủ đường, sai người viết tấu xin vua Lê Cảnh Hưng cho lập Tông là Đoan Nam Vương. Tháng mười hai năm ấy, triều đình ban cho ông chức Nhập thị Hành tham tụng kiêm Trí kinh diên. Phạm Lập Trai được thăng Hiệu lý Tri công phiên.
Lính hai xứ Thanh - Nghệ cho rằng họ có nhiều công phò tá nên rất kiêu ngạo hung hăng, các quan không sao chế ngự được. Ông nhiều lần úy du, phân tích nghĩa lý; tuy có hơi đỡ, nhưng thế không át nổi.
Có tên thuộc viên là Ngân Vũ, hẹn với một người có mưu mẹo trong quân là Khắc Gia, bảo anh ta họp nhóm ở nội điện, đón con của cố Thái tử về làm cháu kế vị vua; bắt Ngân Vũ vào phủ tố cáo bảy người mưu sự với nội điện. Đoan Nam ra lệnh cho Chiêm Vũ bắt hết, muốn xử nặng để át cái kiêu ngạo của chúng.
Lúc bấy giờ, ông được làm việc ở Kinh diên, có viên đại thần muốn khuynh loát; giao cho ông đến điểm hội luận. Công phiên khởi thảo, định chỉ xử quyết một Khắc Gia, ngoài ra chỉ tùy tội mà đánh đòn. Các Phiên cho là không được, muốn thưởng cho Chiêm Vũ mà cách chức của ông. Quan đại thần chính phủ là Tán quận Nguyễn Khẩn với Thích cửu Dương Khuông Trung bàn luận phân vân, cuối cùng đổi là cả bảy người đều xử quyết.
Sau mấy ngày của việc bàn bạc trên, lính hai xứ tuốt kiếm bức phủ đình, trói Chiêm Vũ, Khuông Trung, chia nhau đuổi Tán Quận; tức tốc chém Chiêm Vũ, Thích cửu Khuông Trung nhờ lấy tiền bạc chuộc mà được tha. Việc đó xảy ra vào tháng Giêng nhuận, năm Cảnh Hưng thứ bốn mươi lăm (1784).
Quân lính canh gác chặt Soái phủ, đòi làm rõ án trước, bãi chức Tham tụng Nguyễn Khẩn và Quyền phủ Dương Khuông Trung. Do vậy, có chiếu chỉ mật cho Nguyễn Khẩn ở ngoài hẹn với các trấn nhất tề dấy binh; lại sắc cho Trấn thủ Sơn Tây là Quận Thạc, Hoàng Phùng Cơ lấy quân thủy chờ đón Soái phủ ra. Hội đủ các đạo, giết hết kiêu binh.
Việc bị tiết lộ, nhưng quân ở trần đã tiến đến đầu đất Cổ Điển Thanh Trì. Trong kinh náo động. Quân hai xứ vây chặt Vương phủ, Đoan Nam thấy việc bức bách tuyên triệu ông vào hỏi. Ông nói: Đám đông nổi giận, rất khó dẹp; cần phải bình tĩnh để xử trí. Nếu triều chính không trong sáng, kỷ cương không lập được, lấy quân bên ngoài về diệt trừ quân bên trong đó là việc đẩy nhanh sự biến loạn vậy.
Vì vậy có lệnh truyền dừng lại, tình thế mới tạm ổn.
Trí công Phan Lập Trai khen rằng: Ai bảo là ông ấy không biết ứng biến! Nếu không có một lời của ông, trong Kinh sẽ thành mắm.
Tháng bảy năm Kỷ Tỵ làm lễ mừng thọ vua Cảnh Hưng bảy mươi tuổi, viết khải cáo Soái phủ xin làm lễ lớn. Từ xa điều về làm văn tổ chức ở miếu Hoàng gia. Ông thường hộ giá (hầu vua) đi lễ ngày đản tiết Thánh tôn Sùng thiên, nhã nhạc hai Thự không thành âm điệu, văn vũ trăm quan cũng đều lộn xộn. Có thơ rằng:
Nhị tam chức tán bồi thanh miếu
Độc tự xu thương bái xích tri
Nghĩa là:
Vài ba bài tán hầu thanh miếu
Chỉ một mình đi lạy bậc son.
Thơ có ý thật sâu sắc vậy.
Nay gặp khi làm lễ lớn, ông chỉnh đốn lỗ bạ (danh mục), thao diễn âm nhạc, trần thiết từ điện Vạn Thọ đến cửa Đại Hưng, võ công uy nghi. Đến ngày đọc danh sách bảng biểu, nghìn quan bái lạy, múa hát; nhã nhạc phối theo. Người xem đều nói: Từ năm Chính Hòa đến nay đã hơn năm mươi năm, mới lại thấy được nghi vệ Thiên tử.
Thế rồi có Nội giám là Quận Mãn, Trấn thủ Thanh Hóa, do lính tố cáo mà bị cách chức về. Y bàn với ông các mưu mẹo, ông sợ, kiên quyết từ chối việc phục chức cho y. Triều đình bèn có lệnh cho Trần Công Thước thay ông làm Tham tụng. Ông vào triều chào để về. Soái phủ cứ không muốn để ông đi, chuẩn y giữ ông lại Kinh đô dưỡng bệnh.
Ngày mồng một tháng sáu năm Bính Ngọ (1786), Cảnh Hưng năm bốn bảy; thành Thuận Hóa bị Tây Sơn Nguyễn Huệ hãm, tin báo đến, toàn Kinh sư hốt hoảng. Hôm ây, triều đình phê cho Quận Mãn làm thống lĩnh đi vào Thuận Hóa, các phiên đều cho là không được, báo cáo với Tri binh Nguyễn Quang Châu rằng: “Quận Mãn trước đi dẹp cướp biển còn bị thua, huống nay lại đi đánh kình địch được sao? Châu nói với Soái phủ: Soái phủ triệu các phiên vào nói: Các khanh chỉ sợ ông Bùi, không nể ta. Trí công phiên Phạm Công đáp: Ông Bùi đã bị khiển trách, chúng thần đâu sợ bè đảng của ông ta, nhưng việc nước là việc trọng đại.
Tiếp đến trấn Sơn Nam bị hãm, triều đình triệu Quận Thạc từ Sơn Tây về, sai đi cự địch; lại sai ông đi thị sát. Đi chưa đến Thúy Ái, đã được tin quân Quận Thạc thua, vội chạy vào dân trốn.
Nguyễn Huệ tiến đến Vương phủ, Đoan Nam chạy về phía Tây bị hại. Tháng bảy, vua Cảnh Hưng mất.
Hoàng tự tôn kế vị, lấy năm sau là năm Đinh Mùi (1787), đặt niên hiệu Chiêu Thống.
Có chỉ tuyên triệu đến trú sở, lúc bấy giờ ông vừa bị bệnh không đi được.
Tháng tám, Tây Sơn về Nam.
Trịnh Bồng từ ngoài vào, có Hàm Giang Đinh Tích Nhưỡng kéo quân theo, xin phong Vương vị như cũ, đó là Yến Đô vương.
Tháng chín, bệnh ông hơi đỡ; ông vào tế cung khúc vua, đi viếng mộ Phương Liệt Đoan Nam.
Ông được ban chức Bình Chương sự, kiêm Nhập thị kinh diên Nhập thị tam tụng. Ông vội vàng viết hai bản tấu, khải ra sức xin không làm, trong đó có đoạn viết: Sau vụ Nhâm Dần vừa qua, thấy uổng cho việc tham gia chính sự lớn. Trong bốn năm năm, không có sách lược để cứu vãn, lại không thể tiến cử người hiền thay thế, vụng về luống cuống đến mức thất bại, không còn mặt mũi nào để nhìn sĩ phu trong thiên hạ nữa; đội ơn trên mà chẳng có chút công lao nào. Nay việc chính sự mới bắt đầu, sao lại dám ra giữ chức, cúi xin cho về quê quán chữa bệnh; khi nào bệnh đỡ, lại xin về hầu.
Bản tấu được chuẩn y, nhưng đặc ban cho chức Chính nghị đại phu.
Bản khải cũng được phê chuẩn.
(Câu: “Đời người được mấy, nên làm việc nước chăng”, chắc chắn không phải là lời của ông. Xem bài tấu này thì là lời trong Nhất thống chí của họ Ngô. Ông tự nói rằng, tướng không tốt, tiền sự đã thấy được).
Từ đó, ông ốm bệnh ở nhà. Đến khi Tây Sơn trở lại, lưu Ngô Văn Sở giữ Thăng Long, vua Lê Chiêu Thống chạy náu ở Kinh Bắc. Hoàng Thái hậu chạy lên Cao Bằng, cầu viện nhà Thanh. Tháng 12 năm Mậu Thân (1788), Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị kéo quân đến Nhị Hà. Tướng Ngô Văn Sở bỏ thành trốn chạy, vua Lê lấy lại được nước, tuyên triệu bầy tôi cũ, như Phạm Đình Dữ, Phạm Lập Trai, ngày đêm túc trực trong triều bàn việc cơ mật, lại muốn giao việc chính sự cho ông. Biết Phạm Lập Trai vốn có quan hệ thân thiện với ông, bèn phái đi cố lôi kéo. Ông ra sức từ chối, nhưng lại nói: “Việc ngày nay đã đến mức rất đáng lo, nên nói với chúa thượng, tìm rộng lời nói thẳng, lo ngay việc binh, việc chính sự, không phải ông thì không ai làm được”.
Tháng ấy, Tây Sơn Nguyễn Huệ được tin kéo ra, tiếm xưng Hoàng đế, kỷ nguyên Quang Trung.
Tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), binh Tây Sơn đến Thượng Phúc Thanh Trì, Đề đốc và Tiên phong của đại binh Tôn Sĩ Nghị đều chiến tử bèn thoái quân. Vua Chiêu Thống cũng qua cầu phao chạy theo về Bắc.
Nguyễn Huệ đã có Thăng Long, bèn bàn gửi biểu sang nhà Thanh xin chịu tội, lại xin phong là Quốc vương; kèm theo chữ ký của các quan cũ nhà Lê vào tờ biểu, ủy thác Hy Doãn Ngô Thì Nhậm, người Tả Thanh oai đi sứ. Ông cũng có tên trong số đại thần cũ, buộc phải ký tên, mưu mẹo thật độc; đã đến lúc bức bách, ngày đêm rên rỉ, xem xét thời thế, biết sẽ được vào chỗ gian nguy. Quang Trung hỏi về tờ biểu lý liên danh, có người nói: Chỉ còn một Hành họ Bùi, ông ấy ốm quá nên chưa ký được. Quang Trung nói: Sao lại để còn một người này vậy? Ông Hy Doãn theo hầu bên cạnh, nói: Thôi để người khác ký thay cũng được. Ông Hy Doãn bèn làm vậy, ông chạy trốn; có khi ở Yên Lũ, Hải Dương;có khi ở Dịch Tâm, Sơn Tây rồi qua sống ẩn trong dân không để lộ dấu vết, rất ít người biết chỗ ông ở.
Đã mười ba năm, ông năm mươi chín tuổi, Thánh triều Gia Long, tháng sáu, năm Nhâm Tuất (1802) phụng mệnh Thế Tổ Cao Hoàng đế đánh dẹp Tây Sơn, xa giá đến Thăng Long, kinh đô xưa; tuyên triệu các quan thời Lê giữ được trung tiết, ban cho quần áo, tiền bạc. Lại chiếu theo phẩm trật cũ mà phong cho làm quan. Ông lấy cớ đau mắt, không vào yết kiến. Nhà vua hỏi sao không thấy Bùi Hành tham? Học sĩ Nguyễn Công Duyên hết sức khuyên ông, ông mới đi yết kiến, vua rất vui, cho miễn không lạy. Ông cố bước lên, tâu rằng: Nay nhờ uy trời trừ được quốc thù, thần xin bái tạ. Rồi làm lễ năm lạy. Vua cho ngồi, hỏi han cởi mở, một lúc ông về.
Sau đấy có biểu khuyên các bề tôi cũ của nhà Lê, thảo xong, đưa hỏi ông, ông nói: Đây là việc trước của Tây Sơn, không nên nhắc lại. Nay Thánh chúa trung hưng nhất thống, được thiên hạ theo, nhân tình ai không ủng hộ, sao còn phải viết bài văn này làm gì! Phạm Lập Trai nói lại lời đó với Tiền quân Nguyễn Văn Thành, việc ấy bèn thôi.
Mấy năm sau khi ông yết kiến đức vua, ông được Tiền quân Tham quan cung cấp tiền gạo, rồi ông về quê. Vua lại ban cho ông ba trăm thùng thóc, hai trăm quan tiền, lại giúp ông dựng nhà, tốn kém khoảng trăm thùng thóc, trăm quan tiền. Ông không nhận, nói sẽ vào yết kiến vua để trình bày. Sáng hôm sau, ông vào hầu vua và xin không nhận thóc tiền giúp làm nhà. Ông được gọi vào, lại cho miễn lạy. Ông tâu rằng: nay thời cuộc vừa yên, trăm quan sáu quận chưa được hưởng, thân là lão già nhà quê, được đội ơn nhiều, rất lấy làm xấu hổ.
Nhà vua nói: Ta nghe nói ông nghèo, riêng cho ông, ông đừng từ chối. Vua lại nói: Nếu sai không cho, đã có Tiền quân Nguyễn Văn Thành ở đây.
Khi xa giá trở về, ông đến tạ ân.
Ông nói là mình ốm yếu, sẽ xin với kỳ lão trong làng cho đến cuối năm. Nhà vua mỉm cười, nói: Việc ấy tùy ông.
Tiền quân Nguyễn Văn Thành ở lại làm Tổng trấn Hà Nội, nghĩ cách thu phục nhân tâm. Tổng trấn rất quý trọng ông: có khi mời duyệt thơ, có khi hỏi về công việc, đến nhà ông nhiều lần, ông đều miễn cưỡng tiếp đón cho qua. Sau đó lại giao cho Tham quân Chấn mời ông. Ông biết không nói cho dứt khoát không xong, hơn nữa lại là ông già ở quê, làm sao có thể làm người ta khó xử.
Lần trước yết vua, ông đội khăn màu đỏ, áo tay rộng vạt chéo. Lần này ông đội khăn màu lá sen, mặc áo vải; ăn mặc kiểu ông già nhà quê, theo Tham quân vào công sở yết kiến quan Tổng trấn. Vào đến thềm Trung đường, thấy có giải chiếu, ý bắt lạy.
Ông đã vào nhà, đi thẳng sang phía Tây, ngồi xuống giường. Tham quân đứng một bên, run sợ mồ hôi toát ra như tắm. Quan Tổng trấn dáng không vui, ngồi ở giữa hỏi về chế độ lễ tiết.
Ông nói: Lễ, một ngày không thể thiếu, chỉ cần mời được người hiền đức và uyên bác để thực hiện, nếu nhà nước xây dựng điển Vương, đó không phải là việc kẻ bầy tôi mất nước được dự biết.
Quan Tổng trấn cao giọng nói: Đó chẳng qua là việc thường, ta bình sinh chỉ cần người lạy thôi?
Cái ý bắt ông phải lạy đã lộ ra.
Ông nói: Nếu có ai đó không làm được như thế, vậy còn nói làm gì? Còn nếu làm được, không cần lạy, tự nhiên sẽ không thiếu người lạy!
Ông nói xong, phất tay áo đứng dậy. Quan Tổng trấn biết là nói lỡ lời, cũng đi vào.
Tham quân Chấn đi theo vào để chờ thông báo, ông không nhìn, đi về luôn.
Sau đó, nghe nói có Thánh chỉ hỏi về tình hình Bùi Tham tụng, quan Học sĩ Nguyễn Duyên báo là quan Tổng trấn thường mời đến; truyền đạt ý chỉ rằng, sao lại làm thế; làm thế hóa ra ta hiếp đáp ư!
Ông với cương vị là đại thần nhà Lê cũ, được Thánh triều kính nể, cho về quê cũ, giống như Tướng quốc ở đời.
Người xưa nay nhờ ông, qua mỗi bài thơ văn, luận thuyết đều thấy rõ.
Giáp Tý năm thứ ba (1804), vua Lê Chiêu Thống mất ở Yên Kinh, ông đến nhà Diên Tự khóc than. Hôm ấy trời mưa. Thơ viếng của ông viết rằng:
Tặc thù kim dĩ tận
Lôi vũ thượng dư phẫn.
Thiên địa tường tập binh
Nhật Nam thử quy nhân.
Nghĩa là:
Giặc thù nay đã sạch
Mưa gió vẫn căm trách
Trời đất rõ tập binh
Nhật Nam táng quan quách.
Bà Quý tần Lương Tài họ Nguyễn từ Lạng Sơn về theo quan tài, không chịu ăn uống, mở áo quan thấy ngọc cốt, liền mất. Ông cũng có bài viếng rằng:
Vị vong đãi phu chủ
Hửu tử quyết kim triêu.
Thần quỷ ưng kinh động
Sơn hà bất tịch liêu.
Nghĩa là:
Chẳng quên Chúa chồng cũ
Có chết phải hôm nay.
Thần quỷ đều kinh động
Sơn hà lẫm liệt thay!
Hai bài này chỉ có bốn năm câu tuyệt cú mà tình cảm bi tráng, ý nghĩa sâu xa lắm!
Khi về già, ông sai các con tập hợp thơ văn của ông. Thơ chia làm hai tập Bích câu, hai tập Nghệ An thượng hạ, ba tập Thoái hiên, gồm sáu trăm tám mươi mốt thiên. Văn chia Tấu thái công văn làm một loại, Tản văn làm một loại, Lữ trung tạp thuyết chia làm Thượng, Hạ hai tấc; Lịch đại thi sao, một bản. Thơ và thuyết, các loại đều có bài Chí, bài dẫn.
Các học trò của ông, khi nghỉ ngơi ngoài việc học, ông sai ngâm vịnh để tỏ ý chí; số tác phẩm đó cũng được giữ lại làm gia huấn và còn truyền đến nay, nhiều người còn chép được từ bản gốc.
Vào cuối đời Lê, nhiều tệ trường ốc, kinh nghĩa bị vứt bỏ, không còn cái học minh kinh. Sách vấn và thi Đình, Hữu ty mò mẫm, trích những chỗ khó khăn tỉ mỉ, người thi không đáp được. Ông vốn có ý sửa đổi, đến khi giữ việc triều chính, các quan trong triều muốn mời ông sửa đổi việc thi cử; ông nói rằng, đã như vậy, nay việc đã đáng lo lắm rồi, mọi người cùng đồng tâm điều chỉnh, may ra có thể vãn hồi được muôn một; nếu không, lại chẳng khác gì việc Lưu Biểu làm lễ nhạc; huống hồ văn chương vốn có gốc của quan hệ với triều đình, đâu chỉ trách cứ đám sĩ tử được chăng! Các quan ở Lục phiên lúc bấy giờ như Phạm công Thạch Động, húy Nguyễn Du; Chu công Hy Thạch, húy Doãn Lệ; Phạm công Lập Trai Tiên sinh, đều lấy điều lý của thơ văn làm chuẩn, họp suốt một ngày, có Thánh chỉ truyền ra mấy mươi đạo, ông giao chia viết, viết đến đêm khuya mới xong; trong khi vui vẻ ăn uống mỗi người làm được mười bài ngũ ngôn, kèm luôn để dâng, giao cho Đường lại. Ông liền điểm duyệt, mọi người đến chỗ ông, gặp nhau rất vui; lại nói: Đọc thơ các ông, đúng là hiếm thấy. Lại như Hồ công Dao Đình, húy Sĩ Đồng, Nguyễn công Phúc Am, húy Đình Tổ, đều nói về chính nghĩa tương ái, thấy rõ hình tích. Ông Phúc Am nói với ông rằng: Ở đời nay mà không tham phủ danh, điều đó là nguy.
Nhưng ông bản tính liêm khiết, không thả mình theo thói tục được. Sau cuộc biến loạn, yên ổn, ông thường có quan hệ với Phạm công Lập Trai, tình cảm sâu sắc. Ông ăn uống đạm bạc. Có ai đến nhà chẳng ai không qua phong độ mà không hành lễ. Việc giáo dục của ông, ông cho rằng học tập là để tìm nghĩa lý. Cầm bài văn, phải biết nét chữ, phải cẩn thận trong lời nói, việc làm, tiến dừng; chuyện văn chương thi cử chỉ là chuyện thường. Người được nghe ông giảng không quá vài chục người, nhưng ông yếu, vì vậy cũng ít giảng.
Tính ông thích bạn bè. Năm ông mười lăm tuổi, bà họ Trần mất, ông Phong đương dạy học ở Yên Lâu về chịu tang; ông vừa khỏi ốm cũng đi, có người nhà theo. Chiều ngày đưa tang trời muốn mưa. Trong ánh chớp, nhìn cầu Thịnh Liệt khóc, nhìn miếu ở thôn Bùi Đông khóc, vào ngõ thì khóc òa lên và chạy đến chỗ liệm. Tuổi ông lúc ấy tuy còn nhỏ mà sự buồn đau đã tỏ ra ghê gớm, rất hợp với lễ nghi.
Sau khi thi đỗ bốn năm, ông Phong mất, em là Cấn, tự Âu Dịch, Kỳ Trai chưa lập gia thất, lại không ham học, ông Phong vẫn thường lấy làm lo buồn. Ông vỗ về dạy bảo, hết tình, hết ý, lại cưới vợ cho, thi đỗ Hương giải.
Sau cơn loạn lạc, ông ở chung với cả nhà; lại cùng con tộc trưởng là Hy Thạc Chiêm Trai ứng xử đúng bậc trên dưới, lấy thi lễ dạy con cháu. Số thơ văn ngâm vịnh giữ được của ông, mỗi bài đều tha thiết; thấy rõ được phong cách mẫu mực của ông.
Sau năm Nhâm Tuất (1802), ông ở nhà, mỗi kỳ đến ngày sóc (mồng một), ngày vọng (rằm), ông bận áo mũ nhà nho, dẫn toàn con cháu đến yết nhà thờ, biểu thị việc giữ lễ nghi. Cứ như vậy hơn mười năm, tuy ông tuổi già vẫn không bỏ. Khi nhà bà con hoặc bè bạn có việc mừng, việc phúng, ông dù ốm vẫn gắng gượng đến, dù đi đường mất cả buổi, ông vẫn đi.
Tháng Năm năm Canh Dần, Gia Long năm thứ mười bảy (1818), ông nhuốm bệnh, không muốn ăn, khí đoản thanh yếu; ngày mười hai, bệnh nặng, ông còn đọc cả bài thơ tuyệt cú năm chữ, căn dặn các học trò.
Mọi người xin chuẩn bị hậu sự. Ông nói cứ lấy nguyên tên hiệu làm thụy, khi táng nên làm lễ ở nhà thờ trước. Lễ tang chỉ nên làm đơn giản, những thứ người ta bày vẽ, nhất thiết không theo.
Giờ Hợi, ngày hai mươi lăm, ông mất ở phòng phía tây nhà ở quê, thọ bảy mươi lăm tuổi.
Bà Chánh phu nhân, người xã Nỗ Bạn, cùng huyện. Bà là thứ nữ cụ Nguyễn Công Tằng, làm quan Thừa chính sứ ty Tham nghị ở Kinh Bắc.
Xưa, khi ông thi đỗ; Trúc Viên Phong công bàn chuyện cưới vợ cho ông cụ Tham chính có hai cô con gái, cô chị hiền hậu, cô em đẹp người, cho được tùy chọn. Ông Phong xin đón cô chị.
Hai họ Nguyễn vốn xuất thân từ phi tần quý tộc nhà họ Trịnh, sau khi về bà nói với ông, làm trọn đạo làm vợ, gặp việc thì tiết kiệm; gặp năm đói kém, bà bàn với ông, lấy của nhà giúp dân làng, nếu không đủ thì vay bà dì bên bà ngoại là Trịnh Thái phi.
Khi ông làm quan Đốc đồng Nghệ An kiêm Thư Tham chính, lương bổng khá giả, bà vẫn cần kiệm để dành. Sau cơn loạn lạc, cửa nhà và sách vở đều hỏng hết, nghèo đến mức cháo không đủ ăn, nhưng bà thờ ông trước sau không bao giờ không giữ lễ làm vợ.
Giờ Dần ngay hai mươi tám tháng ba năm Quý Tỵ, Minh Mệnh năm thứ hai (1821), bà ốm mất, thọ tám mươi tuổi.
Xưa, táng ở xứ đồng Lai, bản thôn; về sau cải táng cùng ông, phụ bên trái mộ tổ ở Định Công.
Bà có sáu con trai, đó là Hoằng Tín Đại phu, được ấm phong thời Lê cũ; nam là Định Tiền Công, bảy tuổi mất; nam là Dưỡng Hậu Công, mười tuổi mất; nam là Luyện Tồn; nam là Điềm Tiên Công, mười tuổi mất. (hai mươi bảy tuổi mất, vô tự; lấy con chú là Khắc Mẫn làm thừa tự. Vợ ở vậy thủ tiết. Thời Triệu Trị được ban Ngân tệ và biển Trinh tiết khả phong).
Nam là Hạo, dân thường.
Tiên Công mười bảy tuổi mất.
Nam là Mục. Dân thường. Sau ông mất.
Nữ có bảy người, đó là Nhân, gả cho Trưởng nam Hoàng giáp Lê Huy Trân, ở Bối Khê. Nhà gả cho con trai thứ tư của bạn đồng niên là Ngô Trọng Khuê ở La Khê. Nghi, gả cho con trai thứ ba của bạn đồng niên là Nguyễn Đình Tổ ở Bình Dân. Miện, gả cho con trái thứ tư của Tiến sĩ Tả khuê Nguyễn công Nha ở Thanh Oai. Thước, gả cho cháu đích tôn của bạn đồng niên là Dung Trai Nguyễn Huy Trạc ở Đan Nhiễm. Thọ, gả cho cháu thứ của bạn đồng niên là Ngô Trọng Khuê ở La Khê. An, gả chắt đích của Hoàng giáp Trần Trọng Liêu ở Văn Giáp.
Ôi! Ông mất đến nay đã hơn ba mươi năm, việc thị phi đã định. Tuy không còn bậc già cả nữa, nhưng vẫn còn điển tích. Siêu tôi là người cùng huyện, là hàng con cháu hậu sinh; khi ông còn, tôi đã đến tuổi đội mũ, không được đến học. Những trước thuật, sáng tác của ông, tuy tôi thường được đọc ở nhà thầy Lập Trai, thầy bắt buộc phải đọc. Lúc bấy giờ tôi muốn hỏi thầy, lại sợ là láo lếu nên không dám hỏi.
Khi tôi đã làm quan, có phần chơi thân với quan Nội các Tham tri tặng Lại bộ Thượng thư Hà quân; Quyền Yên Hà Tổng đốc tặng Hiệp biện Đại học sĩ Doãn Uẩn quân, nhân có hỏi, hoặc có nghe khác, hai ông chỉ nói là: Việc dạy học của ông rất nghiêm. Ngoài giảng dạy, không ai dám hỏi gì; ông cũng không mấy khi nói chuyện phiếm. Đầu năm Thiệu Trị, tôi nhiều lần đến nói chuyện cùng Công tử thứ tư là chú ở Kim Khê. Chuyện mới về ông nghe được rất nhiều; lại được xem Niêm phả của ông và Gia thế phả. Tôi bèn nói với Từ thúc rằng: Tôi muốn viết Hành trạng của ông, may khi chủ còn, xin hoàn thành cho. Từ thúc lại giao cho tôi, trong đó phần khảo chính soạn thuật, đều do Từ thúc nói vậy.
Ôi! Kẻ sĩ phu ở đời, có người gặp may, có người gặp không may. Họ Trịnh chuyên quyền ở đời Lê, có họ út chuyên quyền ở đời sau, mà quyền lực lại vô cùng lớn. Khoảng hơn một trăm năm, việc làm tất do họ Trịnh, cứ vậy liên tiếp trong đời.
Văn chương tài trí của ông đều có thể giúp ông nổi tiếng một thời, nhưng ranh giới vua tôi thời Lê Trịnh, có quan hệ về danh nghĩa, sau đổi sang đời khác, người cầm bút ai dám thứ lượng, việc mai một, nghĩ là không ít. Há đâu phải sinh ở đời đó, đều là sự bất hạnh của sĩ phu ư? Đến cuối thời, việc hình phạt càng ghê gớm; nếu không vượt lên được thì phải theo đuôi hổ, đó là nỗi thương tâm của sĩ phu vậy!
Nếu tôi là ông, khi mới là Cống sĩ, thần báo cho điềm mộng, có lẽ đã biết việc làm quan, nhưng mệnh cha không dám trái, khi đã làm quan, thế nước nguy khốn, cũng đã nghĩ đến việc bỏ quan, song không nỡ quên ơn chúa mà bỏ đi. Khi biến cố đã rõ, lại thêm việc sàm báng, lúc đó mới thoái. Không những họ Trịnh bại hoại, nhà Lê cũng mất, cái tình rất đáng thương, cái đạo cũng rất đáng buồn. Chỉ nghĩ rằng, lúc bấy giờ tư văn chưa mất, cảm sự nghiệp gia thế truyền lại, suy nghĩ và việc làm của ông đều rất nguy khốn, ông đã hết sức an phận giữ đạo, thủy chung như nhất việc tồn vong được mất, việc đó cũng đã rất khó. Siêu tôi mỗi lần đọc Tế văn của Thầy Phạm tế ông, thấy ý trước sau đã viết hết. Mỗi khi tôi lấy đạo xưa hẹn nhau, nhưng hai bên vẫn không biết nhau; người ta chỉ biết được văn chương của ông hay, nhưng như tôi có khi làm được vài câu thơ, vài câu văn, họ bèn nói là tương đắc trong bài văn; nói vậy là không biết tôi, làm sao lại có thể nói là biết ông được! Do vậy tôi cứ băn khoăn suy nghĩ, càng nghĩ càng thấy không vượt được mình.
Bản thảo bài Hành trạng này đã viết xong, xin tạm phụ mấy lời. Sự nghiệp của cố Tướng công là việc nên viết, còn lấy đó để noi gương.
Tự Đức năm thứ năm (1852); Thự Hà Tĩnh Án sát cứ cải thụ Hưng Yên Án sát. Kim Lũ Nguyễn Văn Siêu Phương Đình thứ tôn nữ tế đốn thủ tái bái trạng.


[1](1). Nguyên đề: Dữ Quảng Đông du tử Liêu Luân Anh thư.
(2). Theo bản dịch Đỗ Văn Hỷ, Từ trong di sản, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981, tr129 - 130
(3). Trang Sinh: Tức Trang Chu.
(4). Tôn, Ngô: Tôn tức Tôn Vũ, Ngô tức Ngô Khởi. Hai người đều giỏi phép dùng  quân.
(5). Lão: Tức Lão Tử.
(6). Theo bản dịch Đỗ Văn Hỷ, Từ trong di sản, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981, tr118 - 123.
(7). Hiện trạng: Một thể loại văn xuôi cổ, viết tiểu sử một người đã mất, chủ yếu để ca ngợi.
(8). Bùi Tồn Am: Tức Bùi Huy Bích (1744 – 1811), hiệu Tồn Am, tự Hy Chương và Am Chương. Ông là một trong những học giả nổi tiếng của nước ta lúc đương thời.
 

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc