Home » Tin tức » QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG

PHAN HUY ÍCH

THUrsday - 07/08/2014 11:15
PHAN HUY ÍCH

PHAN HUY ÍCH

PHAN HUY ÍCH (1751 - 1822) Hiệu Dụ Am, tự Khiêm Thụ Phủ. Sinh ngày 12 tháng 12 năm Canh Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 11 ((1751), quê gốc tại làng Thu Hoạch, tỉnh Hà Tĩnh. Lớn lên, ông theo cha dời đến làng Thụy Khuê, huyện An Sơn, tỉnh Sơn Tây nay là huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Nội. Phan Huy Ích là con Tiến sĩ Phan Huy Cẩn và là học trò của Ngô Thì Sĩ, về sau làm rể Ngô Thì Sĩ, lấy em gái Ngô Thì Nhậm. Thuở nhỏ Phan nổi tiếng thông minh; năm hai mươi hai tuổi đỗ Giải nguyên, hai mươi sáu tuổi đỗ Hội nguyên Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Ất Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 36 (1775). Dưới thời Trịnh Sâm, Phan Huy Ích từng giữ các chức Đốc đồng Thanh Hóa, Thiêm sai tri hình ở phủ Chúa. Năm 1788, Nguyễn Huệ trong lần kéo quân ra Bắc diệt Trịnh, Phan Huy Ích được tiến cử một lượt cùng với Vũ Huy Tấn, Trần Bá Lâm… Quang Trung phong quan tước rồi trao cho ông cùng Ngô Thì Nhậm lo việc giao thiệp với Trung Quốc. Năm 1789, sau đại thắng quân Thanh, Quang Trung cử ông cùng Ngô Văn Sở hộ tống Phạm Công Trị giả làm vua Quang Trung sang Trung Quốc dự lễ mừng thọ vua Thanh. Khi về nước, Phan Huy Ích được thăng Thị trung ngự sử ở tòa Nội các. Năm 1800, dưới thời Cảnh Thịnh, ông được thăng Lễ bộ Thượng thư. Tới năm 1802, khi Nguyễn Ánh lật đổ triều Cảnh Thịnh thì Phan Huy Ích bị bắt giam cùng Ngô Thì Nhậm. Tháng 2 năm sau, ông bị đem ra đánh đòn trước Văn Miếu vì cái tội phục vụ triều Tây Sơn rồi được tha. Từ đó ông về quê dạy học, lúc ở Sài Sơn, lúc vào Thiên Lộc. Đến năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mạng thứ 3 (1822), Phan Huy Ích qua đời, thọ 72 tuổi.
TỰA QUYỂN TRÚC LÂM ĐẠI CHÂN VIÊN GIÁC THANH (1)
 
Thanh âm là để khích động thính giác của quần chúng, làm cho kẻ mê muội được thức tỉnh, người tuệ ngộ được trong sáng, khiến cho “Đạo kia” (2) luôn vang động trong khoảng trời đất. Có lẽ những điều tinh uẩn của nghĩa lý được tỏ rõ ở lời nói, không khác gì những cái bí tàng của tạo hóa phát ra thành sấm gió. Vậy, cái gì và cái tượng của thanh âm lớn lao thay!
Xét ra nguồn gốc đạo phát ra tự trời, lưu hành khắp vũ trụ, phân tán thành vạn vật cái thể thì đồng, nhưng cái dụng thì khác (3), gốc là một mà phân biệt ra muôn vàn, đường đi dường như chia ngả, nhưng thống hội lại đến chỗ cực kỳ tinh vi thiết yếu, thì chẳng có gì vượt ra ngoài cái đạo lý ấy.
Giáo lý của Thích Ca tuy nói là không tịch, hư vô (4), nhưng điều cốt yếu chỉ là trừ bỏ chướng lụy, hiểu thấu chân như (5), sao cho “minh Tâm, kiến tính” (6), những điều đó sao với học thuyết “thành ý, trí tri” (7) của nhà nho ta, không sai trái nhau lắm.
Nhớ rằng Phu Tử ta (8) cũng có nói “Phương Tây có bậc đại thánh nhân”. Thế thì Người vốn chưa hề chê bai đạo Phật là dị đoan.
Học giả ở đời hay câu chấp vào bề ngoài một cách nông cạn, hằng ngày đả kích đạo Phật, làm cho những người nâu sồng đứng thành một môn hộ riêng, tạo ra bên ngoài cái trạng thái chu lưu bàng bạc của đạo ta, lại có đạo Phật đứng riêng, thế là chỉ gò vào những điều ngành ngọn, mà không biết nghiên cứu xem nó sẽ đi tới đâu. Rốt cục kẻ bảo le, người bảo vịt, cãi và nhao nhao, mà không nhận ra chim hồng (9)! Ý kiến đã hẹp hòi, lại tích tụ thành tập quán lâu dài sâu sắc!
Quyến huynh (10) tôi, ông Hy Doãn, quan Thị trung đại học sĩ là người học thức cao rộng, hơn hẳn các bạn khác, ông lịch thiệp sâu sắc, đi đến chỗ tinh túy, tam giáo cửu lưu, bách gia chư tử (11), không điều gì là không nghiền ngẫm đến nơi đến chốn. Cho nên lòng dạ bao la, điều khiển được muôn vật, thấu suốt được tam huyền (12).
Bộ sách “Hai mươi bốn thanh âm” của ông trước tác, thực đã đem hết những chỗ u ẩn của nhà Phật, chia ra ngọn ngành, thu tóm mối manh, mở toang những gì là tinh vi uẩn ảo, rồi đem ban hành trên bản in để truyền bá trong rừng Thiền.
Sau Trúc Lâm tam tổ(13) thì phong khí nhà Thiền vắng lặng. Cái ý chí tuệ giác năm trăm năm về trước nhờ tân thành mới lại phát huy. Vì thế mà môn đồ Trúc Lâm tôn ông làm “Đệ tứ tông” (14), điều đó không có gì là quá đáng.
Thuyết tân thanh của ông, bọn nhà Nho ta nghe thấy, tất có những chuyện bàn tán chung quanh, cho rằng: Đạo lý của Xương Lê(15) cũng từ thuyết nhà Phật mà ra, hay: Tượng Sơn(16) chủ tĩnh tất sẽ đi theo đạo Thiền. Dựa vào những câu sáo ấy không thể nào hiểu ông được. Bộ sách này thấu triệt được tính trời, suy cùng được đạo lý, đưa đạo Thiền nhập vào đạo Nho, khiến cho tám bộ Phạn vương không ra ngoài cung tường Tố vương(17). Thế thì thuyết tân thanh này là ý chí đầu tiên để phù trì cho chính đạo, không giống như những thuyết lờ mờ làm cho người xem không nắm được điều gì. Điều này chỉ có thể nói với những người hiểu đạo thôi. Tôi với ông hợp nhau cả hình lẫn thần và hiểu sâu cái ý làm ra thanh này của ông, nên mới nêu mấy lời lên đầu sách. Xin chờ các bậc quân tử hiểu đạo chỉ bảo thêm cho. Nay làm bài tựa.
 
(Trích Dụ Am văn tập, quyển V. Đỗ Ngọc Toại dịch)
----------------------------------------------------------------------------------------


[1](1). Viên giác là một trong Lục kinh của Phật giáo Đại Thừa. Trúc Lâm đại chân viên giác là quyển sách Ngô Thì Nhậm viết về Phật học, nguyên tên là Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh, không rõ vì sao tác giả bài này lại gọi như trên.
(2). Đạo kia: ý nói đạo vốn là một, Nho hay Phật cũng vẫn là đạo ấy cả.
(3). Nhà Nho thường cho mọi sự vật có hai phần là thể và dụng. Thể là nội dung của sự vật; dụng là công dụng của nó.
(4). Phật giáo quan niệm hết thảy mọi hiện tượng đều là tướng, không có thật.
(5). Chân như: từ nhà Phật, chân là thực có; như là có mãi, không bao giờ mất, không bao giờ thay đổi.
(6). Minh tâm kiến tính: từ nhà Phật, ý nói giữ gìn được tâm tính cho trong sáng.
(7). Thành ý, trí tri: hai trong tám điều nói ở sách Đại học của Nho gia. Thành ý: Giữ ý chí thành thực. Trí tri: hiểu biết cho nhiều, cho sâu sự vật.
(8). Phu Tử ta: chỉ Khổng Tử.
(9). Chuyện xưa chép: một con chim hồng bay trên cao, khi qua nước Sở thì người Sở bảo vịt trời, khi qua nước Việt thì người Việt bảo là le, nhưng thực ra thì đó là chim hồng. Do đó người ta dùng chữ “kẻ nói le, người nói vịt” để chế giễu những người xem xét sự vật không kỹ lưỡng.
(10). Quyến huynh: anh vợ.
(11). Tam giáo là Nho, Phật, Lão. Cửu lưu: sách Hán thư, mục Nghệ văn chí chia các học phái thời Chiến Quốc làm 9 như Nho, Đạo, Âm dương, Pháp, Danh, Mặc…Bách gia chư tử: chỉ chung các học giả kể từ thời Tiên Tần.
(12). Tam huyền: chỉ ba bộ sách: Chu dịch, Đạo đức kinh, Thái huyền.
(13). Thời Trần, ở nước ta đạo Phật thịnh hành, các nhà sư có tôn ba người tu đạo giỏi, gọi là Trúc Lâm tam tổ: Điều ngự giác hoàng tức Trần Nhân Tông, Pháp Loa thiền sư và Huyền Quang thiền sư.
(14). Đệ tứ Tông; theo phép đặc hiệu thì tổ rồi đến tông. Ba người trên đã được tôn là tổ, nên Ngô Thì Nhậm là thứ tư được tôn là tông.
(15). Xương Lê: tên hiệu của Hàn Dũ, một học giả thời Đường.
(16). Tượng Sơn: tên hiệu của Lục Cửu Uyên, một nhà Nho thời Tống, học thuyết của ông lấy chữ Tình làm chủ chốt.
(17). Tố vương: ông vua không ngôi, không quyền. Đó là tên nhà Nho đời sau đặt ra để gọi Khổng Tử.
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc