Home » Tin tức » QUỸ HỖ TRỢ VĂN CHƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG

PHẦN MỘT TỪ THỜI TRUNG ĐẠI ĐẾN 1930 - NGUYỄN PHI KHANH

THUrsday - 10/07/2014 11:45
Bìa sách Xứ Đoài Văn

Bìa sách Xứ Đoài Văn

Được sự cộng tác, giúp đỡ tận tình của Liên hiệp Hội VHNT Hà Nội, sau khi xuất bản tuyển tập Xứ Đoài Thơ, Quỹ hỗ trợ Văn chương & Cuộc sống tiếp tục tài trợ xuất bản Tuyển tập Xứ Đoài Văn (gồm 55 tác giả, dày 950 trang) do Quỹ hỗ trợ Văn chương &Cuộc sống chủ trì tuyển chọn và biên soạn. Đã được trao tặng cho các quận, huyện thuộc Xứ Đoài (Hà Tây cũ), Hội VHNT các tỉnh, các thư viện và các tác giả có tác phẩm được tuyển chọn. Đây là ấn phẩm có giá trị, được tuyển chọn công phu bởi các nhà văn, nhà thơ có uy tín và tâm huyết. Để đáp ứng nguyện vọng của bạn đọc trong và ngoài nước, Nhà thơ Bành Thanh Bần, Chủ tịch Quỹ hỗ trợ Văn chương& Cuộc sống đã tặng file tập sách này cho trang "Văn nghệ Xứ Đoài". Ban quản trị trang vannghexudoai.net xin chân thành cảm ơn ông Bành Thanh Bần cùng Quỹ hỗ trợ Văn chương& Cuộc sống! Từ nay, chúng tôi sẽ giới thiệu dần cùng độc giả tập sách quý này.


NGUYỄN PHI KHANH (1355 - 1428)
 
Tên thật là Nguyễn Ứng Long, hiệu Nhị Khê, vốn quê ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc, nay là xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau di cư đến xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Nam Thượng, nay thuộc Thường Tín, Hà Nội. Năm Giáp Dần (1374) đậu Thái học sinh. Là con rể quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Dưới triều Hồ, ông đổi tên là Nguyễn Phi Khanh, làm Học sĩ Viện Hàn lâm, sau lên đến Thái tử tả tán Thiện đại phu, Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm 1406, nhà Minh sang xâm lược, nhà Hồ thất trận, ông nằm trong số bị bắt về Bắc. Theo gia phả họ Nguyễn Nhị Khê thì ông mất ở Trung Quốc năm 1428 (73 tuổi).
Tác phẩm: Nhị Khê thi tập, đã mất, hiện còn Nguyễn Phi Khanh thi văn do Dương Bá Cung sưu tập.
 
BÀI KÝ ĐỘNG THANH HƯ (1)
 
Trong việc “xuất”, “xử” của kẻ hiền đạt, thì “xuất” là để hành động theo lẽ trời, “xử” là để tìm thú yên vui, cũng theo lẽ trời. Trời là gì? Là cái chí thanh, chí hư, chí đại đó thôi! Bốn mùa thành năm mà không tỏ ra có công, vạn vật chịu ơn mà không lộ rõ dấu vết. Không phải trời là chí thanh, chí hư, chí đại, thì đâu được như thế?
Tướng công Băng Hồ (2) của ta, lấy cái tài trời xây núi dựng để quyết định mưu lược cho nhà vua, làm rường cột cho tông xã. Khi xẩy ra cuộc biến Đại Định(3). Người đã có công dẹp yên nội loạn. Trong lúc vận nước đương như treo trên sợi tóc. Người một mình gánh vác công việc của những ngày nước nhà điêu đứng vậy. Đó chính là buổi đầu của sự xây dựng trời đất. Nếu không phải Người đã hành động theo lẽ trời thì có thể làm như thế được chăng? Đến khi tình hình hỗn loạn đã được dập tắt, hiệu quả của việc nhân, nghĩa đã tỏ rõ, vương nghiệp đã vững như âu vàng, nước nhà đã yên như bàn thạch, thì cái chí của Lưu Hầu, Tấn Công (4) mới mạnh mẽ không có gì ngăn cản được Người nữa, đây lại là một dịp để tỏ rõ sự sáng suốt giữ mình của Người vậy. Nếu không phải Người biết tìm thú yên vui theo lẽ trời, lại có thể như thế được chăng?
Bấy giờ Người mới tâu xin một khu đất hoang ở Côn Sơn(5), sắp đặt cất một ngôi nhà để làm nơi lui về nghỉ ngơi. Hai đức vua(6) khen ngợi công lao trước đây của Tướng công, không ép buộc cái chí của Người, vì vậy thể theo với ý của Người. Người bèn tìm nơi thích hợp, xem xét hình thế. Một tiếng trống vang, muôn người xúm lại, phạt bụi san đồi, thế là suối nguồn được gạn trong, cỏ rác được dọn sạch, phu thợ đủ các nghề, xây đắp không nghỉ. Chưa đầy một tháng mà việc dựng cột, xây tường đều xong, chỗ cao khoáng khoát, chỗ thấp bằng phẳng, đứng xa trông chỉ thấy một mầu xanh, khu động vây bọc những cảnh kỳ lạ và đẹp đẽ, các nơi nghỉ ngơi chơi ngắm đều có đặt tên riêng, nhưng tất cả khu đó được gọi chung là “Thanh Hư động”.
Sau khi làm xong, đức vua Duệ Tông tự tay làm bài bia, khắc vào trước cửa động. Đức Thái Thượng hoàng(7) tự tay làm bài minh, khắc dưới lèn đá, ý đều là để nêu công lớn trước đây của Người, và cũng là để tỏ sự khuyến khích và khen ngợi Người vậy. Sau khi Người từ giã triều đình lui về nghỉ ở đây, có khi rong ngựa chơi vùng Gia Lâm, có khi chèo thuyền dạo miền Bình Than(8). Hoặc có lúc cùng bạn như Tạ Phó đi chơi núi, hoặc có lúc hát bài từ “Qui khứ” của Đào Tiềm(9). Đầu bịt chiếc khăn, lững thững bên đèo. Khói ngàn, ráng đỏ, như gấm cuốn, như lụa giăng; cỏ rừng, hoa suối, hoặc mầu biếc đung đưa, hoặc mầu hồng rực rỡ. Cảnh mát dịu, trong lành, thơm đến muốn nuốt, xinh đến muốn ăn. Phàm những cái gọi là hình trạng trong mát, tiếng vi vu, xa xa mà vắng không, sâu thẳm mà lặng lẽ, hợp với sự mong mỏi của tai mắt và tinh thần, đều hầu như đã hòa với bầu trời mênh mông mà vui chơi ra ngoài cõi vật. Ôi! Trong vũ trụ, tạo hóa bày ra những cảnh như thế để chờ đợi người cũng nhiều. Nhưng dịp thành công, như Tiêu Hà(10) là người chỉ huy có tài còn bị cùm trói: Mã Viện(11) là người có mối chí thân nơi tiêu phòng còn bị dèm pha, đó chẳng phải là họ làm nên công trạng, mà không biết con đường lui đó ư? Đến như Vĩnh Thúc(12) mười lần dâng sớ xin nghỉ, mà chí nhớ đất Dĩnh chưa thỏa, Ôn Công(13) một năm ốm đến sáu tháng, mà lòng nhớ đất Lạc không nguôi, đó chẳng phải là việc lui về nghỉ ngơi cũng có khi phải chờ đợi mà khó được đó ư?
Nay Tướng công ta, lúc đầu trời đã giúp cho cái hội công danh; về sau lại dành cho cái thú sơn thủy, khỏi được tiếng thành công mà không biết đường lui, khỏi cái nỗi phải thở than vì lui về không được. Ấy là khi “xuất” với “xử”, khi “không” với “lạc” đều là theo lẽ trời. Vậy còn phàn nàn gì về cái ý tạo vật đã đãi người? Ôi! Thân phận một kẻ đại thần, khi tiến, khi lui, đều có quan hệ với vận mệnh của nước nhà, cho nên người quân  tử vẫn ôm mối lo suốt đời, nào phải như kẻ bỉ phu thờ vua, đã lo được lại lo mất, khi được thì a dua, nịnh hót, chẳng việc gì là chẳng làm; khi mất thì hất hủi bỏ đi, trong lòng hậm hực. Như vậy, sao đáng cùng họ mà bàn việc “xuất” và “xử” của người hiền đạt được?
Than ôi! Trời đất quang tạnh khó lường; hào kiệt kinh luân có hội. Ước gì được bay bổng lên giữa khoảng trời trong mát, xanh biếc kia để cùng vui chơi ở chỗ mà tạo hóa đã sắp đặt để chờ Người?
Tháng Chạp năm Giáp Tí, niên hiệu Xương Phù thứ tám (1384), Nhị Khê Nguyễn Phi Khanh ghi.
Trần Lê Sáng  dịch


(1) Động Thanh Hư: ở núi Côn Sơn, thuộc huyện Phược Sơn (nay là huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương)
(2) Băng Hồ: Hiệu của Trần Nguyên Đán, nhạc phụ của Nguyễn Phi Khanh.
(3) Đại Định: Niên hiệu của Dương Nhật Lễ
(4) Lưu Hầu: Tước phong của Trương Lương, người đời Hán. Tấn công: tước phong của Bùi Độ, người đời Đường. Hai người này sau khi lập được công lớn đều xin về nghỉ.[1]
(7) Thái thượng hoàng: chỉ Trần Nghệ Tông
(8) Miền Bình Than: vùng sông Lục Đầu, nay thuộc tỉnh Hải Hưng
(9) Tạ Phó: Tức Tạ An. Tạ An và Đào Tiềm là những nhà ẩn dật nổi tiếng đời Tấn, Trung Quốc.
(10) Tiêu Hà: Một trong những công thần của nhà Hán, giữ chức Tướng quốc. Trong thời kỳ làm quan, có lần ông bị bắt giam. Về sau nhà Tây Hán tìm cách giết công thần, Tiêu Hà đi ở ẩn để lánh nạn.
(11) Mã Viện: danh tướng đời Đông Hán, con gái làm hoàng hậu. Có lần Mã Viện đi đánh giặc, mang về mấy xe hột ý dĩ, có người dèm với vua là ông mang mấy xe châu báu về nhà.
(12) Vĩnh Thúc: tên chữ của Âu Dương Tu, người đời Tống. Ông là một hiền sĩ nổi tiếng, có chí ẩn dật. Dĩnh là quê của ông.
(13) Ôn Công: biệt hiệu của Tư Mã Quang, một người hiếu học đời Tống, bị Vương An Thạch đầy ra đất Lạc. Sau về làm Tể tướng được 8 tháng thì mất.

 

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc