Home » Tin tức » Văn hóa Xứ Đoài

BÀI THƠ NHÂN ẢNH VẤN ĐÁP CỦA PHAN HUY THỰC

TUEsday - 02/06/2015 07:54
Bài viết của Hoàng Thị Ngọ
Chùa An Phát, xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội nhìn từ núi (ảnh minh họa)

Chùa An Phát, xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội nhìn từ núi (ảnh minh họa)

Phan Huy Thực tự là Vị Chỉ, hiệu Xuân Khanh, thụy Trang Lương, sinh năm 1779 và mất năm 1846.
Theo Phan gia thế phả, Phan Huy Thực là con trai thứ hai của Phan Huy Ích, là anh ruột của nhà bác học Phan Huy Chú, thuộc dòng họ Phan Huy nổi tiếng ở Sài Sơn (nay thuộc huyện Quốc Oai, Hà Nội). Con đường hoạn lộ của Phan Huy Thực thăng giáng thất thường, trong đó có ba lần ông được thăng tới chức Thượng thư. Ông là một tài năng đa dạng, có một vốn hiểu biết sâu rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: văn hóa, âm nhạc, thiên văn, lịch pháp, giáo dục, điển lễ nghi thức…
Dịch và sáng tác thơ văn chỉ là một phần nhỏ trong cả cuộc đời hoạt động phong phú của ông, nhưng với nền văn học cổ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, ông là một tác giả đáng được ghi nhận và đánh giá cao.
Tác phẩm của ông hiện có:
- Bản dịch Tỳ bà hành nổi tiếng (dịch thơ Bạch Cư Dị).
- Hoa thiều tạp vịnh.
- Khuê nhạc thi văn tập.
- Bần nữ thán.
- Nhân nguyệt vấn đáp.
Ngoài ra, ông còn một số bài văn tế, câu đối, thơ xướng vịnh… nằm rải rác trong kho tàng sách Hán Nôm hoặc đã bị thất lạc.
Để khẳng định thêm vị trí của Phan Huy Thực trong nền văn học cổ, chúng tôi xin giới thiệu thêm tác phẩm Nhân ảnh vấn đáp của ông một, áng thơ Nôm dài trước nay chưa được giới thiệu.
Tác giả viết bài thơ này khi đang ở kinh đô giữ chức Hàn lâm. Cả bài thơ dài 186 câu, viết theo thể lục bát, như một màn kịch nhỏ gồm hai nhân vật đối thoại với nhau là người và bóng. Qua cuộc đối thoại, tác giả đã dãi bày những suy nghĩ, tâm sự, đặc biệt là nỗi nhớ nhung về quê hương, gia đình khi đang sống ở nơi đất khách quê người. Với sự khéo léo khơi gợi, gạn hỏi ân cần của bóng. Người đã tâm sự với bóngvề dòng dõi gia thế của mình: bộc lộ những suy nghĩ về bước đường công danh sự nghiệp và cuộc sống tạm bợ nơi lữ thứ cùng những bận rộn việc quan nơi kinh kỳ…
Vấn và đáp là hình thức mà tác giả thường hay dùng. Cùng với cách chọn không gian, thời gian và đặc biệt chọn người tri kỷ là cái bóng của chính mình. Phan Huy Thực đã tạo cho mình một phong cách rất riêng và độc đáo. Lời thơ trong Nhân ảnh vấn đáp trau chuốt, mượt mà, ngôn từ súc tích, giầu hình tượng và chứa đựng nhiều yếu tố chân thực gần gũi với chúng ta.
Hiện nay có hai bản Nhân ảnh vấn đáp bằng chữ Nôm:
- Bản khắc in của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VNb 91, in năm Canh Tuất, đời Duy Tân, do Quan văn đường tàng bản. Bản này dài 186 câu được đóng chung với một bài thơ khác của tác giả thành 1 cuốn dày 22 trang, khổ 20x10cm.
- Bản chép tay của gia đình Phan Huy Diên (Hà Nội) do con cháu trong gia tộc chép lại theo trí nhớ, gồm 194 câu.
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu toàn văn bài thơ Nhân ảnh vấn đáp. Phần phiên âm, chú thích chúng tôi dựa vào bản in, bên dưới có khảo dị bản chép tay:
1
  NHÂN ẢNH VẤN ĐÁP
1. Đêm thu thẻ dán canh tà,
  Liễu gầy đỡ gió, sen già chống sương.
  Phòng văn rủ bức rèm tương,
  Hưong trầm nghi ngút, quyển vàng biếng trông.
5. Héo tươi ai tỏ tấm lòng,
  Dưới màn hai bóng bạn chung một đèn.
  Trong giường nghe chạnh gót sen,
  Tiếng đâu đồng vọng rén bên thoắt chường.
  Rằng đây kim mã ngọc đường,
10. Bấy lâu hơi tiếng cũng thường có tôi.
  Khi ăn khi nói khi cười,
  Khi nằm, khi dậy, khi ngồi, khi đi.
  Dự trong chỉ xích tương tùy,
  Vậy nên dám hỏi mọi bề gần xa.
15. Vả người là ấáng danh gia,
  Đường mây nhẹ bước chốc đà bấy nay.
  Thân danh chẳng bận mảy may,
  Cớ sao thắc mắc niềm tây một mình.
  Đêm đêm chong bóng tàn canh,
20. Chưa hề chiếc gối bên mình đặt yên.
  Hay là nhớ nỗi thân duyên,
  Tân kiều trông nẻo oanh thiên cách vời.
  Rừng hàn mũi bút dùi mài,
  Công danh nên bận lòng người kẻo đâu ?
25. Hay là nghị nỗi quế châu,
  Ba thu dặm khách đôi bầu gió đưa.
  Phong lưu cùng khổ khác xưa,
  Nỗi nay dìu dặt khôn bề tính quen?
  Hay là nỗi ở chưa yên,
30. Gánh cầm thư lại mấy phen nhắc lần.
  Bèo mây nênh nổi vòng trần,
  Tường mầu cô lữ xoay vần đời nơi ?
  Hay là bầu bạn thiếu người,
  Lứa giao du biết lấy ai cho vừa.
35. Cùng ai cuộc rượu câu thơ,
  Cùng ai sóng gió đèn mưa tả phiền ?
  Hay là nhớ cuộc ca diên,
  Nhịp tiên tỏ trúc vẻ chen yêu kiều.
  Trên lầu Vương, Tạ dập dìu,
40. Tay châu điểm nhặt thẻ lèo thưởng đua?
  Hay là nhớ cuộc xuân du,
  Trước đèn kẻ được người thua tơi bời.
  Lá bài ngọn bố đùa vui,
  Trải chơi lại nhớ chuyện chơi kẻo nào?
45. Hay là nghĩ bạn thuần giao,
  Lại khi rầu rĩ mượn vào làm khuây.
  Trăm điều dễ gác cơn say,
  Tiếng tăm vả lại chốn này phải e?
  Hay là vắng vẻ hương khuê.
50. Sớm khuya phó mặc lũ hầu túi khăn.
  Từng khi sương nắng nhọc nhằn,
  Nâng niu ai kẻ sánh gần gối loan.
  Hay là tưởng thú lâm tuyền,
  Đầu non chuốc chén trên triền nghe kinh.
55. Bấy lâu lần bước thị thành,
  Lâu ngày tưởng chốn đi tình thêm trông?
  Hay là chặt hẹp của dùng,
  Bấy lâu xoay tạm thêm chồng một hai.
  Tháng người thôi vốn thời lời,
60. Lâu nay dật dạ nên người cưu lo.
  Một lòng trăm mối tơ vò,
  Cho nên trằn trọc giấc hồ phải thân?
  Thấy điều hỏi gạn ân cần.
  Ở đây gần gũi thời thân thỉ cùng:
65. “Bấy lâu lòng những hay lòng,
  Lấy ai gắn bó mà cùng nhỏ to.
  Mình đây trước đắn sau đo,
  Lặng ngồi ta sẽ như cho ít nhiều.
  Hỏi thưa nghe cũng phải chiều,
70. Lòng đà há bận những điều thế đâu.
  Dặm trường vả chí cung dân,
  Nhỏ nhen cũng đã bắc cầu thanh vân.
  Miễn lòng chăm chữ thiện cần,
  Đường danh ắt cũng bước lần vội chi.
75. Tuổi xanh từng điểm chữ thì,
  Đã khi ra bể lại khi vào ngồi.
  Ở đời tùy lúc chuyện đời.
  Có an ngộ mới là người trượng phu,
  Lần lữa cầm hết mấy thu,
80. Mặc dầu lữ xá mặc dầu quan sanh.
  Càn khôn một nóc thảo đình,
  Dẫu đâu mà gửi được mình cũng xong.
  Anh em bốn bể là chung,
  Thiếu gì tri hữu trong vòng cân đai.
85. Tịnh du dương buổi đua tài,
  Thần châu há phải như ngoài dương quan.
  Tiệc vui bậc hát cung đàn,
  Bấy lâu thị xướng tùy ban cũng thường.
  Vả từ sinh chốn cẩm đường,
90.. Tai này chừng đã chán chường trúc tơ
  Ngày xuân bài bạc thói xưa,
  Có chăng cũng mặc mà chừa cũng nên.
  Vả từ hồ thỉ mấy niên,
  Ít nhiều cũng đã trải phen thân nhàn.
95. Hồ tôn là cuộc vi hoan,
  Song đà đeo việc từ hàn phải chăm.
  Dầu khi nhớ nỗi xa xăm,
  Nương song chuốc chén quỳnh châm hệ gì.
  Phong lưu từng trải một thì,
100. Nàng khăn chen lũ kiền nhi là thường.
  Khách tình khôn tiện đa mang,
  Thư đồng cũng đủ sửa sang chăn màn.
  Đô kỳ nay chốn du quan,
  Kìa non Thiên Mụ nọ ngàn Đàm Câm.
105. Trước hoa đới ẩm hiên ngâm,
  Cũng thương vui với tri âm một vài.
  Của tiên dành cũng hẹp hòi,
  Đầy ngày chi trách ép nài phú nhi.
  Người còn của đến có khi,
110. Nợ đành trả nợ bận gì mà e.
  Niềm riêng nay kể cho nghe,
  Nỗi mình xốc nổi nỗi quê ngại ngùng.
  Dấn bèo vả chút nhà dòng,
  Văn chương võ vẽ thư song rạng hồ.
  Tập rèn còn hổ nghiệp nho,
115. Bể dâu trải cuộc thế đồ đổi thay.
  Muôn nhờ ấm lý hậu dầy,
  Sân ban nay lai xum vầy thần hồn.
  Cúc tùng nhận lối hoàng tồn,
120. Mùi vị khuyết chốn sơn thôn lần hồi.
  Quạt nồng ấp lạnh khi rồi,
  Một song khóa tử theo đòi bút nghiên.
  Lâm tuyền một lối đã quen,
  Dám mong thân phận sánh chen ao hoàng.
125. Ngờ đâu vị bố bậc thường,
  Tính danh sớm đã bận gương tể đài.
  Nước non xa ruổi tin vời,
  Nửa mừng nửa sợ lòng người bâng khuâng.
  Kể từ cầm sách khơi chừng,
130. Nỗi nhà ấm lạnh ngại ngùng tấc gang.
  Đã đành dưới gối chen hàng,
  Lập thân hồ dễ rằng đường ngu thân.
  Cành dân bóng xế nhà xuân.
  Thẻ tiên chốc đã giáp tuần cổ hy.
135. Quân thân nay thử tính khi,
  Ngày dài ngày ngắn xiết chi sự lòng.
  Tuổi già đứng cửa xa trông,
  Mà ta ngầm ngập bụi hồng bấy nay.
  Ngọt bùi biết lấy chi đây,
140. Chẳng qua thỉnh thoảng đường mây đưa lời.
  Lòng riêng nhũ bú dây dây,
  Áo xiêm ràng buộc cách vời sân ban.
  Non Yên cành quế sánh đoàn,
  Chốn đình vi buổi thừa hoan giữ thường.
145. Riêng ai hồ thỉ dán đường,
  Cánh hồng lẻ tẻ trong sương xao tình.
  Bèo mây từng chạnh nỗi mình,
  Nước non lại tưởng nỗi anh em nhà.
  Trong bàn thủ túc suông xa,
150. Ngày dài đắp đổi rầy rà đủ chưa.
  Tưởng bao giờ nhớ bây giờ,
  Hoa dường này mấy ngày xưa thế nào.
  Buồn trông non thẳm mây cao.
  Cơ hồ xuân mấy chiêm bao mơ màng.
155. Tuổi xanh kết sợi chỉ hồng,
  Trăm năm kinh bố giữ dòng gia thanh.
  Những là thắc mắc khuê tình,
  Đau lòng phiền não giật mình tang thương.
  Trâm vòng gối nếp đài trang,
160. Cười rông mong mỏi chia san có ngày.
  Bắc nam cách lệ bấy chầy,
  Giấc tà chưa dễ đổi thay canh dài.
  Sung đền giữ mãi một mùi,
  Mà ta kiển bộ lụy người tào khang.
165. Đìu hiu bốn bức gió sương,
  Phòng khuê vò võ tay bồng tay mang.
  Đứa anh ngoài tuổi thành đồng,
  Bút nghiên biết có chăm nhìn hay không.
  Thư đường lần đoái mấy chồng,
170. Lại thêm ràng buộc lũ đồng nhi nay.
  Tù vàng khóa lễ mấy rầy,
  Nhắn nhe chưa dễ được ngay cho tường.
  Đứa con măng sữa lại căng,
  Khi đi chỉ một lên đàng theo cha.
175. Vó câu khi trở lại nhà,
  Ắt nay nhìn mặt nó đà quên tôi.
  Trăm tình như đốt như mài,
  Suốt năm canh những như xui mối sầu.
  Tuyết sương nhuộm nửa mái đầu,
180. Dẫu lòng khuây khỏa dễ hầu được đây.
  Suốt thôi nghe lọt canh chầy,
  Rùng mình dậy mới biết này rằng mơ.
  Nghĩ mình trằn trọc hồn sơ,
  Bởi dường sự đục khắc giờ chưa nguôi.
185. Bằng như thân ấy mấy đời,
  Rủi may là phận một hai đã đành.
1 1
H.T.N
KHẢO DỊ
Để tiện theo dõi, chúng tôi xin khảo dị theo số thự tứ câu. Phần dị bản được gạch đây. Đề bài bản chép tay ghi: Nhân ảnh vấn đáp từ.
Câu 4: Hương trầm ngại đốt quyển vàng biếng trông.
Câu 5: Héo tươi ai rửa cuống lòng.
Câu 6: Dưới màn chiếc bóng bạn chung một đèn.
Câu 7: Trong mơ nghe chạnh gót sen.
Câu 9: Rằng nơi kim mã ngọc đường.
Câu 14: Loàn đan dám gửi mọi bề gần xa.
Câu 20: Chưa hề chiếc gối bên mình được yên.
Câu 21: Hay là nghĩ nỗi thân duyên.
Câu 22: Tản kiền trông nẻo oanh khuyên cách vời.
Câu 27: Phong lưu nùng khổ vết xưa.
Câu 28: Nỗi nay dìu dặt khôn vừa tính quen.
Câu 30: Gách cầm thư trải mấy phen nhắc lần.
Câu 32: Tưởng mầu cơ lữ quen vần đôi nơi.
Câu 34: Tác giao du biết lấy ai cho vừa.
Câu 35: Cùng ai điếm rượu đàn thơ.
Câu 36: Cùng ai sóng gió đèn mưa giải phiền.
Câu 37: Hay là tưởng cuộc ca diêu.
Câu 38: Nhịp xen tơ trúc vẻ chen yêu kều.
Câu 41: Hay là thưởng cuộc xuân du.
Câu 47: Muôn điền dễ gác cơn say.
Câu 50: Hôm mai phó mặc ai hầu túi khăn.
Câu 52: Nâng niu ai kẻ sánh gần gối uyên.
Câu 53: Hay là nghĩ thú lâm tuyền.
Câu 55: Bấy lâu dấn bước thị thành.
Câu 58: Từng khi xoay tạm thêm chồng một hai.
Câu 60: Thêm dầy dật đã sui người cưu lo.
Câu 63: Nghe lời gạn hỏi ân cần.
Câu 64: Ở đà gẫn gũi thời thân thỉ cùng.
Câu 65: Rằng đây lòng những hay lòng.
Câu 70: Lòng này há bận những điều thế đâu.
Câu 72: Nhỏ nhen cũng đã bắc cầu thanh vân.
Câu 79: Lần lừa cầm hạc mấy thu.
Câu 85: Tịnh du dương lúc đua tài.
Câu 88: Bấy lâu thị xướng tùy ban là thường.
Câu 89: Vả ai hồ thỉ thiếu niên.
Câu 97: Dầu khi buồn nỗi xa xăm.
Câu 98: Nương song rót chén quỳnh châm hệ gì.
Câu 99: Phong hoa từng trải một thì.
Câu 103: Đô kỳ hiếm chốn du quan.
Câu 106: Cũng thường vui kẻ tri âm một vài.
Câu 108: Dầy ngày chi khỏi ép nài phú nhi.
Câu 112: Nỗi nhà xốc nổi nỗi quê ngại ngùng.
Câu 117 Muôn nhờ ấm tý nặng dầy.
Câu 121: Lâm tuyền một chạnh đã quen.
Câu 132: Phận mình hồ dễ nhác đường ngu thân.
Câu 135: Quân thân nay thử tính suy.
Câu 137: Tác già nương bóng xa trông.
Câu 139: Ngọt bùi biết gửi chi đây.
Câu 141: Tấc lòng nhũ én ngùi ngùi.
Câu 146: Cánh hồng lẻ thẻ trong sương treo tình.
Câu 148: Nước non thêm nghĩ nỗi anh em nhà.
Câu 149: Trong bàn mục túc suông xa.
Câu 150: Tháng ngày đắp đổi chốc đà đủ chưa.
Câu 155: Tuổi xanh từng kết chỉ hồng.
Câu 156: Trăm năm kinh bố lựa dòng gia thanh.
Câu 158: Đau lòng bồn nậu giật mình thương tang.
Câu 159: Trăm hoa cạn nếp đài trang.
Câu 160: Cưỡi rồng trông mỏi chưa sang có ngày.
Câu 161: Bắc nam cách gián bấy chầy.
Câu 162: Giấc quan sau luống tỉnh say canh dài.
Câu 164: Vì ta kiểu bộ lụy người tào khang.
Câu 165: Đìu hiu bốn vách gió sương.
Sau câu 167 có thêm 4 dòng:
Song mây võ vẽ thủ công ít nhiều.
Nỗi nhà vắng vẻ hôm dao,
Khi thăm lệnh mẹ khì bìu ríu em.
Bẫm hèn mà lại bận thêm,

Câu 168: Bút nghiên biết có chăm miền hay không.
Câu 169: Cao đường gác đoái mấy trùng.
Câu 170: Lại thêm đùm bọc lữ đồng tôn nay.
Câu 171: Từ vâng khóa dụng tháng ngày.
Câu 172: Quyển bài chưa gửi tới đây được tường.
Câu 176: Hẳn nay nhận mặt nó đà lạ thôi.
Câu 180: Dẫu mong khuây khỏa dễ hầu được đâu.
Câu 181: Phút thôi nghe lọt hôi may.
Câu 182: Rùng mình dậy mới biết này trong mơ.
Câu 183: Ngẫm mình thắc mắc hồn sơ.
Câu 184: Bởi đường sự lục khắc giờ chẳng nguôi.
Sau câu 186: có thêm 4 câu:
Bóng kia cũng vật ngoại mình,
Nhẽ đâu mà lấy thường tình đọ ta.
Chẳng qua mặc nghĩ đó mà,
Mấy lời vấn đáp gọi là chép chơi.

CHÚ THÍCH
Trong phần này chúng tôi cũng chú thích theo số thứ tự câu:
* Nhân ảnh vấn đáp: cuộc đối đáp giữa người và bóng.
1- Thẻ dán: thẻ làm dấu, đánh dấu.
3- Rèm Tương: rèm làm bàng trúc sông Tương; ở đây ý nói tấm rèm đẹp.
8- Rén: nhẹ nhàng. Chường (còn đọc là chiềng): thưa gửi.
13- Chỉ xích tương tùy: cùng theo nhau trong gang tấc.
22- Tản Kiều: núi Tản Viên thuộc huyện Ba Vì, Hà Sơn Bình.
39- Vương, Tạ: họ Vương, họ Tạ là hai họ lớn thuộc dòng trân anh thế phiệt ở Trung Quốc.
40- Thẻ lèo: Ngày xưa các đào kép hát hoặc diễn trò hay được người xem tung thẻ lên sân khấu để thưởng tài.
64- Thân thi: thủ thỉ gần gũi tâm sự.
71- Chí cung dâu: ý nói chí làm trai.
80- Lữ xá: nhà trọ.
81- Thảo đình: nhà nhỏ lợp mái bàng cỏ.
84. Trí hữu: bạn bè hiểu nhau.
93- Hồ thỉ: hồ: cái cung; thỉ: mũi tên. Hồ thỉ: tục lệ của người Trung Quốc xưa: hễ sinh con trai thì treo phía bên trái cửa một cây cung và một mũi tên. Hồ thỉ: biểu hiện chí khí nam nhi.
102- Thư đồng: đứa trẻ hầu hạ phòng sách.
117-Ấm tý: ở đây ý chỉ phúc ấm của tổ tiên.
118- Sân ban: sân có nhiều màu sắc của Lão Lai tử.
Theo Hiếu tử truyện: Lai Tử người đời Xuân Thu, nổi tiếng là người con có hiếu. Bảy mươi tuổi rồi mà ông vẫn giả chơi trò trẻ con, mặc quần áo màu sắc rực rỡ nhẩy múa trước sân rồi giả vờ ngã lăn ra cho bố mẹ vui.
133- Nhà xuân: chỉ người cha. Theo sách Trang Tử cây xuân là loại cây sống rất lâu năm. Gọi cha là “nhà xuân” là mong cha sống lâu như cây xuân vậy.
143- Non yên cành quế: chỉ các anh em ở nhà. Theo tích họ Đậu ở Yên Sơn sinh năm người con trai, cả năm người đều phú quý hiển đạt.
144- Chốn đình vi: chỉ nơi ở của cha mẹ.
152- Hoa đường: chỉ người vợ, chỉ người vợ như hoa Hải đường.
160- Chia san: chia sẻ.
164- Kiền bộ: ý nói chậm chạp, hèn kém. Người tào khang: người vợ tấm cám, người cùng gắn bó từ lúc còn nghèo khó.
168- Từ câu 168 đến 171, chúng tôi tham khảo thêm bản chép tay. Bẵm hèn: nhiều hèn.
174- Đồng tôn: cùng họ.
191- Từ câu 181 đến câu 184, chúng tôi tham khảo thêm bản chép tay.

(Theo Tạp chí Hán Nôm số 2 năm 1989) 
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc