Home » Tin tức » Văn hóa Xứ Đoài

HAI QUẢ CHUÔNG THỜI TÂY SƠN TẠI SÀI SƠN

SATurday - 29/11/2014 08:59
Theo sách Đại Nam nhất thống chí, phần Sơn xuyên và Tự quân, ở Sài Sơn có 2 chùa được nhắc đến: Thiên Phúc và Đỉnh Sơn. Chùa Thiên Phúc là chùa to nhất ở dưới chân núi Sài Sơn, chùa Đỉnh Sơn là chùa ở trên chót núi. Hai quả chuông mà chúng tôi giới thiệu dưới đây được đặt ở gác chuông hai chùa trên. Ở bài này chúng tôi tạm qui ước: quả chuông đặt ở chùa Thiên Phúc gọi là chuông I, quả chuông đặt ở chùa Đỉnh Sơn gọi là chuông II.
Hình minh họa

Hình minh họa

 
Chuông I: Đặt ở gác chuông chùa Thiên Phúc. Chiều cao (từ đáy chuông đến đỉnh rồng làm quai treo) là 1,5m. Chu vi của chuông là 2m. Bề mặt chuông được chia làm 4 ô đều nhau, mỗi ô rộng 0,45m. 4 ô này được chia làm 2 phần chính, phụ. Phần chính ở trên cao 0,70m, phần phụ ở dưới cao 0,2m. Khoảng cách giữa 2 ô là hoa văn và 4 núm tròn rộng 0,2m. Phần còn lại là đáy chuông. Tất cả 4 ô chuông đều khắc kín chữ, chữ chân phương, khắc sâu, dễ đọc. 4 ô trên khắc bài ký và minh, 4 ô dưới ghi tên tuổi những người đóng góp tiền. Chuông đúc năm Cảnh Thịnh thứ hai, Giáp Dần (1794).
 
Chuông II: Hiện treo ở gác chuông trên đỉnh núi chùa Đỉnh Sơn. Chuông II bị rạn nứt khá nhiều, chữ bị rêu phù bụi bám phải cạo đi mới đọc được. So với chuông I thì chuông II có kích thước bằng ½. Bố cục bề mặt của chuông cũng giống như chuông I, được chia làm 4 ô đều nhau, có 2 phần chính, phụ, ngăn cách bằng hoa văn trang trí. Phần chính trên là 45cm, phần phụ dưới là 12cm, bề rộng của mỗi ô là 32cm, chu vi của chuông là 1,4m. Qua treo đúc hình rồng. Chiều cao của chuông là 0,8m. Được khắc kín chữ cả 4 ô: ô 1 của chuông ghi một bài ký, ô 2, ô 3 và một nửa ô 4 ghi tên những người đóng góp tiền của ở thôn Thiên Phúc, tổng Lật Sài. Nửa ô 4 còn lại ghi niên đại đúc chuông và tên người soạn ký, người viết chữ, khắc chữ. Đáng tiếc là ở quả chuông này, niên đại đúc chuông đã bị đục, chỉ còn lại mấy chữ “… tuế tại Bính Thìn mạnh hạ cốc nhật”, 4 ô phụ ghi tên tuổi khách thập phương quyên góp tiền.
 
VỀ VĂN BẢN ĐƯỢC KHẮC TRÊN HAI CHUÔNG
 
Bài ký ghi trên chuông I do Phan Huy Ích - nhà quân sự, ngoại giao của triều Tây Sơn soạn. Phần ghi tên người soạn ký của chuông I ghi: “Dực vận công thần sắc thụ Đặc tiến Thượng đại phu Thị trung lang ngự sử kiêm Hành Bắc trấn Hình bộ sự Thụy Nham Hầu Phan Huy chi Dụ kính soạn”. Không hiểu vô tình hay cố ý mà người khắc chữ đã khắc thiếu tên và hiệu của Phan Huy Ích (ở đây khoảng cách ở phần ghi tên Phan Huy không có vết đục). Nhưng phần ghi tên những người quyên góp tiền để đúc chuông thì tên Phan Huy Ích lại được ghi đầy đủ ở hàng đầu: “Thị trung ngự sử Phan Huy Ích…”. Chúng ta đều biết Phan Huy Ích hiệu là Dụ Am, tước là Thụy Nham Hầu, là quan Thượng đại phu thị trung lang ngự sử “kiêm Hành Bắc trấn Hình bộ” v.v… do đó khiến người đọc không thể lẫn ông với bất cứ ai khác, mặc dù kiểu ghi tên lơ lửng kia. Bài ký do Phan Huy Ích soạn khoảng 1500 chữ, chiếm hết ¾ ô chính của chuông. Chúng tôi xin tóm tắt nội dung bài ký như sau:
 
Mở đầu bài ký tác giả cho biết tại vùng Sài Sơn vào thời Lý Nhân Tông có một nhà sư tu hành và đắc đạo ở đây tên là Từ Đạo Hanh. Ông đã mở mang thiền viện, sáng lập đạo trường, cùng với các thiện nam tín nữ quanh vùng quyên góp tiền của để đúc một quả chuông vào năm Kỷ Sửu. Long Phù Nguyên Hóa thứ 19 (1109). Nhà chùa lại đón đệ tử là sư Thích Huệ Hưng về soạn bài ký để khắc trên chuông. Bài ký dài vài nghìn câu và một bài minh viết theo lối 4 câu 2 vần, văn chương rất bóng bẩy đẹp đẽ. Việc trông coi và viết chữ vào chuông là do viên quan tên là Nghiêm Thường, tự là Thúc Do, làm quan đến chức “Trực lang bí thư sảnh trước tác thượng kỵ đô úy”, được ban tước “Phi củ ngư đại” thực hiện. Chuông đúc được 7 năm thì Từ Đạo Hạnh mất. Trải qua các triều Lý, Trần, chùa vẫn được bảo vệ tốt. Đến khi nhà Hồ tiếm ngôi, giặc Minh sang xâm chiếm, nhà Lê lấy lại được nước… quả chuông đó vẫn còn nguyên vẹn. Vào năm Kỷ Dậu, Quang Trung thứ 2 (1789), khi đó việc binh đã yên, những quân lính tự do thấy ở các chùa, quán có đồ đồng đều thu về để đúc tiền cả, do vậy quả chuông nhà Lý cũng cùng chung số phận. Sau đó vài năm, dân trong tổng Lật Sài, huyện An Sơn, phủ Quốc Oai, thấy chùa vắng tiếng chày kinh, lại vốn yêu mến tiếng chuông mới. Đến mùa hạ năm Giáp Dần thì đúc xong. Bấy giờ dân trong tổng mới đến xin Phan Huy Ích soạn cho một bài ký để khắc trên chuông. Phan Huy Ích có làm một bài minh kèm theo bài ký. Bài Minh dài 14 câu, viết theo lối thất ngôn. Khi kết thúc bài ký và bài minh, Phan Huy Ích tỏ lòng muốn chuông này cũng sẽ được tồn tại dài lâu như chuông nhà Lý(1).
 
Niên đại của chuông ghi: “Hoàng Nguyễn triều đệ nhị đế Cảnh Thịnh vạn niên chi tái, tuế tại Giáp Dần, mạnh hạ, cốc nhật” (triều Hoàng Nguyễn, vua thứ hai Cảnh Thịnh năm thứ hai, ngày lành, giữa mùa hạ năm Giáp Dần).
 
Người viết chữ để khắc vào chuông là hương biểu Doãn Huy, người thôn Phú An, xã Thạch Thất (Thạch Thất xã, Phú An thôn, hương biểu Doãn Huy phụng tả).
 
Người khắc chữ là Nguyễn Tài Trí, người xã Đề Cầu, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An (Thuận An phủ, Siêu Loại huyện, Đề Cầu xã, Nguyễn Tài Trí chủ san).
 
Phần ghi tên tuổi những người và địa phương quyên góp tiền của để đúc chuông, ngoài những huyện xung quanh như: Quốc Oai, Thanh Oai, Thuận An, Hoài Đức, Đan Phượng… còn có cả những phường ở Kinh đô. Điều đó cho thấy việc đúc chuông I ở chùa Thiên Phúc lúc đó được mọi tầng lớp nhân dân ở các địa phương rất đồng tình ủng hộ.
 
Bài kỳ ghi trên chuông II do một người tên là Phan Cẩm đỗ tứ trường khoa Giáp Ngọ soạn(2). Niên đại ghi trên chuông đã bị đục, chỉ còn lại 8 chữ dưới: “…tuế tại Bính Thìn, mạnh hạ, cốc nhật”.
 
Họ tên và quê quán người đúc chuông, khắc chữ cũng như ở chuông I.
 
Người viết chữ là sư trụ trì tại chùa, tên là Vương Đức Dụ, hiệu là Hải Khóat (trụ trì đại từ Vương Đức Dụ, tự Hải Khóat cẩn thư).
 
Trước hết phải nói rằng văn bản ở chuông I là một văn bản quí. Bởi vì, được viết dưới triều Tây Sơn, lại do một “cây đại bút” là Phan Huy Ích viết. Nội dung cụ thể, đưa ra những chi tiết lịch sử có ý nghĩa rất chân xác… hình thức thể hiện lại súc tích cô đọng. Cả bài ký toát lên một tấm lòng trăn trở của một trí thức yêu nước, một nhà văn hóa đứng trước truyền thống văn hóa dân tộc đã bị phá hủy… Những tài liệu nghiên cứu về Phan Huy Ích từ trước đến nay chưa nhắc tới bài ký này của ông, thiết tưởng đây cũng là một dịp bổ sung tư liệu để hiểu đầy đủ về một con người đã thức thời, vì vận mệnh của nước mà dốc lòng giúp “người anh hùng áo vải” Nguyễn Huệ.
 
Trong bài ký, Phan Huy Ích đã cho biết tương đối cụ thể về quả chuông đúc thời Lý. Sách Kiến văn tiểu lục, phần Thiên chương khi ghi chép về “Kim Thạch di văn” từ các đời Lý Trần về sau, Lê Quý Đôn đã nhắc đến đầu tiên quả chuông chùa Thiên Phúc: “… Tôi thu nhặt những văn còn sót lại ở đồ đồng và bia đá được mấy chục bài thì thấy văn thời nhà Lý lối biền ngẫu bóng bẩy, đẹp đẽ, còn giống thể văn nhà Đường (…). Nay đem danh mục chép ra đây để biết đại khái: Bài minh khắc vào quả chuông chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích, do thầy chùa là Huệ Hưng soạn, đề năm Nguyên Hóa thứ 9 triều nhà Lý”.
 
Dịch giả sách này có chú rằng: “Theo sách Cựu thống chí chép là chùa Vạn Phúc ở núi Lạn Kha xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, do Lý Thánh Tông xây dựng". Đề năm đúc chuông nhà Lý, dịch giả chú thêm: "Các vua triều nhà Lý không có niên hiệu Nguyên Hóa. Nhưng xem phần phong vực chép ở dưới thì Nguyên Hóa tức là Long Phù Nguyên Hóa, một niên hiệu của Lý Nhân Tông. Tham khảo sử liệu thì niên hiệu Lý Nhân Tông chỉ thấy chép chữ "Long Phù" mà không có chữ "Nguyên Hóa". Không biết rõ từ thời đại nào sử gia đã bỏ bớt chữ "Nguyên Hóa" đi?" (Kiến văn tiểu lục, Nxb. KHXH, 1977, tr.168).
 
Trở lại với những cứ liệu mà Phan Huy Ích cho biết về quả chuông nhà Lý, chúng ta thấy rằng: Tác giả đã bổ sung thêm cho khối thư tịch cổ một cách đầy đủ hơn khi nói về chuông nhà Lý. Nếu Lê Quý Đôn chỉ nói sơ sài thì Phan Huy Ích cho biết cụ thể. Người khởi xướng dựng chùa, chuông được đúc với trọng lượng 2000 cân. Bài ký lúc đó dài bao nhiêu câu, viên quan nào viết chữ để khắc, niên hiệu đầy đủ... Như vậy Phan Huy Ích đã nói kỹ hơn Lê Quí Đôn rất nhiều, mặc dù hai ông sống cùng thời với nhau. Có lẽ là vì Phan Huy Ích là người địa phương có chuông, và khi ông viết về quả chuông đó thì nó mới bị mất có vài năm nên những chi tiết ông đưa ra có khả năng chính xác và đầy đủ.
 
Bài ký trên chuông I cũng góp phần đính chính lại một số hiểu biết chưa chính xác trước đây: chùa Thiên Phúc có chuông đúc thời nhà Lý là ở thôn Thiên Phúc, tổng Lật Sài, huyện An Sơn, phủ Quốc Oai chứ không phải ở núi Phật Tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh như dịch giả sách Kiến văn tiểu lục đã chú thích. Tên núi Phật Tích xuất hiện vào đời Trần. "Sài Sơn ở huyện An Sơn, triều Lý tên là Bồ Đà Sơn" (Đại Nam nhất thống chí, Quốc vụ khanh Sài Sơn xuất bản, tr.72). Như sách đã dẫn, tr.114 viết "Chùa Thiên Phúc ở xã Sài Gòn huyện An Sơn". Vấn đề ghi trong sách và chữ khắc ở chuông hoàn toàn trùng khớp với nhau.
 
Về văn bản quả chuông II: Điều lý thú là văn bản này cũng nói đến sự kiện đúc chuông năm Giáp Dần: "Đầu năm Giáp Dần toàn tổng ta đã có lời với sư trụ trì ở chùa dưới xin đúc chuông". Tiếp theo, tác giả cho biết chuông II được khởi công đúc vào ngày 21 tháng 4 năm Bính Thìn. Tên địa danh xuất hiện trong chuông II trùng lặp với địa danh ghi ở chuông I. Đó là tên các địa danh xuất hiện ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
 
Người khắc chữ, cho cả hai chuông đều là Nguyễn Tài Tri, người xã Đề Cầu, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An. Khoảng cách đúc 2 chuông phải gần nhau thì người đúc chuông mới là một được.
 
Dòng niên đại cho biết chuông đúc vào "mùa hạ năm Bính Thìn" (chữ bị đục) (tuế tại Bính Thìn, mạnh hạ, cốc nhật). Trong thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX có 3 năm Bính Thìn: 1736, 1796, 1856. Nếu chuông II đúc năm 1736 thì lúc đó chưa có sự kiện đúc chuông năm Giáp Dần có ghi trong chuông. Nếu chuông đúc năm 1856 thì đó là triều Nguyễn Tự Đức (1848-1883), hà tất phải đục niên đại (Đục niên đại, tên tuổi nhà Tây Sơn cùng với tên các văn võ quan cao cấp của vương triều này là cách trả thù hèn hạ của triều đình nhà Nguyễn). Đó là chưa kể khoảng cách trước hoặc sau năm Giáp Dần ở 2 thời điểm 1736 và 1886 đều hơn 60 năm. Liệu người thợ đúc chuông, khắc chữ có sống thêm được ngần ấy thời gian để đúc quả chuông thứ hai nữa hay không? Và nếu còn, ắt hẳn không đủ sức để làm công việc đó.
 
Ngoài những chứng cứ về văn bản thì mô típ trang trí, cách bố cục trên hai quả chuông hoàn toàn giống nhau.
 
Từ những đặc trưng như vậy, chúng tôi đi đến kết luận quả chuông này đúc năm 1796, tức là triều Tây Sơn Cảnh Thịnh năm thứ 4. Do khoảng cách số chữ bị đục là 18cm, 8 chữ còn lại là 14cm, ở 8 chữ này, chữ dài nhất là 1,5cm (chữ 穀 cốc) chữ ngắn nhất là 1cm (chữ 日 nhật). Chia khoảng cách số chữ bị đục với 8 chữ hiện còn, chúng tôi được số chữ bị đục là 11 chữ. Phỏng theo niên đại được khắc trên chuông I (do thời gian đúc 2 chuông gần nhau nên mô típ về niên đại ắt hẳn giống nhau, nhất là cùng một triều, cùng một ông vua) chúng tôi suy ra 11 chữ bị đục sẽ là "Hoàng Nguyễn triều đệ nhị đế Cảnh Thịnh vạn niên tứ...". Khôi phục cả dòng niên đại sẽ là "Hoàng Nguyễn triều đệ nhị đế Cảnh Thịnh vạn niên tứ, tuế tại Bính Thìn, mạnh hạ, cốc nhật" tức là "Triều Hoàng Nguyễn Cảnh Thịnh năm thứ 4, vào mùa hạ, ngày lành, năm Bính Thìn (1796)".
 
Đến đây một câu hỏi được đặt ra: Tại sao trong cùng một địa điểm mà quả chuông I không bị đục, quả chuông II lại bị đục? Theo dân địa phương cho biết là quả chuông I trước kia treo ở chùa Đỉnh Sơn, chuông II treo ở chùa Thiên Phúc. Thực ra theo văn bản thì vị trí của hai chuông từ buổi đầu đã được đặt như vậy. Có lẽ đó là sự đổi chỗ để tránh sự lùng sục của bọn phong kiến triều Nguyễn chăng? Có thể dân ở đây cho rằng chuông I quí hơn vì vừa to lại vừa do Phan Huy Ích soạn bài ký mà đổi chỗ như vậy. Song mọi điều chỉ là phỏng đoán. Theo chúng tôi sở dĩ chuông I không bị đục đó là sự giữ gìn, bảo vệ bằng mọi cách của người dân ở đây. Và cũng chính vì vậy, chuông II dù có bị đục mất niên đại, thì cả hai chuông thời Tây Sơn vẫn được tàng trữ ở vùng núi Sài Sơn gần như nguyên vẹn. Đó là điều hiếm gặp ở một nơi quanh năm có du khách vãng lai. Phải chăng đó là tấm lòng yêu mến của nhân dân Sài Sơn đối với vương triều Tây Sơn và sự trân trọng đối với di sản văn hóa của dân tộc?

Thùy Vinh


--------------------------------------------

Chú thích:
 
(1) Nguyên văn phần đầu bài ký chúng tôi để ở phần phụ lục
 
(2) Chúng tôi sẽ giới thiệu toàn bộ bài ký của chuông II ở phần phụ lục./.
 


-------------------------------------------
 
PHỤ LỤC I
 
Phần đầu bài ký của chuông I ở chùa Thiên Phúc
 
Lật Sài tổng Phật Tích Sơn Thiên Phúc tự chú hồng chung.
 
Phật Tích Sơn Thiên Phúc tự tân chung ký minh.
 
Lý thị dĩ Đức thủy phát tường, nghị thượng Thích giáo. Chân thiền tịnh thổ, điệp xuất kỳ thời Phật Tích Sơn chi Thiên Phúc tự đại thánh Từ Đạo Hạnh sở sáng thủy dã. Đại thánh hữu Lý Nhân Tông thời nhân, trác tích sơn am, pháp lực hoằng tướng, viên tức nham bạn, khai thác đạo trường. Kỷ sửu Long Phù Nguyên Hóa cửu niên xuân chú thành đông chung nhất khẩu, kỳ chung trọng nhị thiên cân, đại thập số vi. Thị niên thu Thiên Phúc tự, tứ tử Đại sa môn Thích Huệ Hưng soạn ký sổ thiên ngôn, minh tứ cú nhi vận, từ dực điển thiềm. Thư vu chung tắc thừa Trực lang bí thư sảnh trước tác lang Thượng kỵ đô úy tứ củ ngư đại Nghiêm Thường tự Thức Do mỹ thủy... Đãi vu bản triều Kỷ Dậu Quang Trung nhị niên xuân thời phủ bình định tự quán đồng khí câu chiết vi tiền, thị chung nhân dĩ cập yên.
 
Tạm dịch:
 
Đúc chuông mới chùa Thiên
 
Phúc, núi Phật Tích tổng Lật Sài.
 
Ghi bài minh cho quả chuông mới chùa Thiên Phúc núi Phật Tích.
 
Nhà Lý phát tích từ sông Thiên Đức, tôn trọng đạo Phật, những nhà sư chân chính và chùa chiền (lúc đó) xuất hiện nhiều. Chùa Thiên Phúc núi Phật Tích do nhà sư Từ Đạo Hạnh sáng lập ra. Đạo Hạnh sống vào thời Lý Nhân Tông, (ông) là người tu luyện trên núi, pháp lực vô biên. Ông dựng am cạnh vách đá, mở ra trường đạo (của mình). Năm Kỷ Sửu Long Phù Nguyên Hóa thứ 9 (1109) vào mùa xuân đúc một quả chuông nặng hai nghìn cân, rộng khoảng mười vòng (tay). Mùa thu năm đó chùa Thiên Phúc đón đệ tử là sư Thích Huệ Hưng về viết bài ký (dài) vài nghìn câu, một bài minh theo lối 4 câu 2 vần, từ ngữ, điển chương rất đẹp. Viết chữ vào chuông là Trực lang bí thư sảnh trước tác Thượng kỵ đô úy tên là Nghiêm Thường, tự là Thức Do được ban tước Củ ngư đại.
 
... Đến triều ta, năm Kỷ Dậu Quang Trung thứ hai, khi việc binh đã tạm yên, chùa quán nào có đồ đồng đều cho vào đúc tiền, quả chuông này do đó cùng chung số phận.
 
PHỤ LỤC II
 
Toàn văn bài ký của chuông ở chùa Đỉnh Sơn.
 
Phiên âm:
 
Thiên Phúc thôn Sơn Đỉnh tự bồng chung
 
Thiên Phúc thôn danh sơn chi thạch động, Tiên đại thánh phi tích tu luyện linh hóa vu thử dã, tiền hoàng Lê triều linh dị kỳ sự, tức kỳ động chi đông nam kiến tự. Ngũ bản thôn, hựu vu kỳ tự chú chung nhi sùng phụng chi. Tuế thời triêu mộ, bồ hát xao dữ sơn hạ tự chung chi thanh tương ứng, tòng lai cơ hĩ. Niên cửu trung (...) lãi không cốc âm hy, tích hữu nhi kim vô, diệc khí số sử chi nhiên giả. Biến hóa như chiên, kỳ tư chi vị dư. Phù Phật dĩ nhất âm thiết pháp, nhi chung chi trung không khí đại lôi. Thanh lại hưởng, nhất khẩu thôn thu hàm thiết giác mê, kỳ vi bảo dã bất tế. Giáp Dần sơ ngã đồng tông khẩu vu sơn hạ tự chú chi. Huống ư tuyệt đỉnh danh lam, khởi nhân tuyệt tịch bồ kinh chi hưởng hồ. Ư thị ngã thôn cập chư (...) tín tăng yên đẳng quyên xuất gia tài sùng tu phúc quả. Bính Thìn niên tứ nguyệt nhị thập nhất mộ công chú thành, kỳ trọng ngoại tam dư bách cân, kỳ đại nhị vị, viên kỳ thanh, thanh việt triệt hồ. Thượng hạ khấn tam huyền vu cửu hoa đài, thượng hòa vạn lại vu quần ngọc phong trung, hải hội tất văn xuất môn vĩnh trấn: ư dĩ: xiển dương huyền giáo đãng địch trần tâm, tái hữu dĩ dẫn như sơn chi thọ mạch, nhi thân kỳ thiên di phúc chỉ bất tận chi dư âm tồn hĩ. Trưng van tư dư, dư bản hương nhân dã, xuất tuy phi tri ngôn tức mặc tâm thị Phật, cầu kỳ đạo đại yếu khuyến nhân vi thiện nhi dĩ. Thả lạc dữ hương thôn nhân, thuyết giả đạo chi thứ cơ đồng thiện nhi đồng phúc, toại cố chi viết "Thiên Phúc thôn Sơn Đỉnh tự hồng chung".
 
Tạm dịch:
 
Chuông quí chùa Sơn Đỉnh thôn Thiên Phúc:
 
Động đá nơi núi đẹp (thuộc) thôn Thiên Phúc, bậc đại thánh đã trụ trì, tu luyện và mất tại đây. Triều Lê trước kia cho là việc linh di, bèn cho xây chùa ở phía đông nam động. Thôn ta (bấy giờ) lại đúc chuông ở chùa này để tỏ lòng tôn kính. Quanh năm sớm tối vang tiếng chày kình, hoà cùng với tiếng gõ chuông ở chùa dưới. Nay việc ấy đã là cổ lắm, tìm lại âm thanh trong hang sâu thật là hiếm hoi. Xưa có mà nay không, đó cũng là khi số của dịch lý xui nên vậy. Sự biến đổi của cuộc đời giống như sự biến hóa của loài sâu bướm. Phàm đạo Phật lấy âm thanh để thuyết pháp, mà tiếng chuông là âm thanh lớn trong không trung, hoà cùng tiếng sáo, chỉ gõ một tiếng khiến người ta tỉnh khỏi mê mộng. Điều quí của nó thực là không nhỏ. Đầu năm Giáp Dần, toàn tổng ta đã có lời xin đúc chuông ở chùa dưới, huống chi đây là nơi tuyệt đỉnh danh lam, há nỡ để bặt tiếng chuông hay sao? Thế rồi toàn thôn ta cùng với các chư vị thiện nam tín nữ quyên góp gia tài để cung kính đúc quả chuông này. Năm Bính Thìn tháng 4 năm 21 tìm thợ đúc chuông, đúc xong chuông nặng ngoài 300 cân, rộng hơn hai vòng, âm thanh trong trẻo vượt lên tất cả. Khi rung tiếng chuông chùa ở của hoa đài hòa cùng vạn tiếng sáo trên đỉnh núi ngọc thì khắp trong nước cùng nghe thấy, cả sơn môn cùng náo nức. Do đó tiếng chuông mở rộng đạo Phật, rửa sạch lòng trần, thậm chí kéo mạch thọ dài như núi, trồng phúc quả lâu dài cho nên âm thanh còn mãi. Vì những lẽ đó (trong thôn) đến xin văn ở ta. Ta là người trong làng tuy không hay chữ, nhưng ta nghĩ "tâm tức Phật". Để tìm đến với đạo Phật, điều trọng yếu nhất là khuyên người ta làm việc thiện. Bèn vui cùng với người trong làng bàn bạc về đạo, ngõ hầu vừa làm điều thiện, vừa được hưởng phúc chăng? Thế rồi [ta] viết bài: "Quả chuông quí của chùa Đỉnh Sơn thôn Thiên Phúc".

 
Total notes of this article: 5 in 1 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc