Home » Tin tức » Xứ Đoài văn

Nhà văn Phan Kế Bính

PHAN KẾ BÍNH (1875 - 1921)

Phan Kế Bính, hiệu là Bưu Văn, người xã Thụy Khuê (Hà Đông), đỗ cử nhân Hán học. Ông là một trong số mấy nhà cựu học đã tham gia hoạt động báo chí, học thuật trên văn đàn công khai trong những năm đầu thế kỷ XX. Ông là trợ bút tờ Đăng cổ tùng báo (1907), tiếp đó là một chân quan trọng trong ban biên tập của Đông Dương tạp chí. Sách của ông gồm một phần là biên soạn như: Việt Hán văn khảo, Nam hải dị nhân, Hưng Đạo đại vương truyện, Việt Nam phong tục, và một phần là dịch thuật như: Tam quốc chí, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện… Ngoài ra, trên Đông Dương tạp chí, ông còn có một số bài giới thiệu tư tưởng các triết gia, các văn nhân Trung Quốc rút ở các sách Chiến quốc, Liệt tử, Mặc tử v.v…và một số truyện dịch ở Tình sở, Kim cổ kỳ quan.

Nhà văn Nguyễn Bá Học (1857 - 1921)

NGUYỄN BÁ HỌC (1857 - 1921)

Nguyễn Bá Học, người xã Giáp Nhất, huyện Thanh Trì (Hà Đông), tinh thông Hán học, chuyển qua Tân học, làm giáo học ở Sơn Tây và Nam Định, sau khi về hưu, chuyển việc trú thuật. Cũng như Phạm Duy Tốn, ông là một trong những người Bắc đầu tiên viết truyện ngắn bằng quốc ngữ. Có hai truyện được chú ý hơn là “Cô chiêu nhì” và “Câu chuyện một tối của người Tân hôn”. Ông viết với mục đích bảo vệ đạo đức, luân lý cũ, nhất là luân lý gia đình, nhưng qua đó cũng phản ánh được một số nét hiện thực của xã hội; bệnh cờ bạc chơi bời ở người đàn ông (Câu chuyện gia đình), tính sa hoa, lười biếng, đến nỗi rơi vào cảnh trụy lạc bần cùng ở những người phụ nữ “con nhà” (Cô chiêu nhì), đặc biệt ông đã ghi được vài nét đơn sơ về cảnh làm việc khổ cực của thợ thuyền nhà máy sợi Nam Định trong “Câu chuyện một tối của người Tân hôn”.

Bìa tập "Xứ Đoài Văn"

NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

NGUYỄN THƯỢNG HIỀN (1868 - 1925) Nguyễn Thượng Hiền tên tự Đình Thần, sau khi xuất dương đổi là Đỉnh Nam, hiệu Mai Sơn. Người xã Liên Bạt, huyện Sơn Lãng (nay là Ứng Hòa) tỉnh Hà Tây. Năm hai mươi lăm tuổi, ông đỗ Hoàng giáp nhưng không chịu ra làm quan với triều đình Đồng Khánh, về ở ẩn tại vùng Thanh Hóa. Sau đó, ông bị gọi ra nhận chức Toản tu quốc sử, rồi Đốc học Nam Định. Nhưng đến năm 1907, sau khi bố chết, ông bỏ quan xuất dương dấn thân vào phong trào Đông du. Tác phẩm gồm: Hạc thư ngâm biên, Hát Đông thư dị, Nam Chi tập, Mai Sơn hợp toản thi thập, Mai Sơn ngâm thảo và nhiều thơ văn tuyên truyền cho phong trào yêu nước cách mạng đầu thế kỷ XX.

NGUYỄN VĂN SIÊU

NGUYỄN VĂN SIÊU

NGUYỄN VĂN SIÊU (1799 - 1872) Vốn tên là Định, tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình, nguyên quán ở làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Hà Đông (cũ). Đỗ Phó Bảng năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), được bổ làm Kiểm thảo viện Hàn lâm, rồi làm Viên ngoại lang Bộ Lễ, Thừa chỉ ở Nội các kiêm chức Thị giảng (giảng sách cho các hoàng tử...) dưới hai triều Minh Mệnh, Thiệu Trị. Dưới triều Tự Đức từng làm Phó sứ trong sứ đoàn sang Trung Quốc, khi về được thăng Học sĩ Viện Tập Hiền, rồi ra làm Án sát Hà Tĩnh, Án sát kiêm Tuần phủ Hưng Yên. Năm 1854, ông từ quan, từ đó chuyên tâm vào việc dạy học và viết sách. Tác phẩm: Phương Đình dư địa chí, Chư kinh khảo ước, Chư kinh khảo thích, Tứ thư bị giảng, Phương Đình tùy bút lục... về thơ văn có các bộ: Phương Đình thi loại, Phương Đình văn loại, Phương Đình thi văn tập.

PHAN HUY ÍCH

PHAN HUY ÍCH

PHAN HUY ÍCH (1751 - 1822) Hiệu Dụ Am, tự Khiêm Thụ Phủ. Sinh ngày 12 tháng 12 năm Canh Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 11 ((1751), quê gốc tại làng Thu Hoạch, tỉnh Hà Tĩnh. Lớn lên, ông theo cha dời đến làng Thụy Khuê, huyện An Sơn, tỉnh Sơn Tây nay là huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Nội. Phan Huy Ích là con Tiến sĩ Phan Huy Cẩn và là học trò của Ngô Thì Sĩ, về sau làm rể Ngô Thì Sĩ, lấy em gái Ngô Thì Nhậm. Thuở nhỏ Phan nổi tiếng thông minh; năm hai mươi hai tuổi đỗ Giải nguyên, hai mươi sáu tuổi đỗ Hội nguyên Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Ất Mùi niên hiệu Cảnh Hưng 36 (1775). Dưới thời Trịnh Sâm, Phan Huy Ích từng giữ các chức Đốc đồng Thanh Hóa, Thiêm sai tri hình ở phủ Chúa. Năm 1788, Nguyễn Huệ trong lần kéo quân ra Bắc diệt Trịnh, Phan Huy Ích được tiến cử một lượt cùng với Vũ Huy Tấn, Trần Bá Lâm… Quang Trung phong quan tước rồi trao cho ông cùng Ngô Thì Nhậm lo việc giao thiệp với Trung Quốc. Năm 1789, sau đại thắng quân Thanh, Quang Trung cử ông cùng Ngô Văn Sở hộ tống Phạm Công Trị giả làm vua Quang Trung sang Trung Quốc dự lễ mừng thọ vua Thanh. Khi về nước, Phan Huy Ích được thăng Thị trung ngự sử ở tòa Nội các. Năm 1800, dưới thời Cảnh Thịnh, ông được thăng Lễ bộ Thượng thư. Tới năm 1802, khi Nguyễn Ánh lật đổ triều Cảnh Thịnh thì Phan Huy Ích bị bắt giam cùng Ngô Thì Nhậm. Tháng 2 năm sau, ông bị đem ra đánh đòn trước Văn Miếu vì cái tội phục vụ triều Tây Sơn rồi được tha. Từ đó ông về quê dạy học, lúc ở Sài Sơn, lúc vào Thiên Lộc. Đến năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mạng thứ 3 (1822), Phan Huy Ích qua đời, thọ 72 tuổi.

Tượng thờ Ngô Thì Nhậm trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt (Bảo tàng Quang Trung, Bình Định)

NGÔ THÌ NHẬM

NGÔ THÌ NHẬM (1746 - 1803) Quê quán: Tả Thanh Oai, Hà Nội. Ông là con Ngô Thì Sĩ. Nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, nhà văn lỗi lạc. Tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên. Năm 1768 đỗ Giải nguyên rồi Tiến sĩ Tam giáp. Năm 1775 được bổ làm quan ở Bộ Hộ. Năm 1778 làm Đốc đồng Kinh Bắc và Thái Nguyên. Năm 1778 ra cộng tác với nhà Tây Sơn, giữ chức Tả Thị lang Bộ Lại sau thăng làm Thượng thư Bộ Lại. Năm 1790 ông giữ chức Binh bộ Thượng thư. Sau khi Quang trung mất, ông không được tin dùng, quay sang nghiên cứu Phật học. Nhà Tây Sơn đổ, nhà Nguyễn Ánh trả thù man rợ những người cộng tác với Tây Sơn, ông cũng nằm trong số đó. Sau trận đòn thù ở Văn Miếu năm 1803, ông về nhà thì mất. Tác phẩm chính: Hi Doãn thi văn tập, Hoàng hoa đồ phổ, Xuân Thu quân kiến, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, Hải Đông chí lược. Ông còn là một trong những tác giả tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái.

Hình minh họa

NGÔ GIA VĂN PHÁI

Ngô gia văn phái là tên chung dùng để gọi những nhà văn họ Ngô Thì. Người mở đầu văn phái là Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780), người xã Tả Thanh Oai, phủ Thanh Oai, Hà Đông, Hà Nội. Những người xuất sắc khác là Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí đều là con của Ngô Thì Sĩ. Gia đình ấy có truyền thống viết văn xuôi và lịch sử. Ngô Thì Chí là người khởi thảo Hoàng Lê nhất thống chí. Ngô Thì Chí đỗ tiến sĩ, làm quan đời Lê mạt, theo vua Lê Chiêu Thống chạy lần thứ nhất và mất trong khi đi đường. Ngô Thì Nhậm theo Nguyễn Huệ, giúp mưu lược và giữ việc văn án, lập công trạng lớn.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

NGÔ SĨ LIÊN

NGÔ SĨ LIÊN (? - ?) Ngô Sĩ Liên là người làng Chúc Lý, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Ông tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn khá sớm, cùng với Nguyễn Nhữ Soạn (em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trãi) được Lê Lợi giao cho làm Thư ký trong quân và sứ giả. Không rõ ông sinh năm nào và mất vào năm nào, nhưng thọ tới 98 tuổi. Chỉ biết ông giữ các chức vụ quan trọng dưới các triều thời Lê sơ như Lê Thái Tôn (1434-1442), Lê Nhân Tôn (1442-1495), Lê Thánh Tôn (1460-1497). Năm Đại Bảo thứ ba đời vua Lê Thái Tôn tức năm Nhâm Tuất (1442), Ngô Sĩ Liên thi đậu tiến sĩ và được cử vào Hàn lâm viện. Khi Lê Nghi Dân giết Lê Nhân Tôn và cướp ngôi vua, Ngô Sĩ Liên giữ chức Đô ngự sử. Sau khi lên ngôi vua được ít lâu, Lê Thánh Tôn cử ông làm Sử quán tu soạn, biên soạn bộ Sử ký toàn thư. Ông đã căn cứ vào bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Sử ký tục biên mà biên soạn ra bộ Sử ký toàn thư. Bộ sách này sau mấy lần khảo đính và bổ sung, mang tên là Đại Việt Sử ký toàn thư như chúng ta hiện có.

NGUYỄN TRÃI (1380 - 1442)

NGUYỄN TRÃI (1380 - 1442)

Hiệu Ức Trai. Cha là Nguyễn Phi Khanh, mẹ là Trần Thị Thái, con gái quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Năm 1400, 20 tuổi đỗ Thái học sinh, làm quan nhà Hồ, giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Năm 1406, quân Minh sang xâm lược Đại Việt. Năm 1416, Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Thời Lê Thái Tổ, ông được ban tước Quan phục hầu, giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại Bộ Thượng thư quản công việc ở Khu mật viện. Dưới triều Lê Thái Tông, ông giữ chức Thừa chỉ Viện hàn lâm kiêm Quốc Tử Giám, chủ khảo Khoa thi Tiến sĩ ở Kinh đô. Năm 1443 vụ án Lệ Chi Viên xảy ra, cả nhà ông bị khép án tru di tam tộc. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu minh oan, truy phong ông chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tước Tán Trù bá. Tác phẩm chính: Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập, Băng Hồ di sự lục.

Xứ Đoài

TRẦN THẾ PHÁP - VŨ QUỲNH - KIỀU PHÚ

TRẦN THẾ PHÁP (?-?) Trần Thế Pháp (? - ?), tự là Thức Chi, người huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Không rõ hành trạng cũng như năm sinh, năm mất. Tác phẩm hiện còn là sách Lĩnh Nam chích quái, xuất hiện từ cuối thời Trần, sau được hai tác giả thời Lê là Vũ Quỳnh (1453 – 1516) và Kiều Phú (1447 - ?) bổ sung, nhuận sắc. VŨ QUỲNH (1453 - 1516) Đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Lễ bộ Thượng thư, là tác giả nhiều bộ sách khá nổi tiếng cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16. KIỀU PHÚ (1450 - ?) Đỗ Tiến sĩ năm 1475, đồng soạn giả Lĩnh Nam chích quái với Vũ Quỳnh.

Bìa sách Xứ Đoài Văn

PHẦN MỘT TỪ THỜI TRUNG ĐẠI ĐẾN 1930 - NGUYỄN PHI KHANH

Được sự cộng tác, giúp đỡ tận tình của Liên hiệp Hội VHNT Hà Nội, sau khi xuất bản tuyển tập Xứ Đoài Thơ, Quỹ hỗ trợ Văn chương & Cuộc sống tiếp tục tài trợ xuất bản Tuyển tập Xứ Đoài Văn (gồm 55 tác giả, dày 950 trang) do Quỹ hỗ trợ Văn chương &Cuộc sống chủ trì tuyển chọn và biên soạn. Đã được trao tặng cho các quận, huyện thuộc Xứ Đoài (Hà Tây cũ), Hội VHNT các tỉnh, các thư viện và các tác giả có tác phẩm được tuyển chọn. Đây là ấn phẩm có giá trị, được tuyển chọn công phu bởi các nhà văn, nhà thơ có uy tín và tâm huyết. Để đáp ứng nguyện vọng của bạn đọc trong và ngoài nước, Nhà thơ Bành Thanh Bần, Chủ tịch Quỹ hỗ trợ Văn chương& Cuộc sống đã tặng file tập sách này cho trang "Văn nghệ Xứ Đoài". Ban quản trị trang vannghexudoai.net xin chân thành cảm ơn ông Bành Thanh Bần cùng Quỹ hỗ trợ Văn chương& Cuộc sống! Từ nay, chúng tôi sẽ giới thiệu dần cùng độc giả tập sách quý này.

Bìa tập Xứ Đoài văn

XỨ ĐOÀI VĂN - LỜI DẪN

Được sự cộng tác, giúp đỡ tận tình của Liên hiệp Hội VHNT Hà Nội, sau khi xuất bản tuyển tập Xứ Đoài Thơ, Quỹ hỗ trợ Văn chương & Cuộc sống tiếp tục tài trợ xuất bản Tuyển tập Xứ Đoài Văn (gồm 55 tác giả, dày 950 trang) do Quỹ hỗ trợ Văn chương &Cuộc sống chủ trì tuyển chọn và biên soạn. Đã được trao tặng cho các quận, huyện thuộc Xứ Đoài (Hà Tây cũ), Hội VHNT các tỉnh, các thư viện và các tác giả có tác phẩm được tuyển chọn. Đây là ấn phẩm có giá trị, được tuyển chọn công phu bởi các nhà văn, nhà thơ có uy tín và tâm huyết. Để đáp ứng nguyện vọng của bạn đọc trong và ngoài nước, Nhà thơ Bành Thanh Bần, Chủ tịch Quỹ hỗ trợ Văn chương& Cuộc sống đã tặng file tập sách này cho trang "Văn nghệ Xứ Đoài". Ban quản trị trang vannghexudoai.net xin chân thành cảm ơn ông Bành Thanh Bần cùng Quỹ hỗ trợ Văn chương& Cuộc sống! Từ nay, chúng tôi sẽ giới thiệu dần cùng độc giả tập sách quý này.

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc