Home » Tin tức » Xứ Đoài văn

NGÔ GIA VĂN PHÁI

SATurday - 19/07/2014 00:09
Hình minh họa

Hình minh họa

Ngô gia văn phái là tên chung dùng để gọi những nhà văn họ Ngô Thì. Người mở đầu văn phái là Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780), người xã Tả Thanh Oai, phủ Thanh Oai, Hà Đông, Hà Nội. Những người xuất sắc khác là Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí đều là con của Ngô Thì Sĩ. Gia đình ấy có truyền thống viết văn xuôi và lịch sử. Ngô Thì Chí là người khởi thảo Hoàng Lê nhất thống chí. Ngô Thì Chí đỗ tiến sĩ, làm quan đời Lê mạt, theo vua Lê Chiêu Thống chạy lần thứ nhất và mất trong khi đi đường. Ngô Thì Nhậm theo Nguyễn Huệ, giúp mưu lược và giữ việc văn án, lập công trạng lớn.
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
 
Hoàng Lê nhất thống chí là một quyển lịch sử ký sự lớn bằng chữ Hán ở nước ta do mấy nhà văn họ Ngô Thì viết, người khởi thảo là Ngô Thì Chí (con Ngô Thì Sĩ, em Ngô Thì Nhậm) làm quan Bình chương ở triều Lê. Công việc trước tác này tiến hành trong thời từ cuối triều Lê sang đầu triều Gia Long. Đối chiếu với những quyển sử ký ghi chép sự việc về thời kỳ này thì sự việc ghi chép trong sách này chính xác và đúng với sự thật; lời lẽ của nhân vật thì một phần do soạn giả nghĩ ra, nhưng vẫn trung thành với tinh thần của sự việc và tính chất của nhân vật lịch sử. Hoàng Lê nhất thống chí vừa cung cấp những sử liệu quí giá do người chứng đương thời ghi chép, vừa phản ảnh một cách sinh động và khách quan sự thối nát, vô hạnh, sự bất tài bất lực, sự phản bội nhục nhã của giai cấp phong kiến; đồng thời nó giới thiệu được phần nào khí thế vô địch của đạo quân nông dân do Nguyễn Huệ cầm đầu, thiên tài quân sự, chính trị của ông và tố cáo âm mưu xâm lược rõ rệt của vua tôi nhà Thanh.
Sau đây là các đoạn trích trong tác phẩm này.
 
 
CUỘC NHÂN DUYÊN TỐT ĐẸP
 
   Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc, chúa Trịnh đánh không lại, bỏ chạy. Nguyễn Huệ tuyên bố không động chạm đến lãnh thổ nhà Lê, không can thiệp vào nội chính nhà Lê và xử sự như một người bầy tôi của vua Lê. Để duy trì sự giao hảo ấy, Lê Hiển tông tìm dịp làm vui lòng Nguyễn Huệ.
Đúng ngày, Hoàng thượng mở cuộc đại triều ở điện Kính thiên, các quan đều theo thứ tự đứng hầu, Bình (1) tự đem các tướng sỹ do cửa Đoan môn đi vào. Sau khi đã lạy năm lạy và vái ba vái, Bình dâng tờ tâu nói về công diệt họ Trịnh và các sổ sách dân, quân, xin hoàng thượng sai quan coi giữ.
Nhận lễ triều xong, hoàng thượng tiễn Bình ra khỏi cửa điện, rồi bãi triều.
Hôm sau, hoàng thượng sai quan đem chiếu và “sách” ra tận dinh quân của Bình, phong Bình làm chức nguyên soái, tước Phù chính dực vũ Uy quốc công.
Bình nhận chức tước xong rồi, tức thì sai sứ vào triều tạ ơn, lễ ý rất là chu chi.
Sau đó, Bình bỗng bảo riêng với Chỉnh (2):
- Ta đem mấy vạn quân lính đến đây, chỉ đánh một trận dẹp yên được cả thiên hạ. Một hòn đất, một tên dân của nước Nam(3) đều của ta, ta muốn xưng đế, xưng vương, gì mà không được? Sở dĩ nhường những ngôi đó không muốn ngôi nào, là ta hậu với nhà Lê mà thôi. Cái chức nguyên soái quốc công với ta có hơn cái gì? Hay là nước Nam muốn lấy những tiếng hão đó để lung lạc ta? Nếu ta không nhận, sợ rằng Hoàng thượng bảo ta kiêu căng. Nhận mà không nói, lại sợ người nước bảo ta là kẻ man mọi. Bởi vậy, nên ta phải nói.
Chỉnh biết ý Bình bất mãn, bèn đặt ra lời Hoàng thượng nói riêng với mình, rồi mình tiết lậu với Bình mà rằng:
- Hoàng thượng đã có bảo riêng với tôi thế này: Nhà vua kiệm bạc (4), không có vật gì đáng tặng. Vẫn biết những cái danh tước nhỏ mọn không đủ làm cho ông sang thêm, chỉ vì tục nước vốn thích lễ nghĩa, gọi là tỏ cái lòng thành của ngài kính ông mà thôi. Bản ý của ngài, tự biết mình đã tuổi già, sợ rằng sau khi ông về, không thể nương tựa vào ai, ngài muốn ràng buộc tình thân của hai họ, để cho hai nước đời đời cứ làm thông gia với nhau. Nhưng vì chưa biết ý ông thế nào, cho nên chưa dám nói rõ.
Bình đáp:
- Xưa nay những kẻ xa nhà, tình khuê phòng rất là cần thiết. Hoàng thượng cũng xét đến chỗ ấy à? Ừ! em vua nước Tây, làm rể hoàng đế nước Nam, môn đương hộ đối như thế, tưởng cũng không mấy người được…!
Cả đám đều cười.
Rồi Bình lại nói:
- Nói đùa đó thôi!... Hoàng thượng nghĩ vậy thật là “lão mưu đa kế”. Ngài muốn hai nước hòa nhau.
Chỉnh biết là Bình bằng lòng, bèn vào tâu với Hoàng thượng, kể hết đầu đuôi như vậy, và hỏi con gái Hoàng thượng hiện còn mấy vị công chúa chưa lấy chồng.
Kể ra trong lớp công chúa sinh hồi Hoàng thượng tuổi già, số chưa chồng cũng còn đến năm, sáu người. Tựu trung chỉ có Ngọc Hân công chúa vừa có tư sắc vừa có đức hạnh, Hoàng thượng rất yêu. Ngày thường, ngài vẫn thường nói: “Con này ngày sau nên gả cho làm vương phi, không nên gả cho hạng phò mã tầm thường”. Lúc ấy nghe lời Chỉnh nói, ngài định gả nàng cho Bình, bèn bảo với Chỉnh:
- Con gái chưa chồng của trẫm còn nhiều, nhưng chỉ có mình Ngọc Hân hơi có nhan sắc. Song mà người ta yêu con hay thiên vị, trẫm nghĩ thế,… chưa biết con mắt người ngoài ra sao. Ngươi hãy ở đấy, để trẫm đòi cả ra đây, coi qua, rồi ngươi lựa xem người nào xứng đáng, thì giúp cho thành việc đi!
Rồi ngài liền sai thị giả (5) vào đòi. Một lát các vị công chúa nhất tề ra trước ngự tọa, Chỉnh liếc coi qua rồi nói:
- Được rồi! Mối nhân duyên này thần xin se tơ, mười phần chắc xong cả mười.
Tức thì Chỉnh về nói với Bình:
- Câu chuyện hôm qua tôi nói với ông, nay tôi vào chầu Hoàng thượng, ngài vui mừng mà bảo tôi rằng: nếu đã được ông bằng lòng thì đó cũng là duyên trời dun dủi. Hiện ngài có vị công chúa thứ chín, mới mười sáu tuổi, xin cho nương bóng hậu dinh, hầu hạ khăn lược, để cho hai nước thành nghĩa thân gia, đời đời hòa hiếu với nhau.
Bình đáp bằng giọng bông đùa:
- Vì dẹp loạn mà ra rồi lấy vợ mà về, trẻ con nó cười thì sao? Tuy vậy, ta chỉ mới quen gái Nam Hà, chưa biết con gái Bắc Hà. Nay cũng nên thử một chuyến xem có tốt không?
Cả đám đều cười.
Giây lát, Chỉnh ra, Bình nói giữa bọn tả hữu:
- Tôi xin gửi lại hoàng đế bệ hạ vạn tuế! “Hang núi” (6) đến đây, đâu dám đường đột như thế… Bây giờ may sao lại được bám vào cành vàng lá ngọc. Thật là “thiên tải kỳ duyên”, “hang núi” mừng rỡ khôn xiết!
Chỉnh ở phủ ra, liền vào triều tâu với Hoàng thượng. Hoàng thượng bèn hạ chỉ dụ gả Ngọc Hân công chúa cho Bình.
Sau khi đã được quan triều báo tin cho biết, Bình bèn chọn ngày làm lễ thành hôn.
Mồng mười tháng ấy, Bình sắp hai trăm lạng vàng, hai nghìn lạng bạc, hai chục tấm đoạn, giàn bày gươm giáo cờ quạt, sai viên hình bộ thượng thư đưa các món đó và một tờ tâu vào điện Vạn thọ.
Hoàng thượng sai hoàng tử là Sùng nhượng công đón nhận lễ vật, đệ vào thái miếu làm lễ, định đến hôm sau đưa dâu. Rồi ngài truyền chỉ các vị hoàng thân, hoàng phi (7), công chúa và các quan văn võ ai nấy đều phải sắm sửa xe ngựa, sớm mai đợi ở cửa điện, để đưa Ngọc Hân công chúa ra phủ.
Sáng sớm hôm sau, Bình lại sai quan đệ một tờ tâu vào triều, xin cho làm lễ nghênh hôn; một mặt Bình đốc quân lính đứng sắp hàng ở hai bên đường, từ cửa điện đến cửa phủ. Trai gái trong kinh đi xem đông như nêm cối, ai nấy đều cho là việc ít có xưa nay. Khi xe công chúa đi tới cửa phủ, Bình tự ngồi kiệu rồng vàng ra đón, hết thảy các lễ đều theo đúng như lệ thường các nhà. Công chúa vào cung. Bình đặt tiệc ở ngoài để thết các vị hoàng thân, hoàng phi và các quan đi đưa dâu: Trên tiệc mọi người đều theo thứ tự mà ngồi. Tan tiệc, Bình sắp hai trăm lạng bạc, sai quan đưa ra ngỏ lời kính tặng các vị nhà gái và tiễn ra khỏi phủ. Các quan ra về, lại họp tại nhà công đường bộ Lễ, ai nấy đều khen nhà vua kén được giai tế, từ nay nước An-nam ta đã có một nước dâu gia.
Công chúa lúc đầu cũng hơi e thẹn, sau rồi cũng lấy làm yên. Bữa vào lễ yết các tiên hoàng đế ở nhà thái miếu, lúc đã lễ xong, công chúa và Bình dong (8) kiệu cùng đi về phủ. Bình vốn có tính kiêu căng, một hôm hỏi gặng công chúa:
- Con trai con gái nhà vua đã có mấy người được sướng như công chúa?
Công chúa đáp:
- Nhà vua ít lộc, con trai, con gái ai cũng thanh bạch nghèo khó. Riêng tôi có duyên lấy được ông lớn, cũng như hạt mưa bụi ngọc, bay ở giữa trời, được sa vào chốn lâu đài thế này, là sự may mắn của tôi mà thôi.

(1). Bình: Sách này chép tên Nguyễn Huệ là Bình. Lúc này Nguyễn Huệ đã đánh tan họ Trịnh vào kinh đô dùng danh nghĩa “tôn phù” đề cao vua Lê Hiển tông.
(2). Nguyễn Hữu Chỉnh trước là bộ hạ của quận Huy (xem chú thích Thượng Kinh ký sự), có tài văn võ, sau khi Huy bị tai nạn thì trốn vào Nam giúp Nguyễn Huệ, sau đưa đường cho Nguyễn Huệ ra đánh đất Bắc. Sau khi Nguyễn Huệ về Nam để Chỉnh trấn đất Nghệ An, Chỉnh giúp vua Lê diệt họ Trịnh vừa mọc lại, và chuyên quyền ở miền Bắc, Nguyễn Huệ phải sai tướng ra đánh giết. Có văn thơ trong tuyển tập này.
(3). Nước Nam: Nước vua Lê. Cho đến khi Nguyễn Huệ lên ngôi vua và đánh tan quân  Thanh thì người ta vẫn coi như là có hai nước, nước Nam với vua Lê, từ Thanh Hóa về Bắc, và nước Tây sơn với Thái Đức (Nguyễn Nhạc) từ Nghệ An về Nam, đô ở Qui Nhơn.
(4). Kiệm bạc: Có nếp sống tiết kiệm và giản dị, không có thói tiêu pha, mua sắm của quý.
(5). Thị giả: Quan thị, quan hoạn.
(6). Hang núi: Người ở trong hang núi, quê mùa mọi rợ (cách nói nhún).
(7). Hoàng phi: Vợ vua, dưới hoàng hậu, hoặc là vợ các vị tước vương.
            (8). Dong kiệu: Cho kiệu đi song song với nhau.
 
QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH
 
Nguyễn Hữu Chỉnh lộng quyền, Võ Văn Nhậm đem quân Tây Sơn ra đánh, Chỉnh chết, Lê Chiêu Thống chạy, mẹ Lê Chiêu Thống và các quan tòng vong xin được vua Thanh cho viện binh sang đánh giúp. Đạo binh viện gồm 20 vạn, do tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sỹ Nghị chỉ huy.
Tôn Sỹ Nghị(1) sau khi đề binh ra ải, luồn rừng, vượt suối như dẫm đồng bằng, ngày đi đêm nghỉ, không có sự gì ngăn trở, kéo thẳng một mạch đến thành Thăng Long, không bị mất một mũi tên nào, như vào chỗ không có người; từ xưa các nhà dụng binh chưa có ai được dễ dàng như thế. Bởi thế Nghị càng coi thường không chịu đề phòng và càng kiêu ngạo phóng tứ, mặc cho quân lính các đồn tự tiện bỏ cả đội ngũ, lang thang ra ngoài, không còn ước thúc(2) gì nữa. Có kẻ đi ra khỏi thành đến hơn mươi dặm để kiếm củi đun, có kẻ đi các chợ búa dân gian buôn bán, sớm đi tối về là thường. Tướng sĩ thì chỉ ngày ngày chơi bời ăn uống chẳng nhìn gì đến việc quân, hễ ai nhắc đến tình hình của giặc, thì họ đáp rằng: “Chúng nó chỉ như cá chậu chim lồng, sống sót ngày nào hay ngày ấy, không đáng nói đến. Theo quân lệnh của quan lớn đốc bộ, sang xuân, mồng sáu tháng giêng, mới kéo quân đi thẳng vào sào huyệt của Tây Sơn. Lúc đó, đảng giặc sẽ lần lượt làm tù, không còn đứa nào sổng vó. Bấy giờ người miền Nam Hà sẽ đến mà xem”.
Vì vậy người trong cả nước, cho đến các quan đã phải trốn tránh hồi xưa, mong được thấy bóng “thiên nhật”, ai nấy đều mừng về cuộc hội họp trước mắt, coi Tôn Sỹ Nghị là bức thành dài, không nghĩ gì đến cung khuyết bị tàn, cửa ngõ có giặc, quan văn quan võ một mực cô tức (3) như nhau.
Thình lình một cung nhân cũ ở Trường An (4) ra, nói với thái hậu rằng:
- Ngự giá về kinh thành đã gần một tháng. Thế mà hiệu lệnh nhà vua đưa ra, chẳng qua mới đến các vùng Ứng Hòa, Thường Tín, Từ Sơn, Thuận Thành, Quảng Oai năm lộ mà thôi.
Còn từ Trường An về Nam: Thanh Hóa là đất căn bản, lăng tẩm tiên triều ở đó, Nghệ An là quân chân tay, các quân cấm vệ đều bắt ở đấy, thì vẫn bị mất về giặc, tin tức không thông, đó là điều đáng lo lắm. Hiện nay, thế nước hư thực thế nào, thế giặc mạnh yếu ra sao, những kẻ đứng ngoài xem, ai cũng thấy rõ. Trước đây, Hoàng thượng gặp nạn phải chạy, các quan trèo đèo vượt suối vất vả, đã hơn một năm, bao nhiêu nhân tình, chắc đã từng trải hết. Sao vẫn điềm nhiên không nghĩ đến sự gì cả? Tôn tổng đốc ở thượng quốc, thế nước thế giặc, chẳng qua chỉ nghe đại khái. Đến như những đất yếu hại, đặt đồn nấp quân, cần có mưu mô; những việc công thủ, theo cơ ứng biến, xoay xở chỉ trong phút chốc, thì ngài đâu có hiểu được đích xác? Vả lại, khi trước Lê Quýnh khai cung ở Tầu, nói rằng: “Nước nhà nhiều nơi không chịu theo giặc, nhiều người còn biết chuộng nghĩa, nhân tâm có thể trông cậy, nếu được đại binh sang làm thanh viện (5) thì việc khôi phục có thể xong được”. Đó chỉ là lời nói chuyện để Tôn tổng đốc không cho việc ấy là khó. Quýnh vì muốn chóng được quân sang cứu, nên mới nói hão ra thế để dối ngài. Chẳng ngờ ngài cũng tưởng thế là thật, hăng hái kéo sang, không ngảnh cổ lại. Cứ xem những lời trong bài hịch, thì thấy ngài buộc cho ta nhiều lắm, mà ngài thì cứ lượn lờ trên sông, chỉ dùng thanh thế dọa nạt, không biết Nguyễn Huệ là bậc anh hùng lão thủ (6) hăng tợn và giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam, thật là thần xuất quỷ nhập, không ai có thể dò biết. Y bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Vũ Văn Nhâm như giết con lợn, không một người nào còn dám trông thẳng vào mặt. Nghe lệnh của y, ai cũng mất cả hồn vía, sợ hơn sấm sét. E rằng bất nhật y sẽ lại ra, quân Tôn tổng đốc còn có cái lo bên trong, địch sao cho nổi? Bọn đó chẳng qua chỉ là người khách, chuyến này sang đây cũng coi sự thế khó dễ để mà tiến lui. Nhưng còn nhà nước của ta thì sao? Thái hậu có thể chạy sang đất Tầu chuyến nữa được chăng?
Thái hậu tỏ vẻ bực tức và nói:
- Đó là tâm sự của gái già này còn đương ngày đêm lo nghĩ, mà chưa biết làm thế nào…!
Rồi Thái hậu đem những lời ấy nói với hoàng thượng, Hoàng thượng bấy giờ mới sợ, liền cùng bọn Quýnh đến dinh quân Nghị khẩn khoản xin Nghị ra quân. Nghị cho gọi Quýnh vào mắng:
- Nước mày quả thật không thể trông cậy! Ngày trước mày khai cung trạng ra sao? Dám lừa ta chăng?
Và Nghị ngoảnh lại bảo Hoàng thượng:
- Tự vương tuổi trẻ, chưa từng trải. Trước kia, khi ra đón chào ở Lạng Sơn, sao không nói rõ như thế? Để nhân khi thắng thế đánh nó trong lúc nguy khốn, há chẳng dễ dàng? Nay đã bỏ cơ hội đó, khiến nó đã được thong thả sửa sang các việc, bây giờ về cách trừ nó, cần phải tính cho vẹn toàn, không thể hấp tấp. Vả đã định sang xuân, mồng sáu, là ngày xuất sư (7) cũng không lâu nữa. Nếu muốn đi gấp, thì cho thầy trò nhà ngươi đem một đạo quân đi trước cũng được.
Hoàng thượng lui ra bảo Quýnh:
- Ngươi đã giốc lòng với nhà vua, các việc chắc đều nghĩ kỹ cả rồi. Vậy nên cố gắng cho trót, chớ để người nước có chỗ nói mình, thiên triều có chỗ trách mình.
Quýnh quê ở làng Đại Mão, huyện Siêu Loại, vốn là một tay phong lưu công tử, khi trẻ tuổi, chỉ biết uống rượu đánh bạc, văn sự võ bị đều ít luyện tập. Trước đây vì là con nhà quý phái, được vào làm kẻ gia thần nhà vua. Đến hồi Tây sơn kéo ra, kinh thành thất thủ, Hoàng thượng sai Quýnh đi hầu thái hậu chạy lên Cao Bằng. Nhân dịp quân giặc đuổi bắt, không thể không chạy sang Tầu. Quýnh cũng hơi biết chữ nghĩa, cho nên những lúc nói chuyện với người Tầu, thốt ra nhiều câu khoác lác. Sỹ Nghị không xét chỗ đó, liền đem lời Quýnh đệ tâu. May được vua Thanh ưng chuẩn, cả bọn lại được về nước nhà, Quýnh tự cho đó là công của mình. Sau khi đến thành Thăng Long, Quýnh liền ra sức báo ơn báo oán, ăn đút ăn lót.
Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại quân cả thủy lẫn bộ đồng thời ra đi. Ngày 29, đến trấn Nghệ An, nhà vua cho vời một người cống sĩ ở La Sơn tên là Nguyễn Thiếp(8) vào dinh và hỏi:
 - Quân Thanh sang đánh, nay tôi sắp ra chống cự. Về kế công thủ và số được thua tiên sinh cho là thế nào?
Thiếp nói:
- Bây giờ trong nước trống không, lòng người lìa tan, quân Thanh ở xa lại đây, sức mạnh sức yếu không biết, thế công thế thủ không hay. Chúa công đi ra chuyến này, chẳng qua mười ngày, giặc Thanh sẽ tan.
Vua Quang Trung mừng lắm, liền sai đại tướng là Hám Hổ hầu kén dân Nghệ An làm quân, cứ ba người thì lấy một người. Chỉ trong chốc lát, được hơn một vạn. Ngài bèn mở cuộc duyệt binh rất lớn ở dinh trấn, đem số thân quân Thuận Hóa, Quảng Nam chia làm bốn dinh tả, hữu, tiền, hậu, để số mới mộ ở Nghệ An làm đạo trung quân. Rồi ngài tự ra trước dinh, truyền lệnh quân sĩ hết thảy ngồi xuống và dụ:
- Quân Thanh sang lấn nước ta, hiện chúng đã đóng ở Thăng Long, các ngươi có biết hay không? Trong khoảng trời đất, “phận sao” đã có chia rõ, phương Nam phương Bắc, nước nào cai trị nước ấy. Người Trung Hoa không phải nòi giống nước ta, bụng họ ắt là khác hẳn. Từ đời nhà Hán đến nay, họ đã mấy phen chiếm cướp đất cát, giết hại nhân dân, vơ vét của cải của ta. Người nước không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Trong đời Hán có Trưng Nữ vương, trong đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, trong đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, trong đời Minh có đức Thái tổ hoàng đế nhà Lê, các ngài không nỡ ngồi mà nhìn chúng làm tàn làm bạo, phải theo lòng người mà dấy quân nghĩa, chỉ đánh một trận, liền thắng được chúng và trục được chúng về Trung Quốc. Ở những đời ấy, Nam Bắc tự lập, bờ cõi yên tĩnh, truyền ngôi lâu dài, từ đời nhà Đinh mà đi, ta không phải khổ như hồi nội thuộc ngày trước. Như thế là lợi hay hại, là được hay hỏng, đều là việc cũ tiên triều, hãy còn rành rành ra đó. Ngày nay quân Thanh lại sang, định lấy nước ta đặt làm đất quận huyện của chúng, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên và Minh ngày xưa. Vì vậy, ta phải kéo quân ra đuổi. Các người đều đủ lương tri lương năng, nên phải giốc lòng hết sức với ta, để dựng công lớn, chớ có quen giữ thói cũ, mang lòng “nhị tâm”. Nếu như phát giác, ta sẽ tức khắc giết hết, không tha cho một người nào! Đừng trách ta không bảo trước!
Quân sĩ răm rắp vâng lệnh. Hôm sau, nhà vua hạ lệnh trẩy quân, đội nào đội ấy, nghiêm chỉnh lên đường. Khi ra đến núi Tam Điệp, Sở, Lân vác gươm lên vái, xin chịu tội. Vua Quang Trung nói:
- Các ngươi đem thân đi theo việc binh, đã lên đến ngôi tướng súy. Giao cho tất cả đất mười một “tuyên”(9), lại cho tiện nghi làm việc. Giặc đến chưa từng đánh một trận nào, mới nghe thấy tiếng đã chạy. Binh pháp nói rằng: “Quân thua chém tướng”, tội của các ngươi đều là kiện tướng, tự nhiên gặp giặc là đánh, chỉ có đến lúc lâm cơ ứng biến, thì không đủ tài. Trước kia ta phải để Ngô Thì Nhậm ở lại, cộng sự với các ngươi, chính là lo sẵn chỗ đó. Bắc Hà mới yên, lòng người chưa chịu quy phục; Thăng Long lại là một thành trống trải, có thể bị đánh bốn mặt, sông núi không có chỗ nào khả dĩ nương tựa. Năm trước ta ra tới đó, chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi. Đó là chứng nghiệm. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, người nào cũng làm nội ứng cho chúng, thì phỏng các ngươi nhắc tay nhắc chân sao được? Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiến cho lòng quân kích thích (10) ,ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng, đó là một kế rất hay. Khi mới nghe nói ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ trương. Lúc hỏi Văn Tuyết quả đúng như vậy.
Thì Nhậm lạy tạ hai lạy, vua Quang Trung nói:
- Nay ta tự ra coi đốc tướng sĩ, phương lược tiến đánh, đã tính sẵn rồi. Chẳng qua mươi ngày có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ nó là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị  thua một trận, ất lấy làm thẹn mà cố báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, thật không phải phúc cho dân. Lòng ta không nỡ làm vậy. Tới lúc đó, chỉ có một cách nói cho thật khéo, thì mới ngăn được cái ngòi chiến tranh. Việc ấy phi Ngô thì Nhậm không ai làm nổi. Đợi mười năm nữa, ta đủ thì giờ gây nước giàu quân mạnh, thì ta có sợ gì nó?
Sở, Lân đều lạy và nói:
- Chúa thượng thật là lo xa, chúng tôi ngu đần không thể nghĩ tới chỗ đó. Hiện nay phương lược tiến đánh ra sao, dám xin Chúa thượng chỉ bảo, để chúng tôi tuân lệnh mà làm.
Vua Quang Trung liền cho mở tiệc khao quân rồi chia đại quân ra làm năm đạo. Hôm ấy nhằm ngày 30 tháng chạp, ngài bảo ngầm với các tướng rằng:
- Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng tết trước đã. Đến tối trừ tịch (11) lên đường. Hẹn ngày mồng bảy năm mới vào thành Thăng Long, đặc tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, chớ cho là ta nói hão!
Rồi ngài truyền lệnh trong quân như sau:
Thuộc ngự doanh sai phái đại tư mã Sở và nội hầu Lân đốc suất tiền quân làm tiên phong. Hám Hổ hầu đốc làm đốc chiến. Đại đò đốc Lộc và đô đốc Tuyết suất tả quân và đạo thủy sư vượt bể vào sông Lục Đầu; Tuyết phải kinh lược vùng Hải Dương làm đạo tiếp ứng đằng đông, Lộc phải đi gấp lên thẳng các hạt Lạng Sơn, Phượng Nhỡn, Yên Thế để chặn đường về phía Bắc của quân Thanh. Thái sư Bảo và Đô đốc Long đốc suất hữu quân và đội tượng mã xuyên ra Chương Đức vòng lên làng Nhân Mục trong huyện Thanh Trì, đánh ngang vào đồn quân Điền Châu. Bảo lại thống đốc voi ngựa theo đường Sơn Minh ra làng Đại Áng trong huyện Thanh Trì, làm đạo tiếp cứu cánh hữu.
Ngũ quân vái lạy vâng lệnh. Luôn bữa đó, ngài đốc trung quân gióng trống ra Bắc.
Khi qua sông Gián, viên tướng coi toán nghĩa quân(12) ở đó tan vỡ chạy trược. Lúc đến sông Thanh Quyết, quân Thanh đóng đồn ở đấy cũng đều trông bóng chạy nốt. Vua Quang Trung thúc quân đuổi theo. Tới huyện Phú Xuyên, bắt sống được hết, không còn tên nào trốn thoát. Bởi vậy, không có tin báo, những đạo quân Thanh đóng ở Hạ Hồi và Ngọc Hồi đều không hay biết gì cả.
Mồng ba tháng giêng năm Kỷ dậu, vào khoảng nửa đêm, vua Quang Trung tới làng Hạ Hồi thuộc huyện Thượng Phúc, ngài bèn im lặng cho quân vây kín làng ấy, rồi sai bắc loa truyền gọi. Quân lính các mặt đều dạ răm rắp, tưởng như có mấy vạn người. Trong đồn lúc ấy mới biết. Ai nấy sợ hãi cuống quít tranh nhau ra hàng, lương thực khí giới đều bị quân Nam lấy hết, Vua Quang Trung truyền lấy sáu chục tấm ván, ghép liền ba tấm làm một bức, tất cả là hai chục bức, dùng rơm dấp nước bện vào, rồi kén hạng lính khỏe tợn, giao cho mười người phải khiêng một bức, mỗi người đều vác một thanh đoản đao, mỗi bức lại có hai chục người nữa cầm các binh khí đi theo.
Toán quân này dàn hàng chữ “nhất” tiến thẳng lên trước, vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng năm xông thắng vào đồn Ngọc Hồi.
Quân Thanh trong đồn chĩa súng bắn ra, chẳng tin một người nào hết. Nhân có gió bắc vừa nổi, chúng bèn dóng nhiều hỏa đồng(13) bắn tên lửa ra. Lửa cháy khói bốc mù mịt, cách nhau gang tấc không thấy gì. Bản ý quân Thanh muốn làm cho quân Nam rối loạn, chẳng ngờ chỉ trong giây lát, trời bỗng quay sang gió nam, ngọn lửa tạt lại, thành ra quân Thanh lại tự đốt mình.
Vua Quang Trung tức thì sai đội khiêng ván chạy kíp vào trận, khi giáp lá cà, thì quăng tấm ván xuống đất, và dùng đoản đao chém bừa, rồi thì những người có cầm binh khi đi sau nhất tề nhảy xổ lên đánh.
Quân Thanh không thể địch nổi, luống cuống chạy trốn, dày xéo lên nhau mà chết.
Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống trấn thủ đồn ấy, phải thắt cổ chết. Quân Nam thừa thế đánh tràn, giết được quân Thanh, thây nằm khắp đồng, máu chảy thành suối. Những kẻ sống sót, tất tả tìm đường chạy về.
Trước đó, vua Quang Trung đã có sai một toán quân theo đê Yên Ninh kéo lên, mở cờ đánh trống để làm nghi binh đằng đông.
Khi ấy quân Thanh chạy qua, thấy có cờ trống thì đều hoảng sợ, bèn tìm lối tắt theo đường Vịnh Kiều đi lên. Thình lình lại thấy một đạo tượng binh ở làng Đại Áng kéo sang, chúng đều không còn hồn vía, chạy cả về xứ Đầm Mực trong làng Quỳnh Đô, quân Nam thúc voi đuổi theo, dày chết kể hàng vạn người.
Hôm ấy đô đốc Long vâng mệnh vau Quang Trung đem toán quân lên huyện Thanh Trì đã đi đến làng Nhân Mục. Khi vua Quang Trung đánh toán quân Thanh ở làng Ngọc Hồi, thì từ sáng sớm, Long đã đánh vào đội quân của thái thú Chấn Châu ở trại Quảng Đức Khương Thượng. Quân Thanh thua chạy. Long bèn tiến quân vào Thăng Long.
Lúc ấy Tôn Sỹ Nghị và vua Chiêu Thống ở trong kinh thành, tuyệt nhiên không có tin tức báo đến. Vì vậy, trong mấy ngày Tết ai nấy chỉ mải về sự ăn uống vui mừng không lo đến việc gì cả. Nào hay cuộc vui chưa tàn, vận trời đã đổi, trong ngày mồng bốn chợt thấy bại binh ở đồng Ngọc Hồi chạy về cáo cấp, mọi người đều tưởng như “tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên”. Toán bại binh đó lại nói thêm rằng: “Quan quân ở đồng Ngọc hồi đều bị quân Tây đánh úp bắt gọn. Đây cách Ngọc Hồi không xa, sớm chiều chắc sẽ bị đánh”. Sĩ Nghị luống cuống cả sợ, tức khắc sai viên lãnh binh Nghiệp đến cứu. Lại sai hai mươi kỵ sĩ bộ hạ cùng đi với Nghiệp, và dặn họ rằng: trong khoảng giờ khắc phải có tin về báo luôn. Ý Nghị chỉ lo có một mặt đó, không ngờ lại có mặt khác.
Đêm ấy vào khoảng canh tư, chợt nghe phía tây bắc thành, tiếng súng nổi lên đùng đùng. Nghị vội cưỡi ngựa ra coi…Thấy báo đồn quân Chấn Châu đã vỡ, quân Tây đã kéo vào đến cửa ô, chém giết bừa bãi, ánh lửa bốc lên rực trời, thì Nghị không còn hồn vía nào nữa. Ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp. Nghị tự đem toán lính kỵ dưới trướng cắm cổ chạy xuống cầu phao rồi trốn sang Bắc. Quân sĩ các dinh nghe tin, hết thảy kinh khiếp, nhốn nháo cùng chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, người nọ xô đẩy người kia, chết ở trên cạn đã nhiều. Giây lát cầu gẫy, hàng mấy vạn người lăn xả xuống nước, nước sông không chảy được nữa.
Vua Chiều Thống đương ở trong điện, tiếp được tin báo, ngài kíp cùng bọn Lê Quýnh, Trịnh Hiến rước Thái hậu chạy. Ra đến bến sông, thấy cầu đã gẫy, thuyền bè không có chiếc nào, cả bọn tất tả chạy lên Nghi Tàm, thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá, vội vàng cướp lấy rồi chèo sang bờ bên kia. Trưa ngày mồng sáu, vua Chiêu Thống đến núi Tam Tầng nghe nói Sỹ Nghị đã đi khỏi đó. Bấy giờ quân Thanh chạy ở trên đường đông như họp chợ, chúng chạy suốt ngày suốt đêm không dám nghỉ ngơi lúc nào. Vua và Thái hậu cùng đi, đến đò Hòa Lạc, vừa gặp một người thổ hào. Hồi trước ngài chạy trốn, người ấy đã được giáp mặt, lúc đó thấy ngài, người ấy tự nhiên nhỏ lệ, bèn mời ngài và thái hậu vào trại trong núi nghỉ tạm.
Bấy giờ vua và mọi người luôn hai ngày không ăn uống gì, ai nấy đều mệt lử. Người ấy bèn đi giết gà làm cơm, thết đãi. Vua mời Thái hậu và bảo bọn Quýnh cùng ăn.
Ăn vừa xong, quân Tây Sơn đã đuổi đến. Vua nói với người thổ hào rằng:
- Muốn đội hậu tình, không có gì để báo đáp, chỉ cần hai đấng cao dầy chứng giám lòng thành của ngươi, ban phúc cho ngươi mà thôi. Bây giờ quân giặc đã sắp đến nơi, có đường nào khả dĩ chạy gấp lên ải, thì ngươi mách giúp.
Người thổ hào tức thì sai con đưa ngài đi vào con đường trong núi. Vừa tối thì đến cửa ải. Sỹ Nghị cũng đã đóng quân ở đó, ngài bèn vào ra mắt Nghị. Một lát, các quan lục tục theo đến, ai nấy trông nhau, nước mắt chứa chan, Sỹ Nghị cũng phải xấu hổ. Vua nhân tiện liền nói với Nghị:
- Cô(14) đã bất tài, đến nỗi mất cả xã tắc. May được thượng hiến vâng theo thánh chỉ sang cứu. Không ngờ lòng trời không giúp nước nhỏ, nay ngài lại bỏ mà đi. Cúi xin chúc ngài về triều được chữ vạn phúc. Cô đành ở lại đất nước thu thập dân binh, để tính chuyến sau. Xa nhờ oai thanh, may được nên việc, đều là ơn của thượng hiến. Nếu như việc lại không thành, bấy giờ sẽ xin sang hầu đại hiến. Như thế cho tiện.
Nghị nói:
- Nguyễn Quang Huệ chưa diệt, việc này chưa thôi. Nay hãy dâng biểu về triều xin quân, chỉ trong một tháng, đại quân sẽ lại tới đây. Chỗ này gần gũi đảng giặc, ở lại không tiện, nên tạm sang bên Nam Ninh yên nghỉ để đợi thánh chỉ là phải.
Vua Chiêu Thống theo lời.
Nghị bèn cùng bọn tướng tá thu nhặt tàn quân rút về.

(1). Tôn Sỹ Nghị: Tổng đốc Quảng Đông và Quảng Tây, được vua Kiền Long tín nhiệm giao cho kinh lý các việc ở biên giới phương Nam. Tôn Sỹ Nghị có tham vọng lập vũ công hiển hách và mở mang đất đai cho vua nhà Thanh, cho nên khi có cơ hội thì đã kéo dốc hai mươi vạn tinh binh bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quí Châu sang định thôn tính nước ta, dưới danh nghĩa giúp vua Lê phục quốc.
(2). Không ước thúc: Không có kỷ luật và sự quản chế nào.
(3). Cô tức: làm việc dối trá qua chuyện, không tính chuyện lâu dài.
(4). Trường An: Kinh đô nhà Hán, về sau chữ Trường An được dùng như một danh từ chung để chỉ chốn đế đô.
(5). Thanh viện: Viện trợ bằng cái tiếng vang, bằng tinh thần.
(6). Lão thủ: Tay già dặn, từng trải.
(7). Xuất sư: Cất quân lên đường, ra binh.
(8). Nguyễn Thiếp: Tức La Sơn phu tử, có văn thơ trong tuyển tập này.
(9). Tuyên: Một khu vực cai trị, cũng như danh từ trấn.
(10). Lòng quân kích thích: Quân chưa được đánh mà phải rút lui thường thường hậm hực muốn thử tài với giặc.
(11). Trừ tịch: Đêm cuối năm (30 tết)
(12). Nghĩa quân: Đây là quân do vua quan nhà Lê tuyển mộ được trong dân gian.
(13). Hỏa đồng : Ống lớn bằng đồng, để bắn hỏa pháo ra đốt đối phương. Tuyên truyền người Trung Hoa đã biết dùng súng và thuốc súng trong chiến tranh từ đời Tam Quốc. Thời Trịnh, Nguyễn phân tranh, ở Trung Hoa cũng như ở triều chúa Nguyễn, chúa Trịnh lại có những cố vấn người Âu bày vẽ cách đánh bằng súng, bằng chất nổ.
(14). Cô: Tiếng vua tự xưng một cách nhún nhường.
 

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc