Home » Tin tức » Xứ Đoài văn

NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

MONday - 27/10/2014 12:13
Bìa tập "Xứ Đoài Văn"

Bìa tập "Xứ Đoài Văn"

NGUYỄN THƯỢNG HIỀN (1868 - 1925) Nguyễn Thượng Hiền tên tự Đình Thần, sau khi xuất dương đổi là Đỉnh Nam, hiệu Mai Sơn. Người xã Liên Bạt, huyện Sơn Lãng (nay là Ứng Hòa) tỉnh Hà Tây. Năm hai mươi lăm tuổi, ông đỗ Hoàng giáp nhưng không chịu ra làm quan với triều đình Đồng Khánh, về ở ẩn tại vùng Thanh Hóa. Sau đó, ông bị gọi ra nhận chức Toản tu quốc sử, rồi Đốc học Nam Định. Nhưng đến năm 1907, sau khi bố chết, ông bỏ quan xuất dương dấn thân vào phong trào Đông du. Tác phẩm gồm: Hạc thư ngâm biên, Hát Đông thư dị, Nam Chi tập, Mai Sơn hợp toản thi thập, Mai Sơn ngâm thảo và nhiều thơ văn tuyên truyền cho phong trào yêu nước cách mạng đầu thế kỷ XX.
 
 
ĐIỆN LONG VƯƠNG(1)
 
Ở xã Nam Hoa, huyện Thanh Đàm có một người thợ mộc vốn rất tài hoa. Ông ta có thể đóng được những đồ dùng hết sức tinh xảo. Người đương thời cho rằng ông có con mắt của ông Ban, ông Lũ(2) 
Một hôm trong lúc đang ngồi một mình, ông bỗng thấy hai người áo xanh đi đến trước mặt và nói:
- Đại vương có lệnh triệu ông tới.
Người thợ mộc lấy làm lạ, viện cớ chối từ.
Người áo xanh đe:
- Nếu ông không đi, sau này sẽ gặp tai họa đấy. Vả lại, xong việc thì về, có tổn hại gì đâu mà ngại.
Người thợ đành đi theo họ ngay. Lúc đến bên bờ một con sông, họ cắp ông nhảy xuống nước. Sóng nước liền rẽ ra mở đường. Đi được vài dặm thì thấy thành quách cung điện dưới nước đều lợp bằng ngói đỏ. Các vị quan lại rùa, ba ba đứng đông như rừng trước cửa điện. Người thợ mộc bước vào bái lạy. Nhà vua đội mũ miện ngồi chính giữa, ban rượu cho uống, sau đó ra lệnh cho ông sửa sang lại chính điện và các cung thất của thái tử, vương phi. Ba năm xong việc, nhà vua ban cho ông một chiếc hòm, gói ghém kỹ lưỡng, rồi cho đưa ông trở về và dặn phải giữ kín mọi chuyện. Người áo xanh ngày trước lại đưa ông về tới nhà, rồi chỉ trong nháy mắt đã không thấy anh ta đâu nữa. Gia nhân thấy người thợ mộc mất tích đã lâu, nay đột ngột trở về liền thi nhau hỏi han nguyên cớ, song ông tuyệt không kể gì. Khi mở hòm ra xem thì thấy trong đó có hàng ngàn hạt ngọc châu; chọn ra đem bán được năm trăm quan tiền một hạt. Từ đó, nhà ông trở nên rất giàu có.
Năm bảy mươi lăm tuổi, vào lúc bệnh tình nguy kịch, ông gọi vợ con tới kể cho nghe câu chuyện kỳ lạ của mình. Nói xong ông mất. Những hạt ngọc châu còn lại cũng tự nhiên biến mất cả.
Đặng Thị Hảo dịch
 
 
 
NGƯỜI ĐẦY TỚ CỦA HỔ(3)
 
Một nhà nọ ở Thanh Hóa nghèo túng, phải làm nghề bán nồi đất, thường qua lại giữa hai trấn Thanh Hóa và Ninh Bình. Một hôm tới Điệp Sơn thì lạc lối. Trời đã tối, không có nơi nào nghỉ trọ, bèn men theo núi đi về hướng Tây, khoảng canh hai, thấy một ông già dựa vào gốc thông mà đứng dưới ánh trăng, râu tóc bạc phơ. Người hàng nồi bước tới hỏi thăm đường, ông già bảo:
- Bác vào quá sâu trong rừng núi, ở đây chẳng có làng xóm nào. Nhà lão không xa, đến nghỉ ở nhà lão, được không?
Người hàng nồi mừng rỡ cảm tạ, theo ông già mà đi. Cây cối cao lút người, dường như chưa ai đặt chân đến. Người ấy sợ lắm, răng va lập cập. Ông già giơ tay trỏ trước mặt bảo:
- Tới nơi rồi.
Khom lưng bước vào thấy nhà rất tối, chỉ là một cái hang, bẻ cành thông lấy nhựa đốt lên cho sáng. Ông già bảo:
- Thức ăn chợt hết cả, chỉ còn một đùi nai, khách có đủ no không?
Bèn nướng mà đưa lên. Người hàng nồi đang đói, chẳng kịp kén chọn. Ăn xong anh ta ngả lưng trên ổ mà ngủ. Giữa đêm lạnh quá, thấy có người lấy áo đắp cho rồi lại ngủ thiếp đi. Trời sáng anh ta trở dậy nghe tiếng ngáy như sấm, ngó sang bên thấy con hổ nằm đó, sợ quá bỏ chạy.
Hổ thức giấc gọi bảo rằng:
- Hãy nhìn thân mình xem sao!
Anh ta nhìn lại mình thì đuôi vằn, răng nhọn như răng cưa, thì ra đã hóa hổ. Thấy bụng đói meo, hổ vẫy lại bảo:
- Theo ta ắt có ăn.
Anh ta tự nghĩ mình đã hóa hổ thì còn sợ gì nữa, bèn đi theo. Đi chừng nửa dặm có con thỏ chạy ra trước mặt, hổ vọt lên vồ lấy cho anh ta một nửa nướng lên ăn. Từ đấy hổ dạy cách vồ, cách núp, săn đuổi, ngày ngày lấy làm thường. Lâu dần hổ sai anh ta:
- Hằng ngày kiếm lấy mấy con thú cho ta ăn, không theo lệnh thì nanh vuốt của ta sẽ cho mà biết.
Anh ta kính cẩn vâng lời, đi khắp bốn phía tìm kiếm, nhưng hễ thấy người thì tránh. Kiếm được con mồi nào lại dâng lên, thừa mới đến phần mình. Hổ nằm thong dong trong hang bắt anh phải nuôi, chẳng khác nào chủ tớ. Một hôm anh ta đi tìm mồi, đến một đỉnh núi kia thấy đá cổ bên chùa lẩn giữa lùm cây, dường như đã từng qua lại chốn này, nhìn kỹ, thì ra quả núi đằng sau làng mình, bèn nhanh chân tìm về. Gặp một người họ hàng trên đường bèn gọi rồi đến gần. Người làng bỏ chạy, kêu ầm lên: "Hổ, hổ", mọi người trong làng khua trống, thanh la đánh đuổi. Anh ta bỏ chạy lên núi nằm phục, tới nửa đêm mới theo đường tìm về tới nhà, núp náu nhìn qua khe cửa sổ, thấy vợ đang bế con, mặc áo tang khóc trước bàn thờ. Anh ta tự nghĩ mình đã thành giống khác, bất giác rơi nước mắt, nằm cuộn tròn. Sáng ra lại lên núi, tâm trí bàng hoàng không còn lòng dạ nào đi kiếm mồi nữa. Đến lúc gặp chúa hổ không có gì nộp. Hổ cả giận túm lấy nói:
- Thằng đầy tớ dám để ông đói à?
Bèn chồm đến chộp lấy áo, áo rách toạc, người hàng nồi thoát ra được bỏ chạy, nhìn lại mình, kinh ngạc thấy mặt mũi như xưa. Loanh quanh tìm về, vợ sợ hãi nói:
- Anh đi đâu mất đến hơn năm trời nay!
Người làng kéo đến vây quanh. Người hàng nồi kể lại nguyên do, lại bảo:
- Tôi còn để nồi đất ở bên bờ suối ngày nọ, không tin xin cứ đến đấy lấy về.
Người làng theo lời tìm thấy nồi, lau cỏ đã mọc tràn cả lên trên. anh hàng nồi thường kể khi làm hổ thì lúc ăn lúc ngủ đều giống như hổ, chỉ tâm địa không phải là loài thú mà thôi. Sau, nhà anh ta cũng không xảy ra chuyện gì khác.
Phạm Tú Châu dịch
 
 
 
 
 
 
 
THƯỢNG THƯ BÁN CAM(4)
 
Ông Mỗ ở huyện Thanh Trì thuở nhỏ nhà nghèo phải đi bán cam kiếm sống. Nhà có mấy miệng ăn đều trông vào nghề bán cam cả. Tính tình ông rất rộng rãi.
Một hôm trên đường đi chợ, gặp một cụ già, cụ nhìn ông cười và bảo:
- Quả ngon như thế có thể cho lão một trái được không?
Mỗ lập tức nghiêng giỏ quỳ biếu ông. Ông già bóc hết cả cam nhưng chỉ ăn có một quả. Thấy thế Mỗ hỏi:
- Sao cụ không ăn no đi?
Ông lão vỗ bụng đáp:
- No rồi, anh là người có đức. Ta cũng biết chút ít thuật chim xanh có thể giúp người trở nên phú quý. Anh hãy nói điều mong ước của mình, ta sẽ làm cho anh đạt được điều đó.
Mỗ đáp:
- Con từ nhỏ không được học hành. Con nhớ trong làng có một người được gọi là Thượng thư, có nhà đẹp, ruộng tốt, đi đâu cũng có ngựa đi hầu, con chỉ mong có thế cũng đủ mãn nguyện lắm rồi.
Ông lão bèn cho đào mộ của cha Mỗ dời đến một nơi khác, rồi nói:
- Anh hãy bỏ nghề, lên làm thuê ở kinh đô. Đến giờ ấy, ngày ấy, tháng ấy thì đứng ở bờ hồ nơi ngoài mé cửa Đông, khi nào trông thấy một người đội mũ vàng, mặc áo thêu thì cõng mà chạy. Nếu làm theo lời ta, anh sẽ được toại nguyện.
Mỗ nghe lời, lên kinh đô làm nghề gánh nước thuê ở bên hồ. Đến một ngày, phủ chúa Trịnh bị đốt cháy, nhà chúa một thân một mình chạy ra, nhìn thấy Mỗ, gọi:
- Lại đây! Lại đây! Đưa ta đến cái lầu cao ở trong hồ kia, ta sẽ cho ngươi làm quan.
Mỗ xin chức Thượng thư, chúa gật đầu. Chốc sau, lửa được dập tắt, bách quan mang xa giá đến đón chúa về. Mỗ lạy đi lạy lại và tâu:
- Lời hứa lúc nãy, chúa đã quên rồi sao?
Chúa bèn phong cho Mỗ hàm Thượng thư, lại ban cho thái ấp, lập dinh cơ tại quê hương.
Đặng Thị Hảo dịch
(Rút từ Hát Đông thư dị) 

[1] (1) Nguyên văn: Long vương điện.
(2) Ông Ban: tức Công Thâu Ban, người nước Lỗ, sách Mặc Tử chép ông là người rất giỏi về nghề mộc và về kỹ xảo, binh pháp.
Ông Lũ: có lẽ do chữ Lỗ viết nhầm. Lỗ Ban cũng là một người xảo diệu thời cổ. Có người cho Lỗ Ban và Công Thâu Ban là một.
(3) Nguyên văn: Hổ bộc.
(4) Nguyên văn: Mại cam Thượng thư.
Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Newer articles

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc