Home » Tin tức » Xứ Đoài thơ

NGUYỄN NHƯ ĐỔ (1424 – 1525)

SUNday - 17/12/2017 23:18
Ông tên chữ là Mạnh An, hiệu Khiêm Trai, nguyên quán xã Đại Lan huyện Thanh Đàm - nay là thôn Đại Lan xã Duyên Hà huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội. Trú quán tại Tử Dương huyện Thượng Phúc - nay là thôn Tử Dương xã Tô Hiệu huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây. Bác của Nguyễn Như Huân, chú của Nguyễn Như Huệ. 19 tuổi đỗ Hội nguyên, Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời Lê Thái Tông. Ba lần được cử đi sứ sang nhà Minh (1443; 1450; 1459). Làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, hàm Thiếu bảo. Được về trí sĩ, thọ 102 tuổi. Tác phẩm hiện còn 6 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.


Nguyên tác:

 
THANH MINH HẬU, TẶNG CHUYỂN VẬN SỨ 
TRÌNH VĂN HUY, KIÊM TẤN VẤN
TRÀNG AN GIÁO THỤ NGUYỄN TỬ TẤN
 
 Đăng vân cộng hỷ ngộ minh thì,
 Vô nại niên lai khổ biệt ly.
 Tiết tự lũ kinh tân tuế nguyệt,
 Giao tình bất cải cựu khâm kỳ.
 Nhất quan quý ngã nhàn vô bổ,
 Bách lý ta quân phụ hữu vi
 Tá vấn Tràng An hiền quận giáo,
 Ninh vô thư tín ký tương tư.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Dịch nghĩa
 
SAU TIẾT THANH MINH, TẶNG QUAN CHUYỂN VẬN SỨ TRÌNH VĂN HUY VÀ HỎI THĂM QUAN GIÁO THỤ XỨ TRÀNG AN NGUYỄN TỬ TẤN (1)
 
Lên mây cùng nhau mừng gặp thời minh thịnh,
Khổ nỗi mấy năm nay ly biệt xa nhau.
Thời tiết mới đã nhiều lần đổi thay,
Mối tình xưa vẫn không gì lay chuyển.
Thẹn phận ta giữ một chức quan không gì bổ ích,
Tiếc cho ngươi trong lòng trăm dặm(2) uổng phụ tài năng.
Hỏi thăm nhà hiền Quận giáo ở xứ Tràng An,
Lẽ nào không có thư tín tả nỗi tương tư.
 

 
  1
 

 (1) Nguyễn Tử Tấn: Tức là Lý Tử Tấn, vì tổ nhà Trần, tên là Lý, cho nên phải đổi Lý ra Nguyễn, sau đến triều Lê mới đổi lại Lý.
(2) Trăm dặm: Chữ Hán là “bách lý”, chỉ phỏng chừng diện tích một huyện. Sách Hậu Hán thư có câu: “Bách lý khởi đại hiền chi lộ” nghĩa là: “Đường đất trăm dặm há phải là chỗ trổ tài của người đại hiền”.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Dịch thơ:
 
Gặp gỡ mừng vui hội gió mây,
Đau lòng ly biệt mấy năm nay.
Lần lữa tháng ngày qua với lại,
Khăng khít tình xưa chẳng đổi thay.
Thẹn tớ một quan không bổ lợi,
Tiếc người trăm dặm phụ tài hay.
Tràng An muốn nhắn thăm nhà giáo,
Tưởng nhớ tin thư chẳng tới đây.
 
                                    Nhóm LÊ QUÝ ĐÔN
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyên tác:
 
THÀNH NAM VIÊN CƯ
 
 Thành nam bốc trúc kỷ kinh xuân,
 Dược phố sơ huề thủ thứ tân.
 Tiểu kính bất hiềm không tử mạch,
 Đoản ly khước kỷ cách hồng trần
 Trì đường vũ quá oa thanh náo,
 Đình viện âm nùng điểu ngữ tần.
 Hoa trúc khả cung u đạm hứng,
 Triều hồi nhật nhật lạc vong bần.
 
 
Dịch nghĩa:
 
VƯỜN Ở PHÍA NAM THÀNH
 
Dựng nhà ở phía nam thành trải mấy mùa xuân,
Vườn thuốc, đất rau, lần lượt mở mang mới.
Lối hẻm không ngại liền với đường tía(1),
Giậu thấp nhưng mừng xa cách bụi hồng(2).
Ao hồ mưa tạnh, ếch kêu vang tai,
Sân nhà bóng mát, chim hót luôn tiếng.
Hoa trúc sẵn đủ hứng thú thanh đạm,
Mỗi buổi ở triều về vui vẻ quên cảnh bần hàn.
 
Dịch thơ:
 
Nhà dựng nam thành trải mấy xuân,
Đám rau vườn thuốc mở mang dần.
Chẳng e lối hẻm liền đường tía,
Lại được rào thưa cách bụi trần.
Mưa tạnh ếch kêu hồ rộn tiếng,
Cây râm chim hót bóng đầy sân.
Trúc hoa sẵn đủ mùi thanh đạm,
Ngày tháng yên vui hưởng thú bần.
 
                                                    Nhóm LÊ QUÝ ĐÔN
 

 
  1
 

 (1) Đường tía: Chữ Hán là “tử mạch”, tức là các con đường trong kinh đô.
(2) Bụi hồng: Chữ Hán là “Hồng trần”, nói về chỗ phồn hoa náo nhiệt. Mạnh Hạo Nhiên trong bài thơ Lạc Dương có câu “Tẩu mã nhập hồng trần”, nghĩa là: “Chạy ngựa vào chốn bụi hồng”.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyên tác:
 
 THƯ TRAI XUÂN MỘ
 
 Thành nam xuân dĩ (1) mộ
 Mao ốc yểm sài quynh.
 Thế bạn đài ngân lục,
 Đình tiền thảo sắc thanh.
 Điểu đề hoa tự lạc,
 Khách chí mộng sơ tinh.
 Tận nhật nhà vô sự,
 Nghiêm châu điểm Dịch Kinh (2).
 
 
Dịch nghĩa:
 
PHÒNG VĂN LÚC CUỐI XUÂN
 
Phía nam thành xuân đã muộn,
Nhà tranh, cửa sài đóng kín.
Bờ thềm, ngấn rêu biếc,
Trước sân màu cỏ xanh.
Chim hót, hoa tự rụng,
Khách đến, mộng vừa tình giấc.
Suốt ngày nhàn rỗi không có việc gì.
Mài son chấm câu trong Kinh Dịch.
 
                                                    Nhóm biên soạn 
 
Dịch thơ:
 
 Phía nam thành xuân muộn,
 Nhà tranh ván sơ sài.
 Rêu biếc thềm phủ khắp,
 Cỏ xanh sân mọc đầy.
 Khách đến, vừa tỉnh mộng,
 Chim kêu, hoa đang rơi.
 Thong thả qua ngày tháng,
 Kinh Dịch chấm son mai.
 
                                                   Nhóm Lê Quý Đôn
 1
Theo Hoàng Việt thi tuyển là chữ sắc.
Theo lối điểm sách thời xưa, người ta dùng bút chấm son để phê bình sách, thí dụ đây là quyển Kinh Dịch, rất hay thì khuyên tròn, hay vừa thì chấm liền mấy cái, không hay thì bỏ trắng (Nhóm Lê Quý Đôn chú).
 

Total notes of this article: 0 in 0 rating
Click on stars to rate this article
Comment addYour comments
Anti-spam codeRefresh

Older articles

 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc