BÀI CHẾ CỦA VUA TỰ ĐỨC TRUY NIỆM HỒ BÁ ÔN

Hồ Bá Ôn là ông nội của Hồ Tùng Mậu, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An đỗ Phó bảng khoa Ất Hợi (1875) triều Tự Đức, làm Án sát sứ tỉnh Nam định.
Ngôi nhà của Hồ Bá Ôn
Khi giặc Pháp tấn công Nam định, Hồ Bá Ôn đem quân ra ngoài thành nghênh chiến và đã hy sinh vào ngày 7 tháng 5 năm 1883. Triều đình truy phong ông là Hàn lâm viện Thị Giảng học sĩ, gia tặng Quang lộc tự khanh, và được thờ ở đền Trung Nghĩa.
Hiện nay, tại phòng truyền thống ở Quỳnh Đôi còn giữ được bài chế của vua Tự Đức truy niệm Hồ Bá Ôn. Xét thấy đây là một tư liệu qúy, giúp vào việc nghiên cứu Hồ Bá Ôn, chúng tôi tiến hành phiên âm, dịch nghĩa, giới thiệu để bạn đọc tham khảo.
Phiên âm:
Phụng thiên thừa thiên vận Hòng đế chế viết: Nho thần kiệt tiết, khoa danh vô phụ ư sinh tiền
Vương giả hiển trung, sủng mệnh hữu gia ư thận hậu.
Cốc thời đản hiệp, chi bột tái ban.
Tự Nhĩ Cố Thị độc, lĩnh Nam định tỉnh Án sát sứ Hồ Bá Ôn(2).
Nghệ phố danh lưu, Hoan châu vọng phiệt.
Hương lân quỳnh uyển, Ất khoa tính tự chi đề;
Nhĩ phụng đức âm, Đông bích đồ thư chi tuyển.
Đương Nam thành chi trận niết, phương quan lợi khí ư thác bàn;
Nại Tây nhân chí trách ngôn, vọng khởi binh đoan ư cai điếm.
Dĩ thư sinh nhi thảo tặc, nghĩa phân thủ thổ chi ưu;
Giai võ tướng dĩ thân tiên khí tác đồng bào chi dũng.
Huy qua kích cổ, chiến âm vĩ tuyệt ư viện phù;
Phi trích phong tiền, hạc trận nga kinh ư thùy thúy.
Y nan được mệnh, bại diệc vinh danh!
Dữ thành câu vong, ẩm hận nhi một!
Tùng bách chi tiết bất thụ lệnh u hàn sương.
Ba cổn chi bao dĩ sái âm ư u nhưỡng!
Tư trước truy thụ Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ,
Gia tặng Quang lộc tự khanh, tích chi cáo mệnh.
Dĩ chương nghi phách, dĩ hạ tiềm quang.
Ô hô thì:
Bách luyện chi cang trường thượng tương chiếu thử;
Thiên thu chi thanh hãn tùng thử lưu phương!
Tinh sảng hữu tri, Thừa hưu vô địch!
Khâm tai!
Tự Đức tam thập lục niên, ngũ nguyệt, so thất nhật.
Dịch nghĩa:
Vâng mệnh trời, theo vận nước, Hoàng đế ban lời chế rằng:
Kẻ trung thần tiết tháo lớn, khoa danh không phụ lúc sinh thời:
Bậc vương giả yêu tôi trung, sủng ái càng tăng khi đã khuất.
Nay vừa đúng dịp(3) ban tặng lời khen:
Nghĩ như khanh Hồ Bá Ôn, Hàn lâm Thị độc, lĩnh chức án sát tỉnh Nam Định.
Giống dòng xứ Nghệ, thế phiệt châu Hoan.
Vườn quỳnh thơm ngát, họ tên khoa Ất(4) từng ghi.
Đức độ vang xa, chức việc đồ thư(5) đã chọn.
Khi thành Nam gặp cơn nguy biến(6), tìm người sắc bén ra tay,
Lúc giặc Tây(7) quở trách đưa lời, lập thế binh đao chống chọi.
Phận thư sinh đứng lên dẹp giặc, lo toan giữ đất nước nhà.
Cùng võ tướng xông xáo liều thân, dũng khí nức lòng đồng đội!
Múa gươm, gióng trống, luôn tay thúc động quân dân
Đạn réo tên bay, giữa trận kinh hoàng rơi ngọc
Thuốc khôn chữa được mệnh, thua vẫn thơm danh!
Người cùng mất với thành, ôm hận mà thác!
Tùng bách vững khí tiết không theo mệnh lệnh của gió sương.
Triều đình ban lời khen, sưởi ấm hồn thiêng nơi âm thế!
Vậy nên: Truy phong Hàn lâm việc Thị giảng học sĩ tặng thêm Quang lộc tự khanh, gửi người cáo mệnh.
Để nêu khí phách lớn, để rõ tia sáng ngầm!
Ô hô! Thương thay!
Lòng gang thép trăm lần tôi luyện, rọi sáng từ đây!
Trang sử xanh nghìn thuở còn ghi, lưu thơm mãi mãi!
Khôn thiêng có biết?
An giấc ngàn thu!
Kính vậy thay!
Ngày mồng 7 tháng 5, năm Tự Đức thứ ba mươi sáu (1883).
(Thanh Đạm dịch)
---
Chú thích:
(1) Vừa đúng dịp: quân dân ta thắng, giết chết tên chỉ huy Rivie ở chiến trường Cầu Giấy.
(2) Khoa Ất: tức khoa thi Ất Hợi (1875) năm Hồ Bá Ôn đỗ Phó Bảng.
3) Đồ thư: bản đồ và thư tịch.
4) Thành Nam: đây chỉ thành Nam Định.
(5) Giặc Tây: chỉ thực dân Pháp.
(Biên tập: Phạm Duy Trưởng)