NGUYỄN BÁ HỌC (1857 - 1921)

Nhà văn Nguyễn Bá Học (1857 - 1921)

Nhà văn Nguyễn Bá Học (1857 - 1921)

Nguyễn Bá Học, người xã Giáp Nhất, huyện Thanh Trì (Hà Đông), tinh thông Hán học, chuyển qua Tân học, làm giáo học ở Sơn Tây và Nam Định, sau khi về hưu, chuyển việc trú thuật. Cũng như Phạm Duy Tốn, ông là một trong những người Bắc đầu tiên viết truyện ngắn bằng quốc ngữ. Có hai truyện được chú ý hơn là “Cô chiêu nhì” và “Câu chuyện một tối của người Tân hôn”. Ông viết với mục đích bảo vệ đạo đức, luân lý cũ, nhất là luân lý gia đình, nhưng qua đó cũng phản ánh được một số nét hiện thực của xã hội; bệnh cờ bạc chơi bời ở người đàn ông (Câu chuyện gia đình), tính sa hoa, lười biếng, đến nỗi rơi vào cảnh trụy lạc bần cùng ở những người phụ nữ “con nhà” (Cô chiêu nhì), đặc biệt ông đã ghi được vài nét đơn sơ về cảnh làm việc khổ cực của thợ thuyền nhà máy sợi Nam Định trong “Câu chuyện một tối của người Tân hôn”.
CÂU CHUYỆN MỘT TỐI CỦA NGƯỜI
TÂN  HÔN
 
Người bạn tôi ở góa đã sáu bảy năm, tuổi ngót bốn mươi mới tục lấy một người con gái. Hôm sau, lấy tình thân mật, tôi cười mà hỏi: “Đêm qua, cái quang cảnh Tân hôn(1) thế nào?” - Bạn tôi nét mặt tần ngần, có ý cảm thương, tôi coi lấy làm lạ.
Hồi lâu bạn tôi thở dài mà nói: “Tôi không muốn giấu bác chuyện này. Người Tân nhân(2) tôi cũng là con em một nhà tai mắt, về sau sa sút mới phải đi làm thuê trong nhà máy sợi gọi là “con gái nhà máy”, với nhà tôi từ xưa vốn là nhà thế nghị (3). Xa cách nhau đã hơn mười năm lại được sum họp một nhà, bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa, tưởng cái ý vị đoàn viên hôm ấy càng đằm thắm là phải. So mà trong lúc đứng ngồi lui tới Tân nhân cứ thời thời (4) giấu một tay tả, như có sự gì bí mật, không có thể để cho ai biết mà tiết lộ ra ngoài. Tôi lấy làm nghi, cầm lấy tay mà hỏi. Tân nhân càng hoảng hốt thốt thố (5), cứ dựa mình vào vách. Thừa lúc vô ý, tôi kéo tay ra mà xem, thì thấy bàn tay chỉ còn có ba ngón. Tân  nhân tinh thần thê thảm, nói thật là vì máy kẹp phải tay, nhân kể nguyên ủy thậm tường (6), vừa cho đến sáng. Thương ôi, người Tân nhân tôi khổ thật, mà thiên hạ trầm luân trong khổ cảnh ấy biết là bao nhiêu!
Tôi nghe chuyện càng cảm càng thương, dù cớ là chuyện không may riêng của một người, mà cũng là cái dấu thương tâm chung cho đồng loại. Nhân thuật lời Tân nhân  nói như sau này:
“Than ôi! Cải khổ cảnh của thiếp sao nỡ để cho chàng nghe; song thiếp cũng không dám giấu chàng mà không nói. Trong mấy năm nay, trên thờ mẹ già, dưới nuôi cháu mồ côi, một thân thiếp vừa làm con gái vừa làm con dâu; ngày ngày còn phải đi làm thuê làm mướn để hồ khẩu (7) một ngày, ngày không được ngồi, đêm không được ngủ, dù người sắt cũng phải đau lòng. Hồi tưởng những ngày cha anh tôi còn, đang như cây ngọc đầy sân, hạt châu trên án, nào ngờ bao lâu vật đổi sao dời, nay đã thành ra cảnh mộng.
“Sau khi cha tôi đã mất, liền bị mấy lần tàn phá, mẹ tôi đem chúng tôi về làng Cổ Sự, là nơi mẫu quán(8). Anh tôi đi dạy học làng xa, cũng mất ở đó. Chị dâu tôi ở nhà, nhân sản nạn (9) mà chết, để lại cho mẹ tôi một chút con thơ; sự bất hạnh trong gia đình tôi đến thế là cực.
“Bấy giờ tôi mới có mười bảy tuổi, mẹ tôi đã ngoại 50 tuổi, bình thời tinh thần linh mẫn, như người ba bốn mươi. Mới hai năm, khóc con khóc dâu mà tóc đã bạc hồ hết, mắt càng lòa, tay càng run như người bảy tám mươi tuổi. Thiếp đã lo gia biến, lại thương mẹ già, cũng muốn chia cay sẻ đắng, lấy chữ cần che chữ chuyết (10) để mẹ con nương náu qua thời. Tiếc thay, từ xưa, cha tôi làm quan, không tập cho chúng tôi theo đường thực nghiệp (11), chỉ tưởng những nỗi một người đội ân vua, cả nhà ăn lộc nước; lấy phấn sức làm thanh cao, cho doanh sinh (12) là trục mát, để cho con em tập thói kiêu sa (13), đem thân biếng nhác, chỉ xu hướng về sự phù hoa, không có thể suy ra thực dụng. Đến bây giờ trí vụng tài kém, cơ hàn thiết thân, còn giữ sao cho được phong thể (14).
“Sau tôi đến nhà một bà láng giềng, kể cảnh ngộ cho bà nghe, và xin bà bày tỏ cho tôi một lối đi làm mướn. Bà nói: “Đã lâu nay, trong vùng này, có còn nghề gì là làm ăn được. Tự khi có máy sợi, máy dệt thì bao nhiêu khung cửi guồng sợi đều gác lên xà nhà; từ khi có máy rượu máy xay, thời khó nhọc nhất là nghề đâm xay nuôi lợn, cũng không làm cho đủ mà ăn được. May thêu vá mướn là nghề của con gái nhà nghèo, mà từ khi có máy khâu, thời còn ai hỏi đến đường kim mũi chỉ nữa. Tội nghiệp thay! Làm thân con gái, gặp buổi nghèo nàn như các con ngày nay, trừ một cách bán cái sỉ nhục (15) đi mà kiếm ăn thời không còn phương kế gì là tự cứu được. Nay có một lối là vào làm công trong nhà máy, suốt ngày dùng hết sức, hai tay mắt cũng chỉ đủ cung một cái dạ dày. Còn đến điều nguy biến xảy ra nguy hiểm trong việc làm, thực chưa có pháp luật nào bảo hộ bênh vực cho kẻ khổ công cả”.
“Tôi nghe nói lại càng ngao ngán, trong thích lý (16) không có cha chú nào tí hộ (17), ngoài xóm làng lại cũng gặp buổi gian nan. Thôi! Đã sinh làm một đời dân vô cốc (18), còn tránh sao cho khỏi kiếp lầm than; thà chịu một thân mình nắng dãi mưa dầu, còn hơn ngồi mà trông thấy một nhà đói rét. Tôi xin bà dẫn lối cho tôi vào nhà máy sợi.
“Bà đưa ngay tôi đến một người con gái. Người cai cũng nói cho nghe về các chương trình về công việc làm trong nhà máy. Công nhất mỗi ngày là 25 xu, công nhì 20 xu, công ba 17 xu, còn con gái mới vào làm việc chưa quen, công ăn mỗi ngày 14 xu, lâu lâu sẽ lên hạng nhì, hạng nhất. Chỉ giờ làm việc có điều hơi ngặt, mỗi ngày phải làm từ 15 giờ, từ sáu giờ sáng cho đến 9 giờ tối, trừ cho có nửa giờ ăn. Ai đến làm trễ giờ thì phải phạt.
“Nghĩ mà ngán thay! Thân giá (19) một người khổ công hèn hạ đến thế là cực: cả ngày lao động, tổn phí bao nhiêu là tinh lực, mà một giờ không đáng được một xu. Cũng là việc có ít, người thời nhiều, cho nên người ta thắt buộc người mình, bói rẻ còn hơn là ngồi rồi. Tưởng những thuở cha anh mình đang đắc ý, cứ tập thói xa xỉ, huy hoắc (20) tiền như đất bùn; nghĩ đâu nông nỗi con em phải đi làm thuê làm mướn cho người ta, cực khổ không bằng thân trâu ngựa. Hôm sau, tôi dậy từ lúc 4 giờ sáng, thổi cơm cho mẹ và cháu ăn rồi, 5 giờ tôi tự làng ra đi, vừa đến sáu giờ thì vào làm nhà máy. Việc làm ở máy con (xé cúi thành sợi) cũng giản dị, chỉ phải đứng, không được ngồi.
“Các chú đốc công trong nhà máy lại là những người Hoa kiều, các chú ngôn ngữ bất đồng, chỉ nghe những tiếng si sô, tiếng roi vọt đánh mắng người ta mà mình đã khiếp. Tính các chú sạch sẽ, thấy người ta ăn mặc rách rưới cũng ghét; tính các chú mạnh mẽ, thấy người ta yếu đuối cũng ghét; hễ một lời không hiểu là chửi mắng theo ngay; hễ một bước sai lầm là roi vọt theo liền. Tội nghiệp thay! Cũng vì nhà mình nghèo, nên thân mình yếu; vì thân mình yếu cho nên người mình hèn. Ôi! Các chú ăn của ta, ở đất ta, sao nỡ ngược đãi người ta. Đối với nhân đạo thời các chú có phụ với lương tâm, song cứ lẽ tự nhiên, thời thực là mình có điều tự thủ (21)
“Cơ cực nữa là cái lúc ăn. Người đem cơm cho con gái cứ phải đứng chực ngoài hàng rào, chờ các chú gọi từng tên như điểm số tù, cho ra nhận lấy cơm, vào ngồi bên chỗ làm mà ăn. Còn hàng quà, hàng nước đi lại đi qua đều phải phạt.
“Từ khi tôi vào làm trong nhà máy, không còn được trông thấy mặt trời. Từ 4 giờ sáng, còi nhà máy gọi lần thứ nhất, tôi trở dậy mà nấu ăn, đến 5 giờ, còi gọi lần thứ hai, tôi bắt đầu ra đi, đến 6 giờ đến nơi vào làm, lại cho đến 9 giờ tối ra về, 10 giờ đến nhà, dọn dẹp cho đến 12 giờ thì đi ngủ.
“Nghe nói các nước văn minh trên thế giới, đều có hạn chế giờ làm giờ nghỉ cho những kẻ khổ công, có đâu ép uổng người ta làm quá sức mình, mất cả đạo dưỡng sinh (22) đến như thế!
“Tính các chú lại hay cợt nhợt, thấy con gái sạch sẽ hay thương yêu, khi ra bẹo má khi vào nắm tay, con gái nhà máy là cái quà của các chú. Chị nào vô ý chống cự lại thì các chú nói với ông chủ phải đuổi, mất việc làm ngay. Bấy giờ tôi mới hiểu lời bà láng giềng nói “Bán cái sỉ nhục đi mà kiếm ăn” là vì thế.
“Một hôm trước ngày phát tiền công, theo lệ, tôi đang lau cái máy chỗ mình làm cho sạch sẽ, thấy một chú nhăn nhở đi lại, tôi đã sợ, đứng nép vào một bên. Bỗng chốc thấy có tay ai mó vào mình tôi, giật mình tôi ngã xô ngay vào cái máy đang chạy. Nghe một tiếng “soẹt”, thấy máu ở thay tóe ra, đau buốt lên tận óc, tôi kêu lên một tiếng thời liền ngã ra, không còn biết gì nữa.
“Đang bàng hoàng sợ hãi, thân hình tiều tụy, cứ đi vơ vẩn bên đường, không biết đâu là làng, không biết đâu là nhà. Chợt thấy những lũ đông người, kẻ thời đang chen chen chúc chúc trong đám chèo hát, kẻ thì đang cười cười nói nói trong cuộc tỉnh say, tôi lại gần mà trông thời là những người có quen biết với cha anh tôi khi trước cả, là những người trong họ ngoài làng với chúng tôi cả. Tôi cứ kêu cứ gọi mà không có một người nào ngoảnh lại nhìn tôi. Cũng có người đúng lại mà hỏi, thấy con nhà khốn khó cũng ra ý ngậm ngùi, rồi có bọn khác lại kéo lại lôi, thời lại xô tôi ngã xuống một bên đường mà đi mất.
“Nhớ ngày nào cha tôi còn sống, với những người này vốn là đồng chí, hay luận bàn những việc tiến hóa cho quốc dân; nào là khai trương thương điếm (23), nào là lập công xưởng, nào là chấn hưng thổ hóa (24), nào là bảo thủ lợi quyền; rút cục đến bây giờ vẫn để con em mình chết mòn sống tủi dưới những tay chuyên lợi, tay cường quyền; thậm chí điên nguy không ai cứu ai, thân cô (25) cũng không ai nhìn ai, những bọn này chẳng qua là mượn hai chữ “đồng bào” để làm cái mặt nạ xu thời phụ thế. Tôi càng kêu càng khóc, họ hàng làm thinh, thành ra một lũ vừa câm vừa điếc.
“Tôi đương thiêm thiếp, nghe thấy tiếng gọi văng vẳng bên tai, bừng mở mắt, thấy mẹ tôi đang đứng một bên, năn nỉ mà nói: “Mẹ đây, con có biết không, con? Mẹ nghe tin con phải máy kẹp mất tay, người ta đưa con vào nhà thương từ trưa đến nay, mẹ lật đật đến đây, con có biết không, con?” Tôi mới bàng hoàng tỉnh lại, thấy mình đã mất hẳn hai ngón tay. “Mẹ ôi! Mười mấy đồng xu, con đã bán rẻ cái mệnh con, may mà con còn trông thấy mẹ đây, biết bao giờ trả cái tủi nhục này cho được!”.
“Tôi phải ở lại nhà thương hai tuần lễ nữa, bình phục rồi lại về nhà, không còn đi làm con gái máy sợi nữa.
“Ngay chàng cho băng nhân (26) lại hỏi chính là ngay mẹ tôi đang phải chứng đau tức kịch lắm. Mẹ tôi cứ bối rối mà nhận lời. Tôi nghe nói thất kinh rụng rời, vì mẹ đang đau, cháu còn dại, chưa biết ỷ thác vào đâu. Nghĩ mình thiếp đã vô đức vô tài, lại mang lấy tiếng tàn tật vào thân, dù trượng phu có đức bao dung, song tự mình cũng lấy làm hổ thẹn lắm. Mẹ tôi gạt nước mắt mà nói: “Mẹ nay đã già, con cũng đã lớn, trước sau sao cũng phải về nhà người; dữ kỳ mẹ con tạm luẩn quẩn với nhau mà cùng khốn, sao bằng gởi thân vào nơi có đức để phòng khi hoãn cấp mà dựa nương. Vả mẹ nay bệnh ngày một nặng, biết có nay, nào biết có mai, mong cho con được yên vợ yên chồng thì mẹ có nhắm mắt dưới cửu toàn cho đành dạ”. Tôi nghe bấy nhiêu điều, không còn muốn cưỡng lời mẹ tôi nữa. Than ôi! Sự mình càng nói càng đau, dẫu người đá cũng sa châu nghìn hàng. Trời đã rạng đông, xin chàng đi nghỉ…”
Nam Phong số 46-1921[1]


[1] (1). Tân  hôn: đêm đầu tiên mới cưới vợ về nhà
(2). Tân  nhân: ở đây có nghĩa là người vợ mới cưới
(3). Thế nghị: quen biết lâu đời.
(4). Thời thời: luôn luôn
(5). Thất thố: mất thăng bằng, mất bình tĩnh.
(6). Nguyên ủy: có nghĩa như chữ nguyên do. Thậm tường: rất rõ
(7). Hồ khẩu: kiếm ăn
(8). Mẫu quán: quê mẹ
(9). Sản nạn: tai nạn trong khi sinh đẻ
(10). Chuyết: dốt, vụng về
(11). Thực nghiệp: ở đây có nghĩa là làm văn thực sự
(12). Doanh sinh: kinh doanh để sinh sống
(13). Kiêu sa: kiêu ngạo, sa hoa
(14). Phong thể: phong cách, thể diện
(15). Sỉ nhục: ở đây có nghĩa là biết thẹn, biết nhục
(16). Thích lý: xóm làng có bà con mình ở
(17). Tí hộ: giúp đỡ
(18). Vô cốc: không biết kêu với ai
(19). Thân giá: giá trị của thân mình
(20). Huy hoắc: ở đây có nghĩa là tiêu pha vùng vẫy
(21). Tự thủ: ở đây có nghĩa là tự mình gây ra cho mình
(22). Đạo dưỡng sinh: ở đây có nghĩa là bồi dưỡng sinh mạng của mình. Trang tử có bài Dưỡng sinh thiên nói rằng mình yếu đuối chết sớm vì không biết bồi dưỡng thân  mình.
(23). Khai thương điếm: mở hiệu buôn
(24). Thổ hóa: có nghĩa như chữ thổ sản, tức là sản vật địa phương
(25). Thân cố: ở chữ thân bằng cố hữu, nghĩa là bạn bầu thân thiết.
(26). Băng nhân: người làm mối.