Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

Trần Văn Giáp (1902-1973)

VỀ BẢN DỊCH VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ CỦA TRẦN VĂN GIÁP

Cho đến nay, đã có mấy bản dịch Vân đài loại ngữ được công bố(1), trong đó, bản dịch của Trần Văn Giáp được lưu hành phổ biến hơn cả. Gần 30 năm nay, bản dịch này đã có đóng góp lớn trong việc truyền đạt những giá trị nhiều mặt trong tác phẩm ưu tú của Lê Quý Đôn. Tuy nhiên, để bản dịch được hoàn thiện hơn, cũng cần duyệt xét lại từ các mặt giám định văn bản và dịch thuật của nó. Thời gian gần đây, ở nước ngoài đã có người nghiên cứu Vân đài loại ngữ, khảo sát lại bản dịch của Trần Văn Giáp và đã phát hiện một số vấn đề có ý nghĩa khoa học(2). Bài viết này nêu một số vấn đề tồn tại của bản dịch, nhằm kịp thời đính chính một số chỗ dịch chưa ổn, góp phần chỉnh lý bộ sách quí này.

TIẾN SĨ NGUYỄN NGỌC NHUẬN Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1999 - 2004)

LÝ TỬ TẤN VÀ VĂN BẢN

Lý Tử Tấn nhà văn, tác giả yêu nước nửa đầu thế kỷ XV, nguyên tên là Tấn, tự là Tử Tấn, về sau lấy tự làm tên, thành tên Lý Tử Tấn, hiệu Chuyết Am, người làng Triều Đông, huyện Thượng Phúc, nay thuộc xã Tân Minh, huyện Thường Tín, Hà Nội. Ông đỗ Thái học sinh năm Canh Thìn (1400) đời Hồ Quý Ly. Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh ông đến hành tại yết kiến Lê Lợi, được nhà vua khen là người học rộng, cho giữ việc văn thư. Ông làm quan đến Hàn lâm ở Kinh diên trải các triều vua Lê Thái Tông, Nhân Tông(1)...

Chuông Thanh Mai đang được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử

VĂN BẢN CHUÔNG THANH MAI THẾ KỶ XVIII

Chuông Thanh Mai được phát hiện vào đầu tháng tư năm 1986 trong trường hợp nhân dân đào đất làm gạch ở bãi Rồng (ven sông Đáy) thuộc xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là Hà Nội). Trong bài này chúng tôi miêu tả và phân tích đôi nét về văn bản khắc trên chuông; đồng thời dịch nghĩa và công bố toàn bộ văn bản nhằm cung cấp thêm tư liệu để các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu thêm nhiều mặt về một giai đoạn lịch sử mà tới nay tài liệu còn quá ít ỏi.

Trịnh Khả là công thần khai quốc nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam

GIA PHẢ DÒNG HỌ TRỊNH KHẢ

Trong dịp đi công tác ở huyện Từ Liêm, Hà Nội, chúng tôi có tìm được cuốn gia phả dòng họ Trịnh(1), trong đó nói khá chi tiết về tiểu sử của Trịnh Khả, một nhân vật đã đến với Lê Lợi từ những ngày đầu dựng cờ tụ nghĩa cho đến khi kháng chiến thắng lợi. Cuốn gia phả không chỉ hệ thống hóa về gia tộc nội ngoại dòng họ Trịnh từ Trịnh Khả về sau, mà còn là một sưu tập của những tư liệu như văn bia, sắc phong, thơ, câu đối có giá trị.

Hình minh họa

NGUYỄN CHẾ NGHĨA - TÁC GIẢ ĐỜI TRẦN

Nguyễn Chế Nghĩa là một nhân vật lịch sử mà chúng ta biết đến còn rất ít. Về ông, chúng ta mới biết đôi điều sơ sài rằng ông “người xã Hội Xuyên (còn có tên là Cối Xuyên) huyện Gia Lộc, nay thuộc tỉnh Hải Hưng. Ông là một danh tướng đời Trần, lập nhiều công trong lần chống quân Nguyên năm 1288. Cuối năm 1287, có tin quân Nguyên sắp sang đánh nước ta, ông thân đến hành dinh của Trần Hưng Đạo để xin được đi dẹp giặc. Hưng Đạo thử tài, rất vừa lòng, khen rằng: Người này chẳng kém gì Phạm Ngũ Lão, ta lại được thêm một tướng tài.

Hình minh họa

NGHỀ IN CỦA TA QUA KHO SÁCH HÁN NÔM

Nghề in của ta có từ khá sớm. Có thuyết cho rằng, đất Luy Lâu xưa là một trung tâm Phật giáo lớn, suốt từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 3(1) đã khắc in kinh Phật. Có thể đây là nơi in sách sớm nhất trong lịch sử ngành in nước ta. Sau này các thời Lý Trần đều nói đến việc in sách. Nhưng do sự phũ phàng của thời tiết, khí hậu, sự hủy hoại của chiến tranh, sự tàn phá có ý thức của các thế lực xâm lược, sách in ở nước ta bị mất mát nhiều. Hiện nay (trong kho sách Viện Hán Nôm chỉ còn giữ được các bản in từ đời Lê trở lại. Một số bản in của vài cơ sở in ra đời sớm và có tuổi thọ khá lâu như phương in Hồng Liễu 211 tuổi (1683 - 1904), Đa Bảo 216 tuổi (1665 - 1881), Vĩnh Khánh 157 tuổi (1750 -1907), Quốc Tử Giám 89 tuổi (1820 - 1909), Liễu Văn Đường 91 tuổi (1834 - 1925)(2)…

(hình minh họa)

KIỂU NGẮT CÂU VÀ HIỂU Ý TRONG VĂN BẢN CỔ

Đối với công việc phiên dịch và chú giải những văn bản cổ viết bằng chữ Hán thì ngắt câu và hiểu ý câu là một cửa ải không ít chông gai. Người xưa, trong “mười năm đèn sách” đã tốn bao tinh lực cho cái học “tiểu học” mà một nội dung không nhỏ của nó là phép ngắt câu (cú đậu) và tìm ý. Các lớp người phiên dịch và chú giải văn bản cổ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về mặt này, để những dịch phẩm được công bố ngày càng đáng tin cậy hơn, đi tới hoàn thiện hơn. Dưới đây, chúng tôi cũng xin góp một chút “tư liệu”, mong đính chính đôi chỗ “mỹ trung bất túc” trong một số văn bản dịch.

Bìa sách "Binh thư yếu lược phụ Hổ trướng khu cơ"

NGUỒN GỐC VÀ NĂM XUẤT HIỆN CỦA VĂN BẢN "BINH THƯ YẾU LƯỢC"

Văn bản Binh thư yếu lược (viết tắt: BTYL) chúng tôi nói đến trong bài này là bộ sách chữ Hán chép tay gồm 4 quyển đóng làm 2 tập, cộng 410 tờ (26x15cm, ký hiệu A.476/1-2 lưu tàng từ trước ở Thư viện Viện Viễn Đông Bác cổ, hiện nay do Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý, sách này là bản chính của một dịch phẩm do Nxb. KHXH xuất bản tại Hà Nội vào các năm 1970 và 1977(1). Ở Sài Gòn cũng có bản dịch BTYL do Nhà Khai Trí xuất bản(2).

Tượng đài Trần Quốc Tuấn ở Nam Định; ảnh: Phạm Duy Trưởng

BẢN DỊCH HỊCH TƯỚNG SĨ HIỆN HÀNH

Cũng như hầu hết các tác phẩm khác ở thời Lý Trần, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn được viết bằng chữ Hán. Nhiều người đã dịch ra tiếng Việt như Trần Trọng Kim, Phan Kế Bính, Ngô Tất Tố…. Bản dịch hiện hành do ông Bùi Văn Nguyên dịch trên cơ sở tham khảo các bản dịch của ba ông trên.

BÀI THƠ "CHU CÔNG PHỤ THÀNH VƯƠNG ĐỒ" CỦA NGUYỄN TRÃI

BÀI THƠ "CHU CÔNG PHỤ THÀNH VƯƠNG ĐỒ" CỦA NGUYỄN TRÃI

Câu chuyện Chu Công giúp Thành Vương vẫn được các sử gia phong kiến coi như một mẫu mực về những gì mà người bề tôi trung thành có thể làm được khi nhận di chiếu giúp đỡ vua nhờ giữ yên giang sơn xã tắc. Là em ruột của Vũ Vương, Chu Công ra sức giúp anh đánh Trụ. Dẹp loạn xong, ông ta không trở về đất phong, tự nguyện ở lại bên cạnh anh. Khi Vũ Vương ốm nặng, ông khẩn cầu tổ tiên trời đất xin được chết thay cho anh. Vũ Vương chết, ông nắm quyền trị nước giúp cháu là Thành Vương còn nhỏ tuổi. Khi có lời dèm, ông lánh ra Đông Đa, làm thơ trao cho Thành Vương.

Bản đồ Hoàng thành Thăng Long thời Hồng Đức (1490)

BỘ BẢN ĐỒ HỒNG ĐỨC QUA TẤM BẢN ĐỒ KINH THÀNH THĂNG LONG

Bản đồ Hồng Đức là bộ bản đồ địa lí đầu tiên của nước ta. Bộ bản đồ được thực hiện từ năm Quang Thuận thứ 8 (1467)(1) theo chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), được hoàn tất và ban hành vào năm Hồng Đức thứ 21 (1490)(2). Bộ bản đồ phản ánh phạm vi cương giới, hệ thống hành chính nước Đại Việt vào nửa cuối thế kỷ 15. Bộ bản đồ gồm: bản đồ nước Đại Việt, bản đồ kinh thành Thăng Long, bản đồ 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh thời đó được gọi là thừa tuyên.

Nhà nghiên cứu Đinh Công Vĩ

THƯ TỊCH CỦA LÊ QUÍ ĐÔN

Tình hình thư tịch nước ta thế kỷ 18 đã được nhà sử học Phan Huy Chú đánh giá là “chế tác đầy đủ, kỹ càng, văn hiến đứng đầu cả Trung châu, điền chương rộng cả thời đại”(1). Là nhà bác học đương thời, Lê Quí Đôn một mặt bằng những sáng tác của mình, góp phần làm giầu kho tài sản tinh thần dân tộc; mặt khác, bằng chính những công trình có tính chất sưu tầm, chỉnh lý thư tịch, đã tổng kết một cách đầy tài năng toàn bộ kho di sản tinh thần của dân tộc 5.7 thế kỷ trước đó. Những đóng góp nổi bật của ông gồm có: Việc hoàn thành bản thư mục tổng quát nhất, tập hợp những tên sách Hán, sách Nôm sưu tập được từ trước cho đến bấy giờ; việc sưu tầm những thư tịch dùng cho bộ bách khoa thư tịch về văn học, lịch sử chính trị, triết học... và những phương pháp khoa học để tiến hành chỉnh lý thư tịch như biện nguỵ, hiệu khám huấn hỗ...

Tháp Phổ Minh

CHỮ HUÝ ĐỜI TRẦN

Trong các văn bản Hán Nôm, chữ huý là những chữ vì lí do kiêng tên của vua chúa, các vị thần, của người thân trong gia tộc... mà người viết, theo quy định hoặc tự nguyện, đã phải viết biến dạng để trống hoặc thay đổi hẳn đi. Cả quần thể chữ húy họp lại tạo thành một hệ thống những biệt lệ của chữ viết. Người nghiên cứu cần nắm được những biệt lệ đó để đọc văn bản, từ đó nhân ra những biến động về văn bản do việc kiêng huý gây ra. Mặt khác, các chữ huý gắn với những nguyên nhân ra đời và tồn tại của nó, cho nên có thể dùng nó như những chiếc “chìa khoá” để giám định niên đại cho văn bản.

Tác giả của bản đối chiếu: Phạm Duy Trưởng

BẢNG ĐỐI CHIẾU TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC

Trên phần mềm của Bách khoa toàn thư mở tiếng Việt (Wikipedia). "Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc" được ông Phạm Duy Trưởng lập ra để mọi người tiện tra cứu. (Xem bản gốc ở trang thành viên Phuongcacanh trên wikipedia)

SÁCH HÁN NÔM Ở NƯỚC NGOÀI

SÁCH HÁN NÔM Ở NƯỚC NGOÀI

Sách Hán Nôm của ta, những thư tịch và tài liệu bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm chủ yếu do người nước ta soạn thảo từ 1945 trở về trước, vì nhiều nguyên nhân phức tạp, một bộ phận đã tản lạc ra nước ngoài. Nguyện vọng chung của giới nghiên cứu Hán Nôm trong nước cũng như ngoài nước là làm sao để toàn bộ số sách Hán Nôm này sớm quy về một mối, vì lợi ích khoa học.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa

TIẾNG VIỆT NGÀY CÀNG MẤT CHUẨN

Đại đa số ca sĩ Việt thể hiện ca khúc “Để gió cuốn đi” của Trịnh Công Sơn bằng những âm thanh ghê rợn "Xống chong đời xống cần có một tấm lòng". Trong tiếng Việt, từ "xống" là tên gọi của loại "quần không đáy người ta hãi hùng" của đàn bà thời xưa, vậy mà họ không ngần ngại tuôn ra từ mồm rồi nhét vào tai thính giả. Thật là lố bịch khi nhạc sĩ Huy Tuấn, giám khảo cuộc thi "Tìm kiếm tài năng", trong buổi tối 23-12-2012, đã cố tình vẹo mồm, uốn lưỡi ra vẻ khổ sở nhại lại từ "rõ ràng" sau khi một thí sinh phát âm chuẩn từ này trong câu trả lời "chim cu gáy rõ ràng hơn chim bồ câu".

TƯ LIỆU VỀ NINH TỐN

TƯ LIỆU VỀ NINH TỐN

Ninh Tốn xuất thân trong một gia đình khoa bảng, ông nội và cha đều thi đỗ Hương cống và từng làm quan trong Viện hàn lâm dưới triều Lê Trịnh. Đặc biệt, người bác ruột là Ninh Địch thì đỗ Hoàng giáp, làm quan đến Đông Các Đại học sĩ. Bản thân Ninh Tốn cũng thi đỗ Hội Nguyên Tiến sĩ, và làm quan trong triều. Có thể nói rằng dòng họ Ninh ở Côi Trì này đã chịu ân dày của triều đình phong kiến Lê Trịnh. Thế nhưng cũng giống như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Võ Huy Tấn và những trí thức tiến bộ khác, Ninh Tốn đã vượt ra cái khuôn khổ "ngu trung" để đứng hẳn về hàng ngũ của phong trào Tây Sơn và đóng góp một phần sức lực xứng đáng vào công cuộc dựng nước và giữ nước do người "anh hùng áo vải" Quang Trung lãnh đạo. Vừa qua, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội mới cho ra mắt tập Thơ văn Ninh Tốn, tuyển chọn và giới thiệu 108 bài thơ văn tiêu biểu của Ninh Tốn. Tập sách này cũng giới thiệu khá đầy đủ về thân thế và sự nghiệp của nhà thơ. Để giúp bạn đọc có thêm tư liệu tìm hiểu và đánh giá đúng về tác phẩm và con người Ninh Tốn, chúng tôi xin giới thiệu thêm một số tư liệu có liên quan đến ông mà trong cuốn Thơ văn Ninh Tốn chưa có dịp đề cập đến.

An Đô Vương Trịnh Cương

THỜI ĐIỂM RA ĐỜI VÀ TÁC GIẢ CỦA SÁCH LÊ TRIỀU NGỰ CHẾ QUỐC ÂM THI

Lê Triều ngự chế Quốc âm thi là một tập thơ Nôm có giá trị. Tác phẩm này đã được ông Nguyễn Văn Tố giới thiệu trên báo Tri tân số 134 - 135, qua bài viết nhan đề Thơ vịnh sử thời Hồng Đức.

NGÔ THÌ NHẬM - NHÂN CHÚ THÍCH Ở MỘT BÀI THƠ CỔ

NGÔ THÌ NHẬM - NHÂN CHÚ THÍCH Ở MỘT BÀI THƠ CỔ

Bài "Khế Chương Đức" như là một chứng tích ghi nhận tâm hồn trong sáng, hoài bão giúp dân, ý thức trách nhiệm và bản chất năng động, lạc quan của người trí thức chân chính này trong hoàn cảnh đau buồn khó khăn nhất.

LÊ QUÍ DẬT SỬ

LÊ QUÍ DẬT SỬ

Xã hội phong kiến Việt Nam cuối thời Lê - Trịnh đã xẩy ra nhiều biến động lịch sử. Trong kho tàng thư tịch Hán Nôm, chúng ta còn giữ được nhiều sách sử ghi chép về giai đoạn này. Ngoài các bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Phần Tục biên, hay Việt sử thông giám cương mục, còn có loại dã sử (sách sử do tư nhân chép như Lịch triều tạp kỷ (Ngô Quang Lãng), Lê Quý Kỷ sự (Nguyễn Thu) Vấn Lê di sử (Nguyễn Quốc Ninh); Hậu Lê dã lục; Hậu Lê thời sự kỷ lược; Lê quý dật sử... mỗi tác phẩm đều có nét đặc trưng và giá trị riêng. Nhiều tác phẩm đã được xuất bản như Lịch triều tạp kỷ Lê quý kỷ sự. Trong bài viết này, chúng tôi muốn bàn về vấn đề tác giả và giá trị sử.

MỘT SỐ CHỮ TRONG TRUYỆN KIỀU NÔM

MỘT SỐ CHỮ TRONG TRUYỆN KIỀU NÔM

Truyện Kiều là một kiệt tác văn học, cũng là một trong những tác phẩm cổ điển tồn tại nhiều vấn đề văn bản phức tạp nhất. Theo một thống kê được công bố(1) thì trong các bản “Truyện Kiều” đã ấn hành có tới gần 1.200 chỗ dị đồng. Những dị đồng này, có trường hợp là cả một đoạn dài, có khi là trọn một câu, nhiều hơn là những từ, những chữ do nhiều nguyên nhân khác nhau. Khôi phục lại bộ mặt vốn có của tác phẩm, hiệu đính được một văn bản gần nguyên tác nhất, đó là yêu cầu đối với công tác văn bản học Truyện Kiều. Để đạt tới mục đích đó, một việc soát xét lại những câu chữ còn “có vấn đề” trong Truyện Kiều có lẽ cũng là điều bổ ích:

ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNG VÀ THƠ MỚI

ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNG VÀ THƠ MỚI

1. Ảnh hưởng của Đường Thi đối với Thơ Mới là một vấn đề từ lâu đã được đề cập tới. Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam mặc dù dành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng cuả thơ Pháp (đặc biệt là trường phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một hứng thú đặc biệt về ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ Mới (điều này được bộc lộ qua công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượng trang viết). Khi phân chia các dòng mạch Thơ Mới, Hoài Thanh - Hoài Chân nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cách Việt, đồng thời cũng nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường Thi.

Chiến thắng Kỷ Dậu - 1789 (tranh sơn dầu của Vân Lương)

VÀI NÉT VỀ BỘ SỬ CỦA VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN

Một đóng góp to lớn của vương triều Tây Sơn cho kho tàng văn hóa của dân tộc là việc vương triều này cho ra đời một tác phẩm sử học tầm cỡ có giá trị: Đó là bộ Đại Việt sử ký tiền biên.

Sách Gia Huấn Ca

AI VIẾT GIA HUẤN CA?

Từ lâu, nhiều người đã chú ý tới vấn đề tác giả của Gia huấn ca. Bản in xưa nhất của tác phẩm này hiện còn được biết là chữ Quốc ngữ, in năm 1894(1). Bản in bằng chữ Nôm sớm nhất còn giữ được xuất hiện sau đó hơn 10 năm, vào 1907(2).

Hát vọng cổ ở Cần Thơ

BÀN VỀ XUẤT XỨ VÀ Ý NGHĨA CỦA TỪ "VỌNG CỔ"

Từ Vọng cổ có xuất xứ tại Bạc Liêu và được sử dụng từ tháng 08 năm ất Hợi (1935) do lời đề nghị của soạn giả Trịnh Thiên Tư.

NÉT "VĂN" KHUÊ VĂN CÁC

NÉT "VĂN" KHUÊ VĂN CÁC

Theo Kinh dịch, những con số lẻ (1,3,5,7,9) thuộc về dương, biểu hiện sự sinh sôi nảy nở và phát triển. Khuê Văn Các có 8 mái là bát quái, có thêm một nóc ở trên là 9. Số 9 là cửu trù, số cực dương. “Khuê Văn” theo cách lý giải truyền thống về thiên thể thì Khuê là tên một ngôi sao trong chòm 28 sao sắp xếp giống hình chữ Văn (của chữ Hán). Trong sách Hiếu kinh có ghi: “Khuê chủ văn chương”- tức Khuê tượng trưng cho Văn Chương. Về sau người ta còn coi “Khuê” là người đứng đầu của quan văn.

TỪ PHÚ TRUNG QUỐC ĐẾN PHÚ VIỆT NAM

TỪ PHÚ TRUNG QUỐC ĐẾN PHÚ VIỆT NAM

Phú là một thể tài văn học xuất hiện tương đối sớm ở Trung Quốc. Ngay từ những thế kỷ trước công nguyên, nó đã trở thành một phương tiện biểu đạt quan trọng không thể thiếu trong đời sống tình cảm của người Trung Quốc. Từ cái nôi văn hóa này, phú đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nền văn học khác, trong đó đặc biệt phải kể đến Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên. ở bài viết này, chúng tôi chủ yếu bàn về sự ảnh hưởng của phú học Trung Quốc đến phú học Việt Nam.

TÁC GIẢ NGUYỄN HUY QUÝNH VÀ MƯỜI BÀI THƠ HỌA THẬP CẢNH QUAN LAN SÀO

TÁC GIẢ NGUYỄN HUY QUÝNH VÀ MƯỜI BÀI THƠ HỌA THẬP CẢNH QUAN LAN SÀO

Nguyễn Huy Quýnh, còn có tên là Trị, hiệu Phùng Hiên và Duy Nham, biệt hiệu Dần Phong, sinh năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức thứ 3 (1734), mất năm Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785).

NHỮNG BÀI TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

NHỮNG BÀI TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Sử gia Lê Tung trong sách Việt giám thông khảo tổng luận có bàn rằng: “Có trời đất rồi mới có muôn vật, có muôn vật rồi mới có đạo vợ chồng, có đạo vợ chồng rồi sau mới có đạo cha con, có đạo cha con rồi sau mới có đạo vua tôi. Cho nên đạo cương thường của con người cũng từ đó mà ra và từ chỗ có đạo cương thường của con người mới dựng đặt ra đạo vua tôi để dựng xây đất nước vậy”.


Other

  Previous page  1 2 3 4 5 6 7 8  Next page
 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc