Home » Tin tức » Nghiên cứu, trao đổi

(hình minh họa)

KIỂU NGẮT CÂU VÀ HIỂU Ý TRONG VĂN BẢN CỔ

Đối với công việc phiên dịch và chú giải những văn bản cổ viết bằng chữ Hán thì ngắt câu và hiểu ý câu là một cửa ải không ít chông gai. Người xưa, trong “mười năm đèn sách” đã tốn bao tinh lực cho cái học “tiểu học” mà một nội dung không nhỏ của nó là phép ngắt câu (cú đậu) và tìm ý. Các lớp người phiên dịch và chú giải văn bản cổ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về mặt này, để những dịch phẩm được công bố ngày càng đáng tin cậy hơn, đi tới hoàn thiện hơn. Dưới đây, chúng tôi cũng xin góp một chút “tư liệu”, mong đính chính đôi chỗ “mỹ trung bất túc” trong một số văn bản dịch.

Bìa sách "Binh thư yếu lược phụ Hổ trướng khu cơ"

NGUỒN GỐC VÀ NĂM XUẤT HIỆN CỦA VĂN BẢN "BINH THƯ YẾU LƯỢC"

Văn bản Binh thư yếu lược (viết tắt: BTYL) chúng tôi nói đến trong bài này là bộ sách chữ Hán chép tay gồm 4 quyển đóng làm 2 tập, cộng 410 tờ (26x15cm, ký hiệu A.476/1-2 lưu tàng từ trước ở Thư viện Viện Viễn Đông Bác cổ, hiện nay do Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý, sách này là bản chính của một dịch phẩm do Nxb. KHXH xuất bản tại Hà Nội vào các năm 1970 và 1977(1). Ở Sài Gòn cũng có bản dịch BTYL do Nhà Khai Trí xuất bản(2).

Tượng đài Trần Quốc Tuấn ở Nam Định; ảnh: Phạm Duy Trưởng

BẢN DỊCH HỊCH TƯỚNG SĨ HIỆN HÀNH

Cũng như hầu hết các tác phẩm khác ở thời Lý Trần, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn được viết bằng chữ Hán. Nhiều người đã dịch ra tiếng Việt như Trần Trọng Kim, Phan Kế Bính, Ngô Tất Tố…. Bản dịch hiện hành do ông Bùi Văn Nguyên dịch trên cơ sở tham khảo các bản dịch của ba ông trên.

BÀI THƠ "CHU CÔNG PHỤ THÀNH VƯƠNG ĐỒ" CỦA NGUYỄN TRÃI

BÀI THƠ "CHU CÔNG PHỤ THÀNH VƯƠNG ĐỒ" CỦA NGUYỄN TRÃI

Câu chuyện Chu Công giúp Thành Vương vẫn được các sử gia phong kiến coi như một mẫu mực về những gì mà người bề tôi trung thành có thể làm được khi nhận di chiếu giúp đỡ vua nhờ giữ yên giang sơn xã tắc. Là em ruột của Vũ Vương, Chu Công ra sức giúp anh đánh Trụ. Dẹp loạn xong, ông ta không trở về đất phong, tự nguyện ở lại bên cạnh anh. Khi Vũ Vương ốm nặng, ông khẩn cầu tổ tiên trời đất xin được chết thay cho anh. Vũ Vương chết, ông nắm quyền trị nước giúp cháu là Thành Vương còn nhỏ tuổi. Khi có lời dèm, ông lánh ra Đông Đa, làm thơ trao cho Thành Vương.

Bản đồ Hoàng thành Thăng Long thời Hồng Đức (1490)

BỘ BẢN ĐỒ HỒNG ĐỨC QUA TẤM BẢN ĐỒ KINH THÀNH THĂNG LONG

Bản đồ Hồng Đức là bộ bản đồ địa lí đầu tiên của nước ta. Bộ bản đồ được thực hiện từ năm Quang Thuận thứ 8 (1467)(1) theo chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), được hoàn tất và ban hành vào năm Hồng Đức thứ 21 (1490)(2). Bộ bản đồ phản ánh phạm vi cương giới, hệ thống hành chính nước Đại Việt vào nửa cuối thế kỷ 15. Bộ bản đồ gồm: bản đồ nước Đại Việt, bản đồ kinh thành Thăng Long, bản đồ 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh thời đó được gọi là thừa tuyên.

Nhà nghiên cứu Đinh Công Vĩ

THƯ TỊCH CỦA LÊ QUÍ ĐÔN

Tình hình thư tịch nước ta thế kỷ 18 đã được nhà sử học Phan Huy Chú đánh giá là “chế tác đầy đủ, kỹ càng, văn hiến đứng đầu cả Trung châu, điền chương rộng cả thời đại”(1). Là nhà bác học đương thời, Lê Quí Đôn một mặt bằng những sáng tác của mình, góp phần làm giầu kho tài sản tinh thần dân tộc; mặt khác, bằng chính những công trình có tính chất sưu tầm, chỉnh lý thư tịch, đã tổng kết một cách đầy tài năng toàn bộ kho di sản tinh thần của dân tộc 5.7 thế kỷ trước đó. Những đóng góp nổi bật của ông gồm có: Việc hoàn thành bản thư mục tổng quát nhất, tập hợp những tên sách Hán, sách Nôm sưu tập được từ trước cho đến bấy giờ; việc sưu tầm những thư tịch dùng cho bộ bách khoa thư tịch về văn học, lịch sử chính trị, triết học... và những phương pháp khoa học để tiến hành chỉnh lý thư tịch như biện nguỵ, hiệu khám huấn hỗ...

Tháp Phổ Minh

CHỮ HUÝ ĐỜI TRẦN

Trong các văn bản Hán Nôm, chữ huý là những chữ vì lí do kiêng tên của vua chúa, các vị thần, của người thân trong gia tộc... mà người viết, theo quy định hoặc tự nguyện, đã phải viết biến dạng để trống hoặc thay đổi hẳn đi. Cả quần thể chữ húy họp lại tạo thành một hệ thống những biệt lệ của chữ viết. Người nghiên cứu cần nắm được những biệt lệ đó để đọc văn bản, từ đó nhân ra những biến động về văn bản do việc kiêng huý gây ra. Mặt khác, các chữ huý gắn với những nguyên nhân ra đời và tồn tại của nó, cho nên có thể dùng nó như những chiếc “chìa khoá” để giám định niên đại cho văn bản.

Tác giả của bản đối chiếu: Phạm Duy Trưởng

BẢNG ĐỐI CHIẾU TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC

Trên phần mềm của Bách khoa toàn thư mở tiếng Việt (Wikipedia). "Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc" được ông Phạm Duy Trưởng lập ra để mọi người tiện tra cứu. (Xem bản gốc ở trang thành viên Phuongcacanh trên wikipedia)

SÁCH HÁN NÔM Ở NƯỚC NGOÀI

SÁCH HÁN NÔM Ở NƯỚC NGOÀI

Sách Hán Nôm của ta, những thư tịch và tài liệu bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm chủ yếu do người nước ta soạn thảo từ 1945 trở về trước, vì nhiều nguyên nhân phức tạp, một bộ phận đã tản lạc ra nước ngoài. Nguyện vọng chung của giới nghiên cứu Hán Nôm trong nước cũng như ngoài nước là làm sao để toàn bộ số sách Hán Nôm này sớm quy về một mối, vì lợi ích khoa học.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa

TIẾNG VIỆT NGÀY CÀNG MẤT CHUẨN

Đại đa số ca sĩ Việt thể hiện ca khúc “Để gió cuốn đi” của Trịnh Công Sơn bằng những âm thanh ghê rợn "Xống chong đời xống cần có một tấm lòng". Trong tiếng Việt, từ "xống" là tên gọi của loại "quần không đáy người ta hãi hùng" của đàn bà thời xưa, vậy mà họ không ngần ngại tuôn ra từ mồm rồi nhét vào tai thính giả. Thật là lố bịch khi nhạc sĩ Huy Tuấn, giám khảo cuộc thi "Tìm kiếm tài năng", trong buổi tối 23-12-2012, đã cố tình vẹo mồm, uốn lưỡi ra vẻ khổ sở nhại lại từ "rõ ràng" sau khi một thí sinh phát âm chuẩn từ này trong câu trả lời "chim cu gáy rõ ràng hơn chim bồ câu".

TƯ LIỆU VỀ NINH TỐN

TƯ LIỆU VỀ NINH TỐN

Ninh Tốn xuất thân trong một gia đình khoa bảng, ông nội và cha đều thi đỗ Hương cống và từng làm quan trong Viện hàn lâm dưới triều Lê Trịnh. Đặc biệt, người bác ruột là Ninh Địch thì đỗ Hoàng giáp, làm quan đến Đông Các Đại học sĩ. Bản thân Ninh Tốn cũng thi đỗ Hội Nguyên Tiến sĩ, và làm quan trong triều. Có thể nói rằng dòng họ Ninh ở Côi Trì này đã chịu ân dày của triều đình phong kiến Lê Trịnh. Thế nhưng cũng giống như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Võ Huy Tấn và những trí thức tiến bộ khác, Ninh Tốn đã vượt ra cái khuôn khổ "ngu trung" để đứng hẳn về hàng ngũ của phong trào Tây Sơn và đóng góp một phần sức lực xứng đáng vào công cuộc dựng nước và giữ nước do người "anh hùng áo vải" Quang Trung lãnh đạo. Vừa qua, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội mới cho ra mắt tập Thơ văn Ninh Tốn, tuyển chọn và giới thiệu 108 bài thơ văn tiêu biểu của Ninh Tốn. Tập sách này cũng giới thiệu khá đầy đủ về thân thế và sự nghiệp của nhà thơ. Để giúp bạn đọc có thêm tư liệu tìm hiểu và đánh giá đúng về tác phẩm và con người Ninh Tốn, chúng tôi xin giới thiệu thêm một số tư liệu có liên quan đến ông mà trong cuốn Thơ văn Ninh Tốn chưa có dịp đề cập đến.

An Đô Vương Trịnh Cương

THỜI ĐIỂM RA ĐỜI VÀ TÁC GIẢ CỦA SÁCH LÊ TRIỀU NGỰ CHẾ QUỐC ÂM THI

Lê Triều ngự chế Quốc âm thi là một tập thơ Nôm có giá trị. Tác phẩm này đã được ông Nguyễn Văn Tố giới thiệu trên báo Tri tân số 134 - 135, qua bài viết nhan đề Thơ vịnh sử thời Hồng Đức.

NGÔ THÌ NHẬM - NHÂN CHÚ THÍCH Ở MỘT BÀI THƠ CỔ

NGÔ THÌ NHẬM - NHÂN CHÚ THÍCH Ở MỘT BÀI THƠ CỔ

Bài "Khế Chương Đức" như là một chứng tích ghi nhận tâm hồn trong sáng, hoài bão giúp dân, ý thức trách nhiệm và bản chất năng động, lạc quan của người trí thức chân chính này trong hoàn cảnh đau buồn khó khăn nhất.

LÊ QUÍ DẬT SỬ

LÊ QUÍ DẬT SỬ

Xã hội phong kiến Việt Nam cuối thời Lê - Trịnh đã xẩy ra nhiều biến động lịch sử. Trong kho tàng thư tịch Hán Nôm, chúng ta còn giữ được nhiều sách sử ghi chép về giai đoạn này. Ngoài các bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Phần Tục biên, hay Việt sử thông giám cương mục, còn có loại dã sử (sách sử do tư nhân chép như Lịch triều tạp kỷ (Ngô Quang Lãng), Lê Quý Kỷ sự (Nguyễn Thu) Vấn Lê di sử (Nguyễn Quốc Ninh); Hậu Lê dã lục; Hậu Lê thời sự kỷ lược; Lê quý dật sử... mỗi tác phẩm đều có nét đặc trưng và giá trị riêng. Nhiều tác phẩm đã được xuất bản như Lịch triều tạp kỷ Lê quý kỷ sự. Trong bài viết này, chúng tôi muốn bàn về vấn đề tác giả và giá trị sử.

MỘT SỐ CHỮ TRONG TRUYỆN KIỀU NÔM

MỘT SỐ CHỮ TRONG TRUYỆN KIỀU NÔM

Truyện Kiều là một kiệt tác văn học, cũng là một trong những tác phẩm cổ điển tồn tại nhiều vấn đề văn bản phức tạp nhất. Theo một thống kê được công bố(1) thì trong các bản “Truyện Kiều” đã ấn hành có tới gần 1.200 chỗ dị đồng. Những dị đồng này, có trường hợp là cả một đoạn dài, có khi là trọn một câu, nhiều hơn là những từ, những chữ do nhiều nguyên nhân khác nhau. Khôi phục lại bộ mặt vốn có của tác phẩm, hiệu đính được một văn bản gần nguyên tác nhất, đó là yêu cầu đối với công tác văn bản học Truyện Kiều. Để đạt tới mục đích đó, một việc soát xét lại những câu chữ còn “có vấn đề” trong Truyện Kiều có lẽ cũng là điều bổ ích:

ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNG VÀ THƠ MỚI

ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNG VÀ THƠ MỚI

1. Ảnh hưởng của Đường Thi đối với Thơ Mới là một vấn đề từ lâu đã được đề cập tới. Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam mặc dù dành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng cuả thơ Pháp (đặc biệt là trường phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một hứng thú đặc biệt về ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ Mới (điều này được bộc lộ qua công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượng trang viết). Khi phân chia các dòng mạch Thơ Mới, Hoài Thanh - Hoài Chân nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cách Việt, đồng thời cũng nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường Thi.

Chiến thắng Kỷ Dậu - 1789 (tranh sơn dầu của Vân Lương)

VÀI NÉT VỀ BỘ SỬ CỦA VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN

Một đóng góp to lớn của vương triều Tây Sơn cho kho tàng văn hóa của dân tộc là việc vương triều này cho ra đời một tác phẩm sử học tầm cỡ có giá trị: Đó là bộ Đại Việt sử ký tiền biên.

Sách Gia Huấn Ca

AI VIẾT GIA HUẤN CA?

Từ lâu, nhiều người đã chú ý tới vấn đề tác giả của Gia huấn ca. Bản in xưa nhất của tác phẩm này hiện còn được biết là chữ Quốc ngữ, in năm 1894(1). Bản in bằng chữ Nôm sớm nhất còn giữ được xuất hiện sau đó hơn 10 năm, vào 1907(2).

Hát vọng cổ ở Cần Thơ

BÀN VỀ XUẤT XỨ VÀ Ý NGHĨA CỦA TỪ "VỌNG CỔ"

Từ Vọng cổ có xuất xứ tại Bạc Liêu và được sử dụng từ tháng 08 năm ất Hợi (1935) do lời đề nghị của soạn giả Trịnh Thiên Tư.

NÉT "VĂN" KHUÊ VĂN CÁC

NÉT "VĂN" KHUÊ VĂN CÁC

Theo Kinh dịch, những con số lẻ (1,3,5,7,9) thuộc về dương, biểu hiện sự sinh sôi nảy nở và phát triển. Khuê Văn Các có 8 mái là bát quái, có thêm một nóc ở trên là 9. Số 9 là cửu trù, số cực dương. “Khuê Văn” theo cách lý giải truyền thống về thiên thể thì Khuê là tên một ngôi sao trong chòm 28 sao sắp xếp giống hình chữ Văn (của chữ Hán). Trong sách Hiếu kinh có ghi: “Khuê chủ văn chương”- tức Khuê tượng trưng cho Văn Chương. Về sau người ta còn coi “Khuê” là người đứng đầu của quan văn.

TỪ PHÚ TRUNG QUỐC ĐẾN PHÚ VIỆT NAM

TỪ PHÚ TRUNG QUỐC ĐẾN PHÚ VIỆT NAM

Phú là một thể tài văn học xuất hiện tương đối sớm ở Trung Quốc. Ngay từ những thế kỷ trước công nguyên, nó đã trở thành một phương tiện biểu đạt quan trọng không thể thiếu trong đời sống tình cảm của người Trung Quốc. Từ cái nôi văn hóa này, phú đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nền văn học khác, trong đó đặc biệt phải kể đến Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên. ở bài viết này, chúng tôi chủ yếu bàn về sự ảnh hưởng của phú học Trung Quốc đến phú học Việt Nam.

TÁC GIẢ NGUYỄN HUY QUÝNH VÀ MƯỜI BÀI THƠ HỌA THẬP CẢNH QUAN LAN SÀO

TÁC GIẢ NGUYỄN HUY QUÝNH VÀ MƯỜI BÀI THƠ HỌA THẬP CẢNH QUAN LAN SÀO

Nguyễn Huy Quýnh, còn có tên là Trị, hiệu Phùng Hiên và Duy Nham, biệt hiệu Dần Phong, sinh năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức thứ 3 (1734), mất năm Ất Tị niên hiệu Cảnh Hưng 46 (1785).

NHỮNG BÀI TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

NHỮNG BÀI TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Sử gia Lê Tung trong sách Việt giám thông khảo tổng luận có bàn rằng: “Có trời đất rồi mới có muôn vật, có muôn vật rồi mới có đạo vợ chồng, có đạo vợ chồng rồi sau mới có đạo cha con, có đạo cha con rồi sau mới có đạo vua tôi. Cho nên đạo cương thường của con người cũng từ đó mà ra và từ chỗ có đạo cương thường của con người mới dựng đặt ra đạo vua tôi để dựng xây đất nước vậy”.

CHỮ NHO VỚI NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM

CHỮ NHO VỚI NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM

Những người Việt Nam tuổi dưới 60 tuyệt đại bộ phận đều mù chữ Nho vì đã lâu lắm rồi, trường phổ thông không còn dạy chữ Nho cho học sinh nữa. Điều đó đương để lại một khoảng trống đáng sợ.

BÀI THƠ CỦA VUA LÊ HIẾN TÔNG ĐỀ NÚI CHIẾU BẠCH

BÀI THƠ CỦA VUA LÊ HIẾN TÔNG ĐỀ NÚI CHIẾU BẠCH

Trong cuốn: Lê Thánh Tông thơ văn và cuộc đời, do Mai Xuân Hải tuyển chọn và biên soạn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Hà Nội ấn hành năm 1998, có giới thiệu bài thơ, Núi Chiếu Bạch (Đề Chiếu Bạch sơn thi tịnh tự) của vua Lê Thánh Tông, làm vào năm Hồng Đức thứ 2 (1471). Đọc lời đề dẫn bài thơ này của Lê Thánh Tông, lâu nay chúng ta cứ tưởng rằng thơ được khắc trên vách núi?

BIỂU HAY TẤU?

BIỂU HAY TẤU?

Thông qua những bài văn chính luận còn để lại, thiên tài của danh nhân Nguyễn Trãi không chỉ thể hiện ở những tư tưởng thấm đượm đạo lý nhân nghĩa, tinh thần yêu nước sâu sắc, khả năng lập luận chặt chẽ mà còn cho thấy ở ông có một khả năng hiểu biết sâu sắc về các thể văn, để tùy từng trường hợp sử dụng nhằm phục vụ cho các mục đích được đặt ra ở các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giành lại độc lập chủ quyền quốc gia hồi đầu thế kỉ XV.

CÚC THU BÁCH VỊNH -TẬP THƠ XƯỚNG HỌA GIỮA PHAN HUY ÍCH VÀ NGÔ THÌ NHẬM

CÚC THU BÁCH VỊNH -TẬP THƠ XƯỚNG HỌA GIỮA PHAN HUY ÍCH VÀ NGÔ THÌ NHẬM

Trong sự nghiệp sáng tác của Tình Phái hầu Ngô Thì Nhậm và Thụy Nham hầu Phan Huy ích có một tập thơ do hai ông cùng xướng họa chung trong tết Trùng dương tháng 9 năm 1796; đó là tập Cúc thu bách vịnh (菊 秋 百 詠), tập thơ mang ký hiệu A.1664 tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ngoài cái tên Cúc thu bách vịnh ra, tập thơ còn có các dị bản khác, mang những tên khác như Cúc đường bách vịnh (菊 堂 百 詠), Cúc thu thi trận (菊 秋 詩 陣), và tới 7 dị bản nằm trong bộ Ngô gia văn phái (吳 家 文 派)(1), một bộ sách nổi tiếng của dòng họ Ngô ở Tả Thanh Oai, Hà Đông (nay thuộc huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội).

TRỊNH CƯƠNG VỚI KHÚC CA GHI VIỆC ĐI TUẦN TỈNH

TRỊNH CƯƠNG VỚI KHÚC CA GHI VIỆC ĐI TUẦN TỈNH

Trịnh Cương ( 1686 – 1729) là chúa thứ sáu dưới thời Lê - Trịnh Ông là người đi nhiều biết nhiều. Bước chân của ông đã in dấu trên các miền đất nước: miền đất Lã Côi, vùng Kinh Sơn, Quyển Sơn, vùng đất Cổ Bồng, Kẽm Trống, đất Dậu Cao, Phao Sơn, Đại Lã, đất Tử Dương, Kiện Khê... Ông cũng đã thăm khá nhiều chùa, như chùa Phả Lại, chùa Nhạn Tháp, chùa Phúc Long, chùa Nguyệt Đường, chùa Quỳnh Lâm, chùa Non Đồng... thăm núi Yên Tử, núi Dục Thúy, hang Các Cứ... Tất cả các địa danh này đều được ghi lại trong tập Lê triều ngự chế quốc âm thi.

CÂU ĐỐI CHƠI CHỮ THEO CÁCH TÁCH GHÉP, CHUYỂN HÓA CHỮ HÁN

CÂU ĐỐI CHƠI CHỮ THEO CÁCH TÁCH GHÉP, CHUYỂN HÓA CHỮ HÁN

Câu đối chơi chữ theo cách tách ghép, chuyển hóa chữ Hán được trình bày ở đây, là câu đối trong văn chương của người Việt, được sách vở ghi chép lại. Bài viết nhằm tập hợp một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống vấn đề, để giúp bạn đọc thưởng lãm. Theo một kết quả nghiên cứu mới đây của người viết, thì phương thức chơi chữ liên quan đến chữ Hán, gồm có các hình thức sau: tách ghép chữ Hán, chuyển hóa chữ Hán, đố chữ Hán, sấm kí có liên quan đến chữ Hán, đọc nhầm chữ Hán, và viết rút gọn tác phẩm theo tự dạng Hán và đồ hình. Hai hình thức đầu được câu đối sử dụng nhiều và có không ít câu sắc sảo (hai hình thức đầu này, bên cạnh câu đối, thơ, ca dao,... cũng dùng, nhưng không phong phú, thú vị bằng; còn các hình thức sau, rất ít liên quan đến câu đối).

ÔNG CỬ PHẠM XUÂN HÒA VÀ NHỮNG VẦN THƠ ĐỂ LẠI

ÔNG CỬ PHẠM XUÂN HÒA VÀ NHỮNG VẦN THƠ ĐỂ LẠI

Thời đó để động viên khuyến khích con em trong xã học hành, làng Vũ Lăng có treo một giải thưởng ba mẫu ruộng công điền, dành để tặng cho người nào thi đậu Cử nhân Hán học đầu tiên của làng. Giải thưởng lớn cả về mặt tinh thần và vật chất, chứng tỏ các cụ ta xưa nay coi trọng việc học hành đến chừng nào, và cũng phải đánh giá theo thời điểm đó mới thấy thực hiện việc này khó khăn chừng nào.


Other

  Previous page  1 2 3 4 5 6 7 8  Next page
 

LỜI NGỎ

Website đang trong quá trình thử nghiệm, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên. Mọi ý kiến đóng góp của quý vị xin gửi về: vannghesontay@gmail.com; hoặc gọi theo số: 0904930188 

quỹ
Thông báo tên miền trang Văn nghệ Sơn Tây
Bảng đối chiếu triều đại Việt Nam và triều đại Trung Quốc